Eduardas Megielaitis sinh năm 1919 (đã mất 6/6/1997), Chủ tịch Hội Nhà văn Litva (Liên Xô cũ) từ năm 1959, có tác phẩm được in từ 1934. Anh hùng lao động Liên Xô, Giải thưởng Lê-nin về văn học (năm 1961).
Nhà thơ Litva Eduardas Megielaitis - Ảnh: cand.com.vn
Ông là một trong những nhà thơ lớn nhất Liên Xô, một nhà cách tân mạnh dạn về hình thức và cách thể hiện, thường thiên về triết lý trữ tình, ở nước ta thơ của ông đã được giới thiệu rải rác trên các báo và qua tập Con người và những ngôi sao xa (Lao Động, 1983) được bạn đọc hoan nghênh. Ông không chỉ là tác giả của mấy chục tập thơ dày, mà còn của một số tập văn xuôi trữ tình và các bản dịch các tác giả cổ điển Nga ra tiếng Litva.
Lần này chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc một số bài thơ tiêu biểu của Megielaitis qua bản dịch của Thái Bá Tân.
xône
Em - ngọn lửa bốc lên từ hồ xanh,
Em khao khát muốn được thiêu anh cháy
Nhưng gió thổi, gió mùa đông lúc ấy
Đã vô tình làm em tắt; và anh
Anh chỉ giữ những gì em để lại:
Ít hoàng hôn, ít sóng biển trời chiều,
Bím tóc vàng và ánh mắt thân yêu...
Anh - hòn đá quên trên bờ hoang dại.
Em đã đi vào sóng biển êm đềm...
Bó hoa này anh hái tặng cho em,
Anh nhìn kỹ thấy hiện lên trong đó
Ít hoàng hôn và ít sợi tóc vàng
Mà lên bờ cơn sóng biển đã mang
Cho anh căng làm dây đàn đau khổ;
hạt mạch
Và lần này
Tôi bắt đầu bài thơ
Từ bình thường hạt mạch bé, đơn sơ
Đây, hạt mạch
Trên tay tôi rất nhỏ
Mà bỗng chốc thành cao to đồ sộ.
Thành quả núi
Đè rất nặng, muốn rơi
Trong tay tôi là cả một mặt trời.
Tay tôi nâng
Đại dương trong bão tố
Và trái đất của chúng ta thu nhỏ
Cái nạng đè
Rất, rất lớn trên tay,
Nên tay tôi được sưởi ấm thế này.
Đất và biển
Và mặt trời đẹp đẽ
Đã sinh ra hạt giống này nhỏ bé,
Đã sinh ra
Một vật thể giống mình
Là mặt trời, đất, biển, bình minh…
Lớn dần lên,
Hạt giống này nhỏ nhất
Có thể to bằng mặt trời , trái đất.
Nó được soi
Bằng ánh sáng cuộc đời,
Và được đưa vào quĩ đạo con người
Là trái tim
Của mặt trời bất diệt,
Hạt giống này đấu tranh cùng cái chết
THÁI BÁ TÂN dịch
(SH23/01-87)
Muin Bseiso - Rasul Gamzatov
Vladimir Vladimirovich Nabokov (1899 -1977) là nhà văn Nga - Mỹ nổi tiếng. Ông sáng tác ở nhiều thể loại văn học khác nhau. Ông được giải thưởng Nôben văn học năm 1955. Những tiểu thuyết đặc sắc của ông là: - Quà tặng (1937), Đến nơi xử tử (1935 - 1936), Lolita (1955)…
L.T.S. "BÍ ẨN TÌNH YÊU" là tập thơ chọn lọc những bài thơ tình nổi tiếng thế giới do dịch giả Đắc Lê và nhà thơ Lữ Huy Nguyên tuyển chọn, NXB Văn Học ấn hành 1993. TCSH trân trọng giới thiệu dưới đây một số bài trích trong tập thơ đó.
Ogiwara Seisensui - Murakami Kijo - Saito Sanki - Ozaki Hosai
Tác giả Jon Fosse, người Na Uy, 64 tuổi, đạt Giải Nobel Văn học 2023 nhờ “những vở kịch và văn xuôi tân tiến, lên tiếng cho những điều không thể nói”.
