Khúc ca về Ô leg minh quân

15:26 11/04/2013

A.X.PUSKIN

Khúc ca về Ô leg minh quân

Chân dung Oleg minh quân, vẽ bởi Viktor Vasnetsov - Ảnh: wiki

Ô leg minh quân (1) nay ra trận
Để trả thù lũ ngu xuẩn Ho zar (2)
Làng mạc Ho zar người thiêu trụi ra tro
Vì cái tội dám ngang tàng cướp phá.
Trong giáp trụ thành đô (3), với gia binh cơ ngũ
Người trên yên con tuấn mã kiên trung.

Từ cánh rừng sâu thẳm tiến ngược đường
Vị phù thủy đầy tươi vui hưng phấn.
Bậc lão trượng chỉ thờ Pe run thánh (4)
Người đưa tin di huấn của tương lai,
Chuyên nguyện cầu và bói toán suốt đời
Và Ô leg liền tiến lên chào đón.

"Xin hãy nói , con cưng của thần thánh.
Có chuyện gì sắp đến trong đời tôi?
Liệu kẻ thù có sớm được mừng vui
Vì đất lạnh chôn vùi tôi xuống mộ?
Cứ nói thật, xin người đừng e sợ:
Thưởng công người, ngựa quý đấy, tùy người"

Bậc tiên tri đâu sợ đấng quyền oai,
Mà quà tặng của công vương đâu thiết.
Miệng lưỡi tiên tri vốn tự do chân thực.
Và kết thân cùng ý chí thiên cung,
Năm tháng tương lai ẩn giữa mù sương,
Còn số phận của người in trên trán.

Lời ta nói từ đây người tâm niệm:
Niềm vinh quang người lính - ấy nguồn vui!
Chiến thắng ngời chói lọi tên tuổi người,
Khiên mộc ngươi cổng Thành đô treo sáng, (5)
Người ngự trị cả dưới sông trên cạn.
Số phận diệu kỳ chọc tức kẻ thù:

Cả sóng thần điên đảo giữa biển xa
Trong giờ khắc bão dông nguy khốn,
Nỏ đá, mũi tên, ranh ma đường kiếm…
Đều xót thương năm tháng kẻ anh hùng
Giáp trụ chở che không để sát thương,
Thần hộ mệnh vô hình luôn che đỡ.


 

Oleg đã treo khiên mộc lên cổng thành, vẽ bởi Fyodor Bruni - Ảnh: wiki


Ngựa của ngươi gian nguy không hề sợ.
Linh cảm từng ý chí chủ trên yên.
Khi mưa tên dừng sững lại lặng im
Lúc vun vút bãi chiến trường ngang dọc.
Dù gió lạnh, dù nóng nung đều mặc…
Nhưng cái chết của người lại chính ngựa sẽ trao!"

Ô leg cười, nhưng vầng trán thanh tao
Và ánh mắt chìm sâu trong suy tưởng.
Vịn vành yên, người buồn rầu ảm đạm
Không một lời vội xuống ngựa, buông cương.
Đưa bàn tay từ giã bạn thân thương:
Người ve vuốt dướn cao bờm cổ ngựa.

"Hỡi bề tôi trung thành, người đồng chí.
Đến lúc rồi ta phải cách xa nhau.
Hãy nghỉ ngơi! Từ nay mãi mãi về sau
Yên cương ngựa ta chẳng hề động tới
Thôi từ biệt, nhớ tới ta ngựa hỡi!
Này tiểu đồng, nhận lấy ngựa mang đi.

Hãy lấy chăn, thảm len ấm phủ che,
Dẫn ngựa tới đồng cỏ nhà chăn thả,
Hãy tắm mát, thóc ngon cho ăn thỏa,
Nước uống trong dẫn ngựa đến ngọn nguồn".
Mấy chú tiểu đồng vội dắt ngựa đi luôn,
Và ngựa khác dẫn về cho công tước.

Năm tháng qua, bữa kia người mở tiệc
Cùng gia binh chiến hữu uống say sưa.
Những mái đầu trắng như tuyết đầu mùa
Trên đỉnh ngọn mộ gò đầy vinh hiển…
Cùng hồi tưởng chuỗi ngày qua lãng đãng
Những trận giao tranh gươm kiếm bên nhau.

Sực nhớ ra: "Con ngựa của ta đâu?
Các bạn nhỉ, con ngựa xưa cần mẫn?
Vẫn khỏe mạnh? Bước phi còn loang loáng?
Vẫn vui tươi, mãnh liệt như xưa?"
"Đã từ lâu ngựa yên giấc ngàn thu
Trên đỉnh ngọn đồi cao, thưa công tước."

Vị anh hùng đầu cúi gằm thương tiếc
Và trầm tư: "Lời tiên đoán thì sao?
Ô lão già, mi dối trá, tào lao…
Giá đừng tin lời mi xưa tiên đoán
Thì ngựa vẫn chờ ta đi khắp chốn"
Người xót xa muốn viếng nắm xương khô.

