Trang thơ Nam Tư

16:03 21/03/2011
L.T.S: Ma-xê-đoan (Nam Tư) là xứ sở thơ mộng của phong cảnh đẹp, của du lịch, hội hè và của thơ, là một cái nôi văn hoá cổ xưa của nhân loại, nằm trên bán đảo Ban-căng, có một cái gì gợi nên một số nét tương đồng với Huế.

Nhà thơ Aco Sopov - Ảnh: cs.earlham.edu

Nền thơ ca hiện đại Ma-xê-đoan đã từ lâu được biết tiếng trong thế giới thơ, nó đã được dịch và giới thiệu qua một số ngôn ngữ Pháp, Anh, Liên Xô, Bê-lô-rút-xia… Dấu hiệu đặc trưng của nó là chất cô đặc trữ tình - nội tâm - vũ trụ tạo cho thơ một khoảng không gian lạ kỳ ngút ngàn quyến rũ của cảm xúc bao la, có một cái gì đó tiếp cận với chất thơ của E-xê-nhin, B-lốc (Liên Xô), Rit-xốt (Hy Lạp) và Loóc-ca (Tây Ban Nha). Tạp chí Sông Hương giới thiệu 3 tác giả thơ và 3 bài thơ tiêu biểu của họ dưới đây với bạn đọc yêu thơ.



A-CÔ SÔ-PỐP


Tôi tìm tiếng nói tôi


Tôi tìm tiếng nói tôi trong vẻ câm lặng của biển
và nó đây sững sờ
Tôi tìm tiếng nói tôi trong sa mạc vàng mùa thu
và nó đây xanh biếc
bàn tay tôi chẳng là bàn tay tôi
(bàn tay tôi là những ngón tay của trăng)
Đôi mắt tôi chẳng là đôi mắt tôi
(Đôi mắt tôi là đôi mắt của những chân trời)
Và ngôn từ tôi là hàm răng nghiệt ngã của thời gian
đang gia tăng trong đất với những chiếc răng của hạt giống
.



MA-TƠ-RA MA-TÉP-XKI


Chiều cao


Từ lâu chim đã bay đi
Hoa đã tàn
Cơn mưa đã dứt
Trời Mi-đi lặng yên
qua ý nghĩ mặt trời
gió dịu dàng hái
những mùi hương của núi
Một viên đá lăn chầm chậm
trong nước
và tôi thấy sau bao thế kỷ
cơn rùng mình của nó
đã đong đưa
cuộc sống xa xôi nào đó.




BLA-ZƠ KÔ-NÊ-XKI


Em bé ngủ bên hồ


Em bé ngủ, cậu bé của tôi ơi
Và hồ đã chìm trong ý nghĩ của em
chính hồ đã sửa soạn cho số phận em
Em ngủ và chính hồ
Lướt qua trong tâm hồn em tiếng vỗ không nhận ra được
như trong hồ với những hòn cuội trắng
mà mỗi hòn cuội có thể thấy được
Em ngủ
Nhưng hết sức nhẹ nhàng những gợn rung rung
và một sợi dây nối với lượn sóng âm vang
sợi dây sinh ra trong ngày nào đó và nức nở mang em đi
Hãy ngủ đi, em bé nhỏ
Chính hồ này đã tạo nên tâm hồn em
và dự phóng tương lai em mơ màng.


Bửu Nam dịch theo bản dịch tiếng Pháp của Jacques Gauchoron và Vlada Urosevic (Tạp chí Văn học Châu Âu số 588 tháng 4-1978).

-----------
Tạp chí Văn học tiến bộ và có uy tín Europe đã giới thiệu nền thơ hiện đại này với 20 nhà thơ và trên 50 bài thơ (Europe, số 588 tháng 4-1978).
1) A-cô Sô-pốp: Tác giả bài “Tôi tìm tiếng nói tôi”, sinh 1925. Ông là tác giả nhiều tập thơ rất nổi tiếng “Về nỗi khổ và niềm vui”, “Thơ về người phụ nữ đen”… và là dịch giả thơ có tiếng.
2) Ma-tơ-ra Ma-tép-xki: sinh 1929. Nhà thơ và nhà phê bình kịch. tác giả nhiều tập thơ có tiếng: “Những cơn mưa”, “Chu kỳ”… và là người dịch thơ Loóc-ca, Nê-ru-đa.
3) Bla-zơ Kô-nê-xki: sinh 1921. Nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật. Tác giả nhiều tập thơ như:
“Chiếc cầu”, “Xứ sở và tình yêu”, “Những ghi chú”… và người dịch thơ của B-lôc và Hai-ne.

