Thơ EILEEN HEANEY

10:37 16/10/2008
EILEEN HEANEYLGT: Eileen Heaney là một họa sĩ sống ở Boston, Mỹ. Năm 1997 bà cùng với chồng là ông James Hullett – Triết gia, giáo sư đại học và là giám đốc một nhà xuất bản sách triết - về Việt Nam để nhận bé Frankie từ trại trẻ mồ côi Hội An, Đà Nẵng làm con nuôi.

Bé Frankie lúc đó 5 tháng tuổi, được ông bà đem về Boston nuôi nấng, dạy dỗ với tất cả tình thương mến. Ông bà nói: “Nhận nuôi bé Frankie là một điều tuyệt vời nhất của cuộc đời chúng tôi.” Kể từ đó, ông bà cùng bé Frankie đã bắt đầu học hỏi, nghiên cứu và thu nhận nhiều tinh hoa văn hóa Việt . Họ cho bé học tiếng Việt, nấu món ăn Việt, tự hào giới thiệu và quảng bá văn hóa Việt với bạn bè xung quanh. Họ thương yêu, kính trọng và mến phục người Việt cũng như văn hóa Việt với tất cả tấm lòng. Bé Frankie bây giờ là  một bé gái học lớp 4, là học sinh xuất sắc tất cả các môn học, vẽ giỏi, đàn piano hay, và là một diễn viên ba lê xuất sắc.
Kỷ niệm 10 năm chuyến đi lịch sử về Việt Nam để đón nhận Frankie, tháng 4 năm 2007, cả gia đình của Frankie lại về Việt Nam, làm một chuyến đi xuyên Việt để rồi lại tiếp tục khẳng định mạnh mẽ rằng Việt Nam là một đất nước quá đẹp; người Việt Nam thật quá tình cảm và sâu sắc. Bài thơ dưới đây được viết ở Hà Nội, nói lên cảm xúc sâu sắc của Eileen Heaney đối với người Việt Nam và ước mong có được một tiếng nói chung và sự thông cảm giữa những người Việt Nam sống ở Mỹ và sống ở Việt Nam, vượt qua quá khứ đau buồn của chiến tranh chia cắt để hướng về một tương lai của hoà hợp và tình thương mến.



Đất nước của con gái tôi

Đất nước của con gái tôi đã từng bị ngoại bang làm tan nát
Những mảnh vỡ trôi dạt khắp nơi
Ném khỏi căn nhà thân thương, những trái tim chia lìa xa cách
Đập vỡ bằng những giọt nước mắt đau đớn, đắng cay
Đất nước bị dập vùi, tơi tả với những vết thương
 không bao giờ lành miệng.
Cả hai hàng nước mắt đón chúng tôi bằng nụ cười rộng mở và
                                                                                                 hỏi han
                                                                                                                               
Người Việt à?
Cháu quê ở đâu vậy?
Bao nhiêu tuổi?
Nói tiếng Anh?
Nói tiếng Việt?

Giọng nói của họ ấm áp và tràn đầy thương mến
Tình yêu của họ như nỗi niềm muốn làm lành miệng vết thương
ngoại bang dường như đã được tha thứ

Nhưng còn đó khoảng cách nhức nhối của hai bên
Đến tận cùng họ cần tha thứ cho nhau
Để nhịp tim lại bắt đầu đập mạnh
Những mảnh vỡ hàn gắn và lành lặn lại như xưa
Hợp cùng nhau và hít thở cùng một nhịp.

                                                                 Hà Nội tháng 4/2007
                                                           (DIỆU LINH dịch và giới thiệu)

(nguồn: TCSH số 221 - 07 - 2007)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • JEZIBELl - RM.SHANMUGAM CHETTIAR

  • L.T.S: Cùng với Blok, Mai-a-cốp-xki, Ê-xê-nhin, Pa-xter-nak... Ma-ri-na Xvê-ta-ê-va (Marina Tsvetaeva 1892 - 1941) là một trong những nhà thơ Nga - Xô Viết lớn nhất của thế kỷ XX. Đường đời của bà là con đường đầy gian truân của một trí thức phải khắc phục nhiều lầm lỗi để đến với chân lý cách mạng. Một trái tim nồng cháy tình yêu Tổ quốc, dân tộc, nhưng Xvê-ta-ê-va mất gần 20 năm sau Cách mạng Tháng Mười sống lưu vong ở nước ngoài và trở về đất nước không được bao lâu thì mất.

