Thi hào Evgenij Evtusenko - Ảnh: azioneriformista.it
E.ÉP-TU-SEN-CÔ Mẹ và bom nơ-tơ-rôn Mẹ ơi, con đọc báo hôm nay qua thân thể trong veo Những đứa trẻ đói thành phố Lê-nin-grát các em đã đến với Giáng sinh các em bé của loài người đã chết, Nghĩa trang Pit-xoa-rôp-xcôi-ê những bàn tay trẻ héo với lên những chiếc đèn vàng những quả quít trên cây Nô-en mà không tìm được quả như thường khi các em vẫn hái. Những nếp nhăn khuôn mặt nhỏ xanh xao, những em bé Au-sơ-vich bị hơi ga ngạt thở van vỉ ông già Nô-en Gỡ cho em một quả cầu bạc bất cứ quả nào miễn còn chứa một chút dưỡng khí Những em bé Sơn Mỹ trong thai bị xé ra từ bụng mẹ cố bò đến gần Con sói già hung ác đang nức nở. Không quên chiếc - khăn - quàng - đỏ, con Sói bận dán lại Những mảnh trẻ con nhuộm máu ở Ben-phát, Bây-rút bị xé nát trong bom Và những em bé Xan-va-đo bị nghiến nát dưới xích xe tăng đàn áp chúng phải lùi lại, kinh hồn trước cái nhìn của chính trẻ con Vô tận là điệu múa tròn những em đã khuất toàn thế giới quây quần giữa mùa Giáng sinh Nhưng bom Nơ-tơ-rôn thì còn lại, Nếu bom nổ vào Giáng sinh chẳng bao giờ còn trẻ con nữa cả; những nhà trẻ chỉ còn bọn gấu bông gào thét chúng xé ngực với móng nhựa và mạt cưa tràn ra - những con voi thùng thình ré lên báo động nhưng quá muộn.. Cám ơn vườn Đi-xnây (1) nơi người ta chẳng còn phàn nàn đổ gãy Cám ơn những búp bê chẳng còn sợ mất bím tóc Cám ơn những tấm kính mà quả bóng càn quấy chẳng thể đập tan Cám ơn những ngựa gỗ luôn luôn sẵn yên cương Kêu cót két trong bao la trống rỗng Cám ơn những quần đùi phơi kỹ trên giây Và lùm cây nơi người ta trốn tìm chẳng bao giờ bị xẻ… Trò chơi lớn cuối cùng Chẳng còn trẻ con. Chẳng còn người lớn. Chẳng còn ai Đường phố vẹn nguyên lăn lóc những chiếc đồng hồ nguyên vẹn với dây da hay thép I-nốc mang dáng những cổ tay biến mất, lăn lóc những chiếc nhẫn cưới đã đánh mất giá trị đường tròn, những chiếc khuyên ngọc thạch và bao trang sức tuyệt vời nơi những đôi tai đàn bà đã tan biến hư vô; Và những chiếc găng tay rỗng còn nguyên xiết chặt chiếc vô-lăng còn nguyên trên chiếc xe chưa hề vết xước Mẹ ơi, mẹ chẳng bao giờ còn nữa. Chỉ còn lại quán báo của mẹ nơi ngọn gió nguyên tử lật từng trang tuần báo “Bóng đá - Khúc côn cầu” tạp chí “Châu Mỹ và “Sức khỏe bạn”. nhuốm mốc (không bán được)… Mẹ ít nói chính trị Chỉ cái lần mẹ bước vào hiệu tạp hóa đại lộ Ê-toan với chiếc cúc áo bật ra trong đám chen lấn (ngày hôm đó giấy sơn Tây Đức đưa ra bán lẽ) Mẹ nói: “Thưa ngài; Chắc người ta phải hám đồ vật lắm nên mới chế ra bom Nơ-tơ-rôn” Và tôi đã tưởng tượng đến hàng triệu cửa hàng trên thế giới ăm ắp giấy sơn, lông thú, kim cương, bốt da dê Ý, máy Nhật và những hộp bia mang nhãn Đan Mạch những cửa hàng đủ mọi thứ hàng, trừ khách hàng thì biến mất. Trong các bảo tàng những cái gối đánh cắp các sọ người Nê-ăng-đéc-tan Những vải bọc tự cuốn đi khỏi tượng và cốt thép Những xe nôi chỉ còn ru những xác trẻ con trong phoóc-môn trường thuốc Cô đơn, bọn dao cạo tự rạch cổ mình Lũ cà-vạt treo cổ tập thể lên cây Sách vỡ tự thiêu vì không chịu nổi sự vắng bóng ngón tay và ánh mắt Chắc chắn đồ vật rồi cũng sẽ thích ứng Đến lượt chúng chúng cũng sẽ dựng lấy cửa hàng, rồi cũng đủ đám đông các đồ vật khó tả rồi bắt đầu tiếng chào xáo lan ra về một cửa hàng ngoại ô, hẳn thế, sẽ bán lẻ món người Tôi ngờ rằng món này ướp tỏi không có chuyện tranh chấp chính trị và chắc chắn có một thứ tủ lạnh tội ác sẽ chế ra một bom Nơ-tơ-rôn khác, một thứ bom chỉ hủy diệt đồ vật Không gieo thiệt hại cho người… Nhưng sẽ còn gì, nếu đồ vật không tồn tại nữa? Kẻ vung lên thanh gươm nguyên tử Sẽ chết bởi gươm nguyên tử. ---------------- (1) Khu vườn lớn do Đi-xnây, một người Mỹ dựng ra, có bày biện nhiều cảnh quan và đồ chơi lý thú. NGUYỄN KHOA ĐIỀM dịch (Theo bản tiếng Pháp của A-Karvovski) (13/6-85) |
THÁI KIM LAN
KINHIN* im Frühling
(*Das Gehen in Achsamkeit und Bewußtheit)
EVGHÊNI EVTUSENKÔ
Tưởng niệm Anđrây Đimitiêvich Xakharôv
LTS: Ca khúc “Thời gian đang chuyển mình” được phát hành trong album cùng tên vào năm 1964. Dylan viết ca khúc này nhằm phản ánh những sự biến đổi của thời cuộc.
