Cửa sổ - Những bộ mặt - Thời gian

10:04 05/06/2008
LTS: Robert Creeley sinh năm 1926, có một cuộc đời nhiều biến động. Hai lần bỏ học đại học giữa chừng, hai lần ly hôn, hai lần sang làm việc ở các nước thế giới thứ ba (năm 1944 lái xe cứu thương trong lực lượng American Field Service ở Ấn Độ và Miến Điện.

 1959 - 1961 dạy học trong một đồn điền cà phê ở Guatemala), từng sống ở Pháp và Tây Ban Nha. Ông là người sáng lập tạp chí văn chương Black Mountain Review năm 1954 khi dạy học tại Black Mountain College (bang North Carolina), dạy ở nhiều trường đại học và cao đẳng Mỹ và Canada, từ 1966 là giáo sư trường Đại học Tiểu bang New York ở Buffalo.
Thơ Creeley thường ngắn, vẻ khiêm nhường, và mang tính tình cờ, tiềm - lý trí hay siêu-lý trí. Ông cho rằng "viết là một cơ hội được ban phát cho người viết hơn là do người viết yêu cầu”. Ông từ chối vần và câu thơ có số âm tiết đều đặn truyền thống, để triển khai tiết tấu riêng của mình.
 Với khoảng 60 tập thơ đã xuất bản, R.Creeley là một nhà thơ có ảnh hưởng lớn trong thơ Mỹ đương đại.

 



Cửa sổ

Vị trí là nơi anh
đặt nó, nơi nó hiện hữu.
anh đã đặt, chẳng hạn, cái

bể chứa lớn ở đó, ánh bạc,
với ngôi nhà thờ màu trắng sát
cạnh nhau, nhấc lên

tất cả, để làm
gì, Nặng
bao nhiêu cái thế giới
chậm chạp, với
mọi thứ đặt
đúng chỗ. Người

nào đó bộ hành qua, một
chiếc xe hơi bên ông trên
con đường

mất hút, một chiếc lá
vàng sắp

rụng. Tất cả
rơi vào đúng
chỗ. Mặt

tôi nặng nề
vì ngắm nhìn. Tôi cảm
thấy mắt mình đang vỡ.
1967



Những bộ mặt

Những bộ mặt với tuổi thanh xuân đến sớm
tìm tòi trong các nhận dạng
thông thường, quan toà hay người bán hàng,
hàng xóm, kẻ đã giết người,

chỉ có nghĩa khi chúng báo hiệu
thế giới đang trượt, thời gian chẳng bao giờ
được quan tâm tích tụ, sự thật là
chẳng gì có nghĩa trừ cái người ta

có thể hiểu được, một thú vui nào đó thoáng qua,
lệch lạc, một nỗi đau mênh mang
trong đậm đặc, vụng trộm nhưng
da diết một khao khát vượt qua

tất cả, hãy lãnh đạm, hãy đi xa, xa
hẳn, mãi mãi tránh xa cô gái
nhà bên, mà nụ cười vỡ ra, nhăn nhúm
sẽ vẫn còn dai dẳng, vẫn còn biết anh.
1983

Thời gian

Phải bao lâu cho những bông hoa vàng nho nhỏ
bồng bềnh vượt lên từ luống cỏ,
dường như nhẫn nại ở chốn này..

Ta đã tìm thấy gì trong mọi thứ ta nhìn
cho mọi điều ta nghĩ..
nhưng không thể đợi chờ,
không thể đợi.

Buổi xế trưa, một thời, bập bềnh
quanh đầu ta, một con thuyền ta bập bềnh trên đó,
ngồi trên đó, đã ngồi đó, vẫn còn nhẩm lại.

Ta dường như chiếc máy hát méo tiếng, cái máy quay phim lầm chỗ,
chiếc hộp bỏ quên, cuốn sách không đọc,
tờ giấy gội mưa hay con mèo đi mãi không về.

Chẳng ở đâu ta tìm thấy nó bây giờ hay thậm chí
ổn định giữa những dữ liệu, do thế dễ chịu cho lý trí
cuộc bàn bạc này về một trường hợp, sự thực này không mặt mũi

HOÀNG HƯNG chuyển ngữ

ROBERT CREELEY
(nguồn: TCSH số 154 - 12 - 2001)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • JEZIBELl - RM.SHANMUGAM CHETTIAR

  • L.T.S: Cùng với Blok, Mai-a-cốp-xki, Ê-xê-nhin, Pa-xter-nak... Ma-ri-na Xvê-ta-ê-va (Marina Tsvetaeva 1892 - 1941) là một trong những nhà thơ Nga - Xô Viết lớn nhất của thế kỷ XX. Đường đời của bà là con đường đầy gian truân của một trí thức phải khắc phục nhiều lầm lỗi để đến với chân lý cách mạng. Một trái tim nồng cháy tình yêu Tổ quốc, dân tộc, nhưng Xvê-ta-ê-va mất gần 20 năm sau Cách mạng Tháng Mười sống lưu vong ở nước ngoài và trở về đất nước không được bao lâu thì mất.