  • OCTAVIO PAZ

    (Nobel Văn Chương 1990)

  • Eduardas Megielaitis sinh năm 1919 (đã mất 6/6/1997), Chủ tịch Hội Nhà văn  Litva (Liên Xô cũ) từ năm 1959, có tác phẩm được in từ 1934. Anh hùng lao động Liên Xô, Giải thưởng Lê-nin về văn học (năm 1961).

  • Lép Ôsanhi - Vlađimia Xôkôlôp

  • LGT: Charles Simic sinh năm 1938 tại Belgrade, Nam Tư. Năm 16 tuổi ông cùng với mẹ sang Mỹ sống với người cha ở New York City. Hiện ông là giáo sư khoa tiếng Anh ở trường Đại học New Hamsphire. Thơ Simic không dễ xếp loại. Một số bài thơ của ông có khuynh hướng siêu thực, siêu hình trong khi các bài khác là những chân dung hiện thực của bạo lực và tuyệt vọng.

  • Sam Hamill - Kevin Bowen - Martha Collins - Yusef Komunyakaa - Fred Marchant - Lady  Borton - Nguyễn Bá Chung - Bruc Weil - Carolyn Forché - Larry Heinemann - George Evans

  • F.G. Lorca: Nhà thơ Tây Ban Nha, một trong những nhà thơ lớn của thế kỷ, một chiến sĩ chống phát xít đã bị kẻ thù ám hại năm 1938, khi ông vừa tròn 40 tuổi.

  • Bạn đọc chắc hãy còn nhớ vào tháng 2 năm 2011, Tạp chí Sông Hương đón nhận sự ghé thăm của đoàn Nhà văn Nga, trong đó có nhà thơ Terekhin Vadim.

  • Jean Amrouche (1906-1962), người An-giê-ri, dạy học ở Tuy-ni-di, viết báo. Có nhiều thi phẩm in ra trước 1940. Chết trước khi An-giê-ri dành được độc lập, trong khi ông vẫn là một trong những người thành tâm và quyết liệt tìm giải pháp cho vấn đề thiết cốt này.

  • Từ nhiều thế kỷ nay, chúng ta đã quen với chuyện họa thơ Đường. Còn đây là một cuộc họa thơ bằng tiếng Tây Ban Nha. Và là một cuộc họa thơ độc đáo về Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

  • Trong một lần thăm Ang-co, tôi cùng đi với chị Khô Chan dra, một cựu sinh viên văn khoa Đại học Phnôm Pênh. Chị ở trong một gia đình trí thức công chức dưới thời Si-ha-nuc nên hầu hết những người thân đều bị Pôn Pốt sát hại.

  • L.T.S: Ma-xê-đoan (Nam Tư) là xứ sở thơ mộng của phong cảnh đẹp, của du lịch, hội hè và của thơ, là một cái nôi văn hoá cổ xưa của nhân loại, nằm trên bán đảo Ban-căng, có một cái gì gợi nên một số nét tương đồng với Huế.

  • L.T.S: “Mẹ và bom nơ-tơ-rôn” là trường ca của nhà thơ Liên Xô nổi tiếng E.Ép-tu-sen-cô. Trường ca được trao giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1984. Xin trân trọng giới thiệu một đoạn trích từ trường ca.

  • Nhà thơ nữ Ana Blandiana (sinh năm 1942) hiện là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học hiện đại Ru-ma-ni.

  • Paul Henry là một trong những nhà thơ hàng đầu xứ Wales. Được cố thi sĩ Ursula Askham Fanthorpe diễn tả như “một nhà thơ của nhà thơ”, kết hợp “cảm xúc nhạc của những con chữ với sự tưởng tượng sáng tạo không ngừng nghỉ”, ông đến với thơ qua việc viết lời ca.

  • PI-MEN PAN-TREN-CƠNhững vật dụng của lính

  • LTS: Bruce Weigl nhà thơ Mỹ từng là cựu chiến binh tham chiến tại Quảng Trị những năm 1967-1968. Là người chứng kiến những sự thật kinh hoàng trong chiến tranh Việt Nam, ông tìm đến với thơ ca như một sự cứu rỗi linh hồn. Năm 1987, Bruce Weigl lần đầu tiên trở lại Việt Nam và “Tôi không bao giờ tưởng tượng được người Việt Nam lại tiếp đãi mình ân cần như thế”.