(12/4-85)






Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • JEZIBELl - RM.SHANMUGAM CHETTIAR

  • L.T.S: Cùng với Blok, Mai-a-cốp-xki, Ê-xê-nhin, Pa-xter-nak... Ma-ri-na Xvê-ta-ê-va (Marina Tsvetaeva 1892 - 1941) là một trong những nhà thơ Nga - Xô Viết lớn nhất của thế kỷ XX. Đường đời của bà là con đường đầy gian truân của một trí thức phải khắc phục nhiều lầm lỗi để đến với chân lý cách mạng. Một trái tim nồng cháy tình yêu Tổ quốc, dân tộc, nhưng Xvê-ta-ê-va mất gần 20 năm sau Cách mạng Tháng Mười sống lưu vong ở nước ngoài và trở về đất nước không được bao lâu thì mất.

  • OCTAVIO PAZ

    (Nobel Văn Chương 1990)

  • Eduardas Megielaitis sinh năm 1919 (đã mất 6/6/1997), Chủ tịch Hội Nhà văn  Litva (Liên Xô cũ) từ năm 1959, có tác phẩm được in từ 1934. Anh hùng lao động Liên Xô, Giải thưởng Lê-nin về văn học (năm 1961).

  • Lép Ôsanhi - Vlađimia Xôkôlôp

  • LGT: Charles Simic sinh năm 1938 tại Belgrade, Nam Tư. Năm 16 tuổi ông cùng với mẹ sang Mỹ sống với người cha ở New York City. Hiện ông là giáo sư khoa tiếng Anh ở trường Đại học New Hamsphire. Thơ Simic không dễ xếp loại. Một số bài thơ của ông có khuynh hướng siêu thực, siêu hình trong khi các bài khác là những chân dung hiện thực của bạo lực và tuyệt vọng.

  • Sam Hamill - Kevin Bowen - Martha Collins - Yusef Komunyakaa - Fred Marchant - Lady  Borton - Nguyễn Bá Chung - Bruc Weil - Carolyn Forché - Larry Heinemann - George Evans

  • F.G. Lorca: Nhà thơ Tây Ban Nha, một trong những nhà thơ lớn của thế kỷ, một chiến sĩ chống phát xít đã bị kẻ thù ám hại năm 1938, khi ông vừa tròn 40 tuổi.

  • Bạn đọc chắc hãy còn nhớ vào tháng 2 năm 2011, Tạp chí Sông Hương đón nhận sự ghé thăm của đoàn Nhà văn Nga, trong đó có nhà thơ Terekhin Vadim.

  • Jean Amrouche (1906-1962), người An-giê-ri, dạy học ở Tuy-ni-di, viết báo. Có nhiều thi phẩm in ra trước 1940. Chết trước khi An-giê-ri dành được độc lập, trong khi ông vẫn là một trong những người thành tâm và quyết liệt tìm giải pháp cho vấn đề thiết cốt này.

  • Từ nhiều thế kỷ nay, chúng ta đã quen với chuyện họa thơ Đường. Còn đây là một cuộc họa thơ bằng tiếng Tây Ban Nha. Và là một cuộc họa thơ độc đáo về Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

  • Trong một lần thăm Ang-co, tôi cùng đi với chị Khô Chan dra, một cựu sinh viên văn khoa Đại học Phnôm Pênh. Chị ở trong một gia đình trí thức công chức dưới thời Si-ha-nuc nên hầu hết những người thân đều bị Pôn Pốt sát hại.

  • L.T.S: “Mẹ và bom nơ-tơ-rôn” là trường ca của nhà thơ Liên Xô nổi tiếng E.Ép-tu-sen-cô. Trường ca được trao giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1984. Xin trân trọng giới thiệu một đoạn trích từ trường ca.

  • Nhà thơ nữ Ana Blandiana (sinh năm 1942) hiện là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học hiện đại Ru-ma-ni.

  • Paul Henry là một trong những nhà thơ hàng đầu xứ Wales. Được cố thi sĩ Ursula Askham Fanthorpe diễn tả như “một nhà thơ của nhà thơ”, kết hợp “cảm xúc nhạc của những con chữ với sự tưởng tượng sáng tạo không ngừng nghỉ”, ông đến với thơ qua việc viết lời ca.

  • PI-MEN PAN-TREN-CƠNhững vật dụng của lính

  • LTS: Bruce Weigl nhà thơ Mỹ từng là cựu chiến binh tham chiến tại Quảng Trị những năm 1967-1968. Là người chứng kiến những sự thật kinh hoàng trong chiến tranh Việt Nam, ông tìm đến với thơ ca như một sự cứu rỗi linh hồn. Năm 1987, Bruce Weigl lần đầu tiên trở lại Việt Nam và “Tôi không bao giờ tưởng tượng được người Việt Nam lại tiếp đãi mình ân cần như thế”.

  • PABLO NERUDATrên đỉnh Machu Picchu(*)