  • OCTAVIO PAZ

    (Nobel Văn Chương 1990)

  • Eduardas Megielaitis sinh năm 1919 (đã mất 6/6/1997), Chủ tịch Hội Nhà văn  Litva (Liên Xô cũ) từ năm 1959, có tác phẩm được in từ 1934. Anh hùng lao động Liên Xô, Giải thưởng Lê-nin về văn học (năm 1961).

  • Lép Ôsanhi - Vlađimia Xôkôlôp

  • LGT: Charles Simic sinh năm 1938 tại Belgrade, Nam Tư. Năm 16 tuổi ông cùng với mẹ sang Mỹ sống với người cha ở New York City. Hiện ông là giáo sư khoa tiếng Anh ở trường Đại học New Hamsphire. Thơ Simic không dễ xếp loại. Một số bài thơ của ông có khuynh hướng siêu thực, siêu hình trong khi các bài khác là những chân dung hiện thực của bạo lực và tuyệt vọng.

  • Sam Hamill - Kevin Bowen - Martha Collins - Yusef Komunyakaa - Fred Marchant - Lady  Borton - Nguyễn Bá Chung - Bruc Weil - Carolyn Forché - Larry Heinemann - George Evans

  • F.G. Lorca: Nhà thơ Tây Ban Nha, một trong những nhà thơ lớn của thế kỷ, một chiến sĩ chống phát xít đã bị kẻ thù ám hại năm 1938, khi ông vừa tròn 40 tuổi.

  • Bạn đọc chắc hãy còn nhớ vào tháng 2 năm 2011, Tạp chí Sông Hương đón nhận sự ghé thăm của đoàn Nhà văn Nga, trong đó có nhà thơ Terekhin Vadim.

  • Jean Amrouche (1906-1962), người An-giê-ri, dạy học ở Tuy-ni-di, viết báo. Có nhiều thi phẩm in ra trước 1940. Chết trước khi An-giê-ri dành được độc lập, trong khi ông vẫn là một trong những người thành tâm và quyết liệt tìm giải pháp cho vấn đề thiết cốt này.

  • Từ nhiều thế kỷ nay, chúng ta đã quen với chuyện họa thơ Đường. Còn đây là một cuộc họa thơ bằng tiếng Tây Ban Nha. Và là một cuộc họa thơ độc đáo về Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

  • Trong một lần thăm Ang-co, tôi cùng đi với chị Khô Chan dra, một cựu sinh viên văn khoa Đại học Phnôm Pênh. Chị ở trong một gia đình trí thức công chức dưới thời Si-ha-nuc nên hầu hết những người thân đều bị Pôn Pốt sát hại.

  • L.T.S: Ma-xê-đoan (Nam Tư) là xứ sở thơ mộng của phong cảnh đẹp, của du lịch, hội hè và của thơ, là một cái nôi văn hoá cổ xưa của nhân loại, nằm trên bán đảo Ban-căng, có một cái gì gợi nên một số nét tương đồng với Huế.

  • L.T.S: “Mẹ và bom nơ-tơ-rôn” là trường ca của nhà thơ Liên Xô nổi tiếng E.Ép-tu-sen-cô. Trường ca được trao giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1984. Xin trân trọng giới thiệu một đoạn trích từ trường ca.

  • Nhà thơ nữ Ana Blandiana (sinh năm 1942) hiện là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học hiện đại Ru-ma-ni.

  • Paul Henry là một trong những nhà thơ hàng đầu xứ Wales. Được cố thi sĩ Ursula Askham Fanthorpe diễn tả như “một nhà thơ của nhà thơ”, kết hợp “cảm xúc nhạc của những con chữ với sự tưởng tượng sáng tạo không ngừng nghỉ”, ông đến với thơ qua việc viết lời ca.

  • PI-MEN PAN-TREN-CƠNhững vật dụng của lính

  • LTS: Bruce Weigl nhà thơ Mỹ từng là cựu chiến binh tham chiến tại Quảng Trị những năm 1967-1968. Là người chứng kiến những sự thật kinh hoàng trong chiến tranh Việt Nam, ông tìm đến với thơ ca như một sự cứu rỗi linh hồn. Năm 1987, Bruce Weigl lần đầu tiên trở lại Việt Nam và “Tôi không bao giờ tưởng tượng được người Việt Nam lại tiếp đãi mình ân cần như thế”.