Jaroslav Seifert - Frana Sramek - Miroslav Kapek - Michal Cernik
Jaroslav Seifert - Ảnh: internet
JAROSLAV SEIFERT
(1901-1986/Nobel 1984)
Thành phố tội lỗi
Thành phố của công nhân và những người giàu có
Thành phố của những tuyển thủ đánh bốc sừng sỏ
Thành phố của các nhà phát minh và những kỹ sư
Thành phố của các vị tướng tá, con buôn và những nhà thơ yêu nước đã phạm những tội đen tối
vượt quá ranh giới
làm ông trời oán giận.
Trời đã nói một trăm lần là sẽ trừng phạt
bằng những trận sấm chớp, mưa giông
Nhưng rồi một trăm lần ông trời lại tha thứ
bởi lẽ ông nhớ lại một lần trong quá khứ
Trời đã từng hứa
Sẽ không nỡ hủy hoại thành phố đối với hai người chân chính
Và trời cảm thấy băn khoăn nếu như không giữ trọn lời hứa của mình
Hai người đó
là một cặp tình nhân đi dạo trong vườn xuân
Họ đang khao khát hít lấy những hương thơm
của cỏ cây nở hoa giữa thành phố quen thân.
1921
Dương Tất Từ dịch
FRANA SRAMEK
(1877-1952)
Dòng thác
Nỗi day dứt làm anh suy nghĩ mãi
biết chọn nơi nào ta gặp nhau trong buổi mai
Anh sẽ không hẹn em trên đường phố, công viên hay bờ sông
Anh sợ những lời dối trá làm xiêu lòng
Anh sợ cả những cánh rừng. Bởi trong rừng êm ả
người đang yêu khó giữ trọn tấm lòng cao cả
Còn ngưỡng cửa phòng anh, nếu như em bước đến
có thể không bao giờ em còn nhớ tới anh
Anh chỉ muốn gặp em trên bãi cỏ xanh
Trên đồng cỏ lộng gió -
tấm thảm bình dị của thiên nhiên
Nơi đây có người đàn ông bẻ đôi chiếc bánh mì trao cho người đàn bà một nửa
Mùi bánh thơm hương đất, nụ cười an tâm rạng rỡ
Chuỗi hoa cỏ sẽ làm em phát khóc lên vì vẻ đẹp đơn sơ
Làn mây bay phiêu bạt, nắng chạy tung tăng, bóng dâm nhảy nhót
Người đàn ông mang trong mình niềm khát vọng của kẻ gieo hạt
Người đàn bà có cặp đùi mập mạp phì nhiêu...
Anh chỉ muốn gặp em nơi đồng cỏ
Và cho tới khi nào em từ giã ra đi
Anh muốn em chẳng nghĩ gì
ngoài những lời anh cầu khẩn
được làm dòng thác
Ấm lên lời ca vang vọng mãi trong em...
Dương Tất Từ - Lương Duyên Tâm dịch
MIROSLAV KAPEK
Cử chỉ loài sư tử
Vương quốc sư tử bị động đất
Đau khổ trùm lên mọi cảnh vật
đất nẻ thành hang, cửa nhà đổ nát
bao loài muông thú chết thảm thương
Trước cảnh đau lòng, sư tử nói :
Ta muốn chia sẻ nỗi đau với mọi người
Lòng ta tê tái đến khôn nguôi
Ta quyết băng hà theo các ngươi.
Sao lại thế! Vua phải sống với người thân, phải sống
- Sư tử cái phân bua, non nỉ cùng chồng
Thiên hạ chết, lẽ nào anh đem lòng yêu dấu
Hiến thân cho uổng phí cuộc đời.
Sư tử đực nhìn vợ lòng vấn vương
- Nếu ta chết - đâu có phải vì tình thương!
Em biết đấy, không có thiên hạ lấy ai mà cai trị
Nhưng không có quyền lực đời ta thành vô vị!
Dương Tất Từ dịch
MICHAL CERNIK
Đồng tình và phản đối
Nói dối là một nghệ thuật.
Nhưng có một nghệ thuật lớn hơn
đó là nói lên chân lý.
Môn nghệ thuật thứ nhất tôi không chấp nhận
còn môn nghệ thuật thứ hai
không khải lúc nào tôi cũng đủ dũng cảm.
Nói là một nghệ thuật
Nhưng còn có một nghệ thuật lớn hơn
Đó là dũng cảm hành động.
Môn nghệ thuật thứ nhất tôi không thạo
còn môn nghệ thuật thứ hai
tôi đang lấy sức.
Có hai cách im lặng
Im lặng vì ai
và phản đối ai
Im lặng trước cuộc sống
điều đó tôi cương quyết chống
cho nên tôi đang cố giương cao tiếng nói của mình.
Tôi nói:
Ai không muốn nhìn vào sự thật
kẻ đó mù.
Ai không muốn lắng nghe
kẻ đó điếc.
Ai lặng im trước lẽ phải
kẻ đó câm.
Dễ biết chừng nào
Khi ngồi nhà nói năng như lửa bốc
Nhưng ra ngoài thì an phận đốm lửa tàn.
Dễ biết chừng nào
làm ra vẻ anh hùng hảo hán
khi việc đời đã mãn nguyện tiêu tan.
Dễ biết chừng nào
giương tay phất cao cờ của niềm tin vẫy gọi
Khi ngọn cờ đó những người khác đã trương lên rồi.
