Nhà thơ Paul Henry - Ảnh: TL
Tác phẩm của ông được tuyển tập rộng rãi và xuất hiện thường xuyên trên các tờ báo thơ đa dạng như New Welsh Review và The TLS. Mari d’Ingrid, bản dịch tuyển tập thứ 5 của ông, Ingrid’s Husband, mới xuất hiện trên L’Harmattan và The Brittle Sea, New & Selected Poems được xuất bản bởi Seren. Henry đã đọc thơ tại các liên hoan ở Anh, Mỹ, và Ấn độ. Ông là thành viên của Viện Hàn lâm Welsh và là một nhà phụ giảng nổi tiếng trong các lớp Viết văn, phụ trách Ledbury Festival’s Poetry Cafe ở nhà hát Hereford’s Courtyard và là người phụ giảng ở Ty Newydd, trung tâm những nhà văn của Wales. Ông thỉnh thoảng dạy ở lớp Viết văn của Đại học Glamorgan và đã biên tập Poetry Wales. Mới đây ông phụ trách chương trình Inspired nhiều kỳ về nghệ thuật cho đài BBC Wales và Do Not Expect Applause, chương trình của ông về nhà thơ Tô Cách Lan W.S. Graham, cho đài BBC 3. Dưới đây là một bài thơ của Paul Henry và phần chuyển ngữ của Khế Iêm. PAUL HENRY The Black Guitar Clearing out ten years from a wardrobe I opened its lid and saw Joe written twice in its dust, in a child’s hand, then a squiggled seagull or two. Joe, Joe a man’s tears are worth nothing, but a child’s name in the dust, or in the sand of a darkening beach, that’s a life’s work. I touched two strings, to hear how much two lives can slip out of tune then I left it, brought down the night on it, for fear, Joe of hearing your unbroken voice, or the sea if I played it. Ghi ta đen Dọn dẹp tủ quần áo sau mười năm tôi mở nắp hộp đựng đàn và thấy chữ Joe viết hai lần trong lớp bụi, bằng bàn tay trẻ con sau đó là nét tháu hình một cánh chim hải âu hoặc hai. Joe, Joe(*) nước mắt của một người đàn ông chẳng giá trị gì nhưng tên của đứa trẻ trong lớp bụi, hoặc trong cát nơi một bờ biển quá khứ, đó là tác phẩm đời. tôi chạm hai sợi dây, để nghe xem bao nhiêu hai cuộc đời có thể vuột khỏi giai điệu rồi tôi bỏ đó đóng nắp hộp đàn lại, vì sợ, Joe sợ phải nghe giọng êm đềm của mi hoặc của biển cả nếu tôi gảy nó lên. (Chuyển ngữ KHẾ IÊM) (264/2-11) --------------------- (*) Joe có thể là tên thời thơ ấu của tác giả và hai cuộc đời có lẽ là cuộc đời bây giờ và cuộc đời thuở thiếu thời. |
Muin Bseiso - Rasul Gamzatov
Vladimir Vladimirovich Nabokov (1899 -1977) là nhà văn Nga - Mỹ nổi tiếng. Ông sáng tác ở nhiều thể loại văn học khác nhau. Ông được giải thưởng Nôben văn học năm 1955. Những tiểu thuyết đặc sắc của ông là: - Quà tặng (1937), Đến nơi xử tử (1935 - 1936), Lolita (1955)…
L.T.S. "BÍ ẨN TÌNH YÊU" là tập thơ chọn lọc những bài thơ tình nổi tiếng thế giới do dịch giả Đắc Lê và nhà thơ Lữ Huy Nguyên tuyển chọn, NXB Văn Học ấn hành 1993. TCSH trân trọng giới thiệu dưới đây một số bài trích trong tập thơ đó.
Ogiwara Seisensui - Murakami Kijo - Saito Sanki - Ozaki Hosai
Tác giả Jon Fosse, người Na Uy, 64 tuổi, đạt Giải Nobel Văn học 2023 nhờ “những vở kịch và văn xuôi tân tiến, lên tiếng cho những điều không thể nói”.