Takít Vácvisiôtít - Côxtát Haridít - Côxtót Xteriôpulốt - Ghê-oóc-ghi Xê-phê-rít
BIỆN CHI LÂM
Biện Chi Lâm sinh năm 1910, quê tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Từ thuở nhỏ, ông đã có thiên hướng yêu thích thơ ca kim cổ.
MARINA TSVETAEVA
RAINER MARIA RILKE
LOUISE GLUCK
(Nobel Văn học năm 2020)
Là tác giả bốn cuốn sách viết về Việt
Mihai Eminescu (1850 - 1889) là một trong những nhà thơ lớn nhất của nước Rumani. Sống nhiều ở miền núi, nhất là thuộc hai vùng Ardeal và Moldova, ông am hiểu sâu sắc về đời sống cực khổ của người dân trong vùng cũng như toàn xã hội. Thơ Eminescu trĩu nặng tình yêu thiên nhiên, con người, thấm đượm chất văn hóa dân gian của dân tộc mình.
Louise Glück - Jaroslav Seifert - Wislawa Szymborska - Pablo Neruda - Boris Pasternak
Thi sĩ Hy Lạp, 1911 - 1996, giải Nobel Văn chương năm 1979. Nỗ lực chính của thơ ông là gạt khỏi tâm thức con người những bất công phi lý và bồi đắp các yếu tố thiên nhiên thông qua sức mạnh đạo đức, để đạt được sự minh triết cao nhất có thể có trong sự biểu đạt; và cuối cùng, là để đạt đến sự tiếp cận cõi huyền nhiệm của ánh sáng, những siêu hình của mặt trời mà ông là một “người sùng bái” - một kiểu thần tượng theo định nghĩa của riêng ông. Nghệ thuật của ông mang tính đồng hiện hướng đến kỹ thuật thi ca nhằm giới thiệu cấu trúc nội tâm, điều này thể hiện rất rõ trong nhiều bài thơ của ông.
Trần Phương Kỳ giới thiệu và dịch
LTS. Thơ ca vốn có truyền thống lâu đời. Thơ ca của các dân tộc da đen cũng mang những đặc thù ấy. Từ những nhà thơ ở xứ Akhenaton bên Ai Cập (Thế kỷ thứ 14 trước Công nguyên) cho đến Gwendolyn Brooks, Leroi Jones và những giọng thơ mạnh mẽ của các nhà thơ Mỹ đương thời, chặng đường ấy tính ra đã mấy ngàn năm.
CAROLYN FORCHÉ
LTS: Tên tuổi của Ôma Khayam, nhà thơ, nhà khoa học Ba Tư thế kỷ XI đã được bạn đọc Việt Nam biết đến và yêu thích qua tập Thơ cổ Ba Tư, NXB Văn Học ấn hành năm 1984. Thơ của ông ngang tàng, độc đáo, mãnh liệt và đầy tính triết lý sâu sắc chủ yếu tập trung vào đề tài tình yêu và rượu.
BIỆN CHI LÂM
Biện Chi Lâm卞之琳 (1910 - 2000), nhà thơ, dịch giả, nhà nghiên cứu tiêu biểu của văn học Trung Quốc hiện đại. Quê gốc Giang Tô. Bút danh thường dùng: Quý Lăng.
Nghe như cổ tích chuyện cậu bé Ali Ahmad Said Esber, con nhà nông dân vùng Al Qassabina, miền tây nước Syria: từ chỗ nhà nghèo, không được tới trường, sau có cơ hội đi học và đạt trình độ tiến sĩ; từ chỗ thuở nhỏ làm thơ gởi các báo nhưng không bài nào được đăng, sau lại là người sáng lập một tạp chí chuyên về thơ và trở thành “nhà thơ vĩ đại nhất còn sống của thế giới Ả Rập” với bút danh Adonis.
JAN WAGNER (Schriftsteller)
J. Wagner sinh ngày 18/10/1971 tại Hamburg CHLB Đức, nhà thơ, nhà văn và thông dịch viên.