Thi sĩ Christopher Merrill được giới phê bình văn chương Mỹ trân trọng, như W.S. Merwin đánh giá, là “một trong những nhà thơ tài năng, táo bạo, và thành công nhất của một thế hệ thi ca hiện đại.”
Nhà thơ Müesser Yeniay, sinh năm 1984, tại Izmir - Thổ Nhĩ Kỳ. Chị tốt nghiệp Đại học Ege môn Anh ngữ và Văn học, nhận bằng Tiến sĩ Văn học Thổ Nhĩ Kỳ tại Đại học Bilkent. Chị từng đoạt một số giải thưởng Văn học tại Thổ Nhĩ Kỳ. Thơ Müesser Yeniay đã được dịch sang nhiều thứ tiếng. Müesser Yeniay hiện là biên tập viên Tạp chí Văn học Şiirden, Thổ Nhĩ Kỳ.
Jan Skacel (1922 - 1989) là một trong số những nhà thơ chủ chốt trong văn học Séc nửa sau thế kỷ 20. Ông cũng là nhân vật có vai trò quan trọng trong đời sống văn học Tiệp Khắc với tư cách là Tổng Biên tập tạp chí Host do domu trong các năm từ 1963 đến 1969.
LTS: Khi Sông Hương gửi những dòng thơ này đến với bạn đọc thì Paris đã yên bình sau cơn ác mộng khủng bố IS. Nhân loại đang đứng bên người Pháp: “Je suis Paris! Tôi là Paris! Nhân loại là Paris!” Lá cờ nước Pháp nhung phủ hàng triệu gương mặt người. Và những bài thơ dành cho Paris đã ngân lên, đơn giản, đó là biểu tượng xứ sở nghệ thuật của thế giới, là nơi Cách mạng Pháp với Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền đã mở ra một kỷ nguyên hoàn toàn mới cho nhân loại…
Buổi sáng ngày 11 tháng 9 năm 2001, bạn làm gì?
LTS: "Maiacôpxki là lá cờ đầu của thơ ca tháng Mười. Và làm thơ ca ngợi cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, ông luôn luôn đặt ra những câu hỏi lớn về viễn cảnh của cuộc cách mạng, về tương lai của nhân loại.
LGT: Nhà thơ Charles Simic sinh vào ngày 9/5/1938 tại Nam Tư, nơi ông có một tuổi thơ đau thương trong chiến tranh thế giới thứ II. Năm 1954, ông theo gia đình di cư sang Mỹ.
JOSEPH BRODSKY
LTS: Sinh năm 1940 tại Peterbuorg. Năm 1970, ông sang định cư ở Mỹ và dạy học tại Đại học Columbia. Ông làm thơ bằng tiếng Nga và tiếng Anh. Năm 1987 ông đoạt giải Nobel văn chương.
Những bài thơ Sông Hương chọn giới thiệu được trích trong tập “Tĩnh vật và những bài thơ khác” từ bản dịch của Hoàng Ngọc Biên.
Billy Collins (sinh ngày 22/3/1941) là thi sĩ nổi tiếng ở Mỹ. Ông đã từng hai lần được bầu là Thi bá, hay còn gọi là Nhà thơ danh dự (Poet Laureate) của Hoa Kỳ, lần đầu vào năm 2001 và lần thứ hai vào năm 2003. Trong các năm từ 2004 đến 2006 ông được bầu là Thi sĩ của bang New York.
LGT: Nakahara Chuya (Trung Nguyên Trung Dã) (1907-1937) là một gương mặt chói ngời của văn học Nhật Bản cận đại dù mất ở tuổi ba mươi và chỉ kịp để lại hai thi tập “Bài ca sơn dương” (Yagi no uta) và “Bài ca ngày tháng cũ” (Arishihi no uta).
EVGHÊNHI EVTUSENKÔ
A. VÔZNHÊXENXKI
LTS: Ngày 18-2-1987, phiên họp của Ban thư ký Hội nhà văn Liên Xô đã hủy bỏ quyết định năm 1958 khai trừ nhà thơ, nhà văn Xô-viết Bôrít Pasternak ra khỏi Hội nhà văn.
Liana Margescu sinh ngày 7/5/1969 tại Campulung Muscel, ở Romania trong một thị trấn nhỏ miền núi. Vì là đứa con duy nhất nên người cha còn hơn là hình tượng một người cha đã đóng một vai trò thiết yếu trong sự trưởng thành của con gái. Một người cha dạy những giá trị đích thực của đời sống, như là tình bằng hữu, tự do, sự thật, ngay cả khi Romania nằm dưới sự kiểm soát của chế độ chuyên chế Ceausescu. Tác giả đã nhận được giải thưởng ở Italia.
Jaroslav Seifert - Frana Sramek - Miroslav Kapek - Michal Cernik
Gwendolyn Elizabeth Brooks (1917 - 2000), là nhà thơ Hoa Kỳ gốc châu Phi. Bà từng có thơ đăng tạp chí từ năm 13 tuổi. Năm 1950 bà được giải Pulitzer về thơ, và như thế là người da đen đầu tiên ở Hoa Kỳ có vinh dự này.
A.X.PUSKIN
Khúc ca về Ô leg minh quân