Takít Vácvisiôtít - Côxtát Haridít - Côxtót Xteriôpulốt - Ghê-oóc-ghi Xê-phê-rít
BIỆN CHI LÂM
Biện Chi Lâm sinh năm 1910, quê tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Từ thuở nhỏ, ông đã có thiên hướng yêu thích thơ ca kim cổ.
MARINA TSVETAEVA
RAINER MARIA RILKE
LOUISE GLUCK
(Nobel Văn học năm 2020)
Là tác giả bốn cuốn sách viết về Việt
Mihai Eminescu (1850 - 1889) là một trong những nhà thơ lớn nhất của nước Rumani. Sống nhiều ở miền núi, nhất là thuộc hai vùng Ardeal và Moldova, ông am hiểu sâu sắc về đời sống cực khổ của người dân trong vùng cũng như toàn xã hội. Thơ Eminescu trĩu nặng tình yêu thiên nhiên, con người, thấm đượm chất văn hóa dân gian của dân tộc mình.
Louise Glück - Jaroslav Seifert - Wislawa Szymborska - Pablo Neruda - Boris Pasternak
Thi sĩ Hy Lạp, 1911 - 1996, giải Nobel Văn chương năm 1979. Nỗ lực chính của thơ ông là gạt khỏi tâm thức con người những bất công phi lý và bồi đắp các yếu tố thiên nhiên thông qua sức mạnh đạo đức, để đạt được sự minh triết cao nhất có thể có trong sự biểu đạt; và cuối cùng, là để đạt đến sự tiếp cận cõi huyền nhiệm của ánh sáng, những siêu hình của mặt trời mà ông là một “người sùng bái” - một kiểu thần tượng theo định nghĩa của riêng ông. Nghệ thuật của ông mang tính đồng hiện hướng đến kỹ thuật thi ca nhằm giới thiệu cấu trúc nội tâm, điều này thể hiện rất rõ trong nhiều bài thơ của ông.
Trần Phương Kỳ giới thiệu và dịch
LTS. Thơ ca vốn có truyền thống lâu đời. Thơ ca của các dân tộc da đen cũng mang những đặc thù ấy. Từ những nhà thơ ở xứ Akhenaton bên Ai Cập (Thế kỷ thứ 14 trước Công nguyên) cho đến Gwendolyn Brooks, Leroi Jones và những giọng thơ mạnh mẽ của các nhà thơ Mỹ đương thời, chặng đường ấy tính ra đã mấy ngàn năm.
CAROLYN FORCHÉ
LTS: Tên tuổi của Ôma Khayam, nhà thơ, nhà khoa học Ba Tư thế kỷ XI đã được bạn đọc Việt Nam biết đến và yêu thích qua tập Thơ cổ Ba Tư, NXB Văn Học ấn hành năm 1984. Thơ của ông ngang tàng, độc đáo, mãnh liệt và đầy tính triết lý sâu sắc chủ yếu tập trung vào đề tài tình yêu và rượu.
BIỆN CHI LÂM
Biện Chi Lâm卞之琳 (1910 - 2000), nhà thơ, dịch giả, nhà nghiên cứu tiêu biểu của văn học Trung Quốc hiện đại. Quê gốc Giang Tô. Bút danh thường dùng: Quý Lăng.
Nghe như cổ tích chuyện cậu bé Ali Ahmad Said Esber, con nhà nông dân vùng Al Qassabina, miền tây nước Syria: từ chỗ nhà nghèo, không được tới trường, sau có cơ hội đi học và đạt trình độ tiến sĩ; từ chỗ thuở nhỏ làm thơ gởi các báo nhưng không bài nào được đăng, sau lại là người sáng lập một tạp chí chuyên về thơ và trở thành “nhà thơ vĩ đại nhất còn sống của thế giới Ả Rập” với bút danh Adonis.
JAN WAGNER (Schriftsteller)
J. Wagner sinh ngày 18/10/1971 tại Hamburg CHLB Đức, nhà thơ, nhà văn và thông dịch viên.