Dễ biết chừng nào
sống một cuộc đời nhàn nhã chẳng biết đến gian lao
khi không có chuyện gì đáng phải bàn.
Có điều, với chúng ta trên trái đất này chuyện phải bàn là cuộc sống.
Dương Tất Từ dịch
(SH26/8-87)
Muin Bseiso - Rasul Gamzatov
Vladimir Vladimirovich Nabokov (1899 -1977) là nhà văn Nga - Mỹ nổi tiếng. Ông sáng tác ở nhiều thể loại văn học khác nhau. Ông được giải thưởng Nôben văn học năm 1955. Những tiểu thuyết đặc sắc của ông là: - Quà tặng (1937), Đến nơi xử tử (1935 - 1936), Lolita (1955)…
L.T.S. "BÍ ẨN TÌNH YÊU" là tập thơ chọn lọc những bài thơ tình nổi tiếng thế giới do dịch giả Đắc Lê và nhà thơ Lữ Huy Nguyên tuyển chọn, NXB Văn Học ấn hành 1993. TCSH trân trọng giới thiệu dưới đây một số bài trích trong tập thơ đó.
Ogiwara Seisensui - Murakami Kijo - Saito Sanki - Ozaki Hosai
Tác giả Jon Fosse, người Na Uy, 64 tuổi, đạt Giải Nobel Văn học 2023 nhờ “những vở kịch và văn xuôi tân tiến, lên tiếng cho những điều không thể nói”.
Takít Vácvisiôtít - Côxtát Haridít - Côxtót Xteriôpulốt - Ghê-oóc-ghi Xê-phê-rít
BIỆN CHI LÂM
Biện Chi Lâm sinh năm 1910, quê tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Từ thuở nhỏ, ông đã có thiên hướng yêu thích thơ ca kim cổ.
MARINA TSVETAEVA
RAINER MARIA RILKE
LOUISE GLUCK
(Nobel Văn học năm 2020)
Là tác giả bốn cuốn sách viết về Việt
Mihai Eminescu (1850 - 1889) là một trong những nhà thơ lớn nhất của nước Rumani. Sống nhiều ở miền núi, nhất là thuộc hai vùng Ardeal và Moldova, ông am hiểu sâu sắc về đời sống cực khổ của người dân trong vùng cũng như toàn xã hội. Thơ Eminescu trĩu nặng tình yêu thiên nhiên, con người, thấm đượm chất văn hóa dân gian của dân tộc mình.
Louise Glück - Jaroslav Seifert - Wislawa Szymborska - Pablo Neruda - Boris Pasternak
Thi sĩ Hy Lạp, 1911 - 1996, giải Nobel Văn chương năm 1979. Nỗ lực chính của thơ ông là gạt khỏi tâm thức con người những bất công phi lý và bồi đắp các yếu tố thiên nhiên thông qua sức mạnh đạo đức, để đạt được sự minh triết cao nhất có thể có trong sự biểu đạt; và cuối cùng, là để đạt đến sự tiếp cận cõi huyền nhiệm của ánh sáng, những siêu hình của mặt trời mà ông là một “người sùng bái” - một kiểu thần tượng theo định nghĩa của riêng ông. Nghệ thuật của ông mang tính đồng hiện hướng đến kỹ thuật thi ca nhằm giới thiệu cấu trúc nội tâm, điều này thể hiện rất rõ trong nhiều bài thơ của ông.
Trần Phương Kỳ giới thiệu và dịch
LTS. Thơ ca vốn có truyền thống lâu đời. Thơ ca của các dân tộc da đen cũng mang những đặc thù ấy. Từ những nhà thơ ở xứ Akhenaton bên Ai Cập (Thế kỷ thứ 14 trước Công nguyên) cho đến Gwendolyn Brooks, Leroi Jones và những giọng thơ mạnh mẽ của các nhà thơ Mỹ đương thời, chặng đường ấy tính ra đã mấy ngàn năm.
CAROLYN FORCHÉ
LTS: Tên tuổi của Ôma Khayam, nhà thơ, nhà khoa học Ba Tư thế kỷ XI đã được bạn đọc Việt Nam biết đến và yêu thích qua tập Thơ cổ Ba Tư, NXB Văn Học ấn hành năm 1984. Thơ của ông ngang tàng, độc đáo, mãnh liệt và đầy tính triết lý sâu sắc chủ yếu tập trung vào đề tài tình yêu và rượu.
BIỆN CHI LÂM
Biện Chi Lâm卞之琳 (1910 - 2000), nhà thơ, dịch giả, nhà nghiên cứu tiêu biểu của văn học Trung Quốc hiện đại. Quê gốc Giang Tô. Bút danh thường dùng: Quý Lăng.
Nghe như cổ tích chuyện cậu bé Ali Ahmad Said Esber, con nhà nông dân vùng Al Qassabina, miền tây nước Syria: từ chỗ nhà nghèo, không được tới trường, sau có cơ hội đi học và đạt trình độ tiến sĩ; từ chỗ thuở nhỏ làm thơ gởi các báo nhưng không bài nào được đăng, sau lại là người sáng lập một tạp chí chuyên về thơ và trở thành “nhà thơ vĩ đại nhất còn sống của thế giới Ả Rập” với bút danh Adonis.
JAN WAGNER (Schriftsteller)
J. Wagner sinh ngày 18/10/1971 tại Hamburg CHLB Đức, nhà thơ, nhà văn và thông dịch viên.