Rời lâu đài cùng Ô leg uy nghi
Còn có cả Igo (6) và tân khách.
Và trước mặt- đồi cao bờ Đơ nhiep,
Nằm chơ vơ đống hài cốt ngựa xưa,
Mưa tắm, tháng năm phủ lớp bụi mờ,
Gió lay động cỏ che trùm nghiêng ngả,

Công tước nhẹ đặt chân lên sọ ngựa
Và cất lời: "Ôi người bạn cô đơn,
Bạn ngủ rồi, chủ lại sống lâu hơn,
Trong lễ cầu siêu, hẳn chẳng còn lâu nữa,
Không phải bạn sẽ nhuộm hồng thảm cỏ,
Đón lưỡi rìu máu nóng tưới hồn ta!

Cái chết của ta ẩn náu ở đây ư?
Đống xương trắng đem cho ta cái chết?!"
Trong lúc đó, phì phì khoanh rắn độc
Lẹ trườn ra từ cái sọ không hồn.
Như dải băng đen quấn chặt lấy hai chân
Bị rắn cắn công tước kêu thảng thốt.

Trong lễ tiệc cầu siêu cho Ô leg
Rượu truyền tay sủi bọt chảy tràn trề.
Công tước Igo, nữ công tước Ônga (7)
Trên đỉnh đồi, bờ sông - quan say chén,
Họ hồi tưởng chuỗi ngày qua lãng đãng
Những trận giao tranh gươm kiếm bên nhau…

                                                             1822
Thúy Toàn dịch

(SH25/6-87)

-------------
1. Ô leg minh quân - (thế kỷ X) công vương đầu tiên của Ki ép Nga, trị vì những năm 879 - 912, được mệnh danh "Minh quân" sau chiến thắng quân Hy Lạp năm 907.
2. Ho zar - Bộ lạc du mục phương Nam, gốc Mông Cổ.
3. Thành đô - (Txa zagrát) chỉ Kông xtan ti nô pôn, kinh đô đế quốc Vi-zan-ti.
4. Petzun thánh - Thần sấm trong thần thoại Xlavi bảo hộ các công vương và quân sĩ.
5. Theo sử biên niên, Ô leg chiến thắng VizanJi, chiếm Thành đô, khi ra về đã treo khiên mộc lên cổng thành để ghi chiến công của mình.
6. I go Rưc zi kô vits - Đại công tước Ki ép, nối ngôi Ô leg sau khi qua đời, 912 - 945.
7. Onga - vợ I go, lên nối ngôi chồng sau khi chồng bà qua đời.









 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • L.T.S: Cùng với Blok, Mai-a-cốp-xki, Ê-xê-nhin, Pa-xter-nak... Ma-ri-na Xvê-ta-ê-va (Marina Tsvetaeva 1892 - 1941) là một trong những nhà thơ Nga - Xô Viết lớn nhất của thế kỷ XX. Đường đời của bà là con đường đầy gian truân của một trí thức phải khắc phục nhiều lầm lỗi để đến với chân lý cách mạng. Một trái tim nồng cháy tình yêu Tổ quốc, dân tộc, nhưng Xvê-ta-ê-va mất gần 20 năm sau Cách mạng Tháng Mười sống lưu vong ở nước ngoài và trở về đất nước không được bao lâu thì mất.

  • OCTAVIO PAZ

    (Nobel Văn Chương 1990)

  • Eduardas Megielaitis sinh năm 1919 (đã mất 6/6/1997), Chủ tịch Hội Nhà văn  Litva (Liên Xô cũ) từ năm 1959, có tác phẩm được in từ 1934. Anh hùng lao động Liên Xô, Giải thưởng Lê-nin về văn học (năm 1961).

  • Lép Ôsanhi - Vlađimia Xôkôlôp

  • LGT: Charles Simic sinh năm 1938 tại Belgrade, Nam Tư. Năm 16 tuổi ông cùng với mẹ sang Mỹ sống với người cha ở New York City. Hiện ông là giáo sư khoa tiếng Anh ở trường Đại học New Hamsphire. Thơ Simic không dễ xếp loại. Một số bài thơ của ông có khuynh hướng siêu thực, siêu hình trong khi các bài khác là những chân dung hiện thực của bạo lực và tuyệt vọng.

  • Sam Hamill - Kevin Bowen - Martha Collins - Yusef Komunyakaa - Fred Marchant - Lady  Borton - Nguyễn Bá Chung - Bruc Weil - Carolyn Forché - Larry Heinemann - George Evans

  • F.G. Lorca: Nhà thơ Tây Ban Nha, một trong những nhà thơ lớn của thế kỷ, một chiến sĩ chống phát xít đã bị kẻ thù ám hại năm 1938, khi ông vừa tròn 40 tuổi.

  • Bạn đọc chắc hãy còn nhớ vào tháng 2 năm 2011, Tạp chí Sông Hương đón nhận sự ghé thăm của đoàn Nhà văn Nga, trong đó có nhà thơ Terekhin Vadim.

  • Jean Amrouche (1906-1962), người An-giê-ri, dạy học ở Tuy-ni-di, viết báo. Có nhiều thi phẩm in ra trước 1940. Chết trước khi An-giê-ri dành được độc lập, trong khi ông vẫn là một trong những người thành tâm và quyết liệt tìm giải pháp cho vấn đề thiết cốt này.

  • Từ nhiều thế kỷ nay, chúng ta đã quen với chuyện họa thơ Đường. Còn đây là một cuộc họa thơ bằng tiếng Tây Ban Nha. Và là một cuộc họa thơ độc đáo về Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

  • Trong một lần thăm Ang-co, tôi cùng đi với chị Khô Chan dra, một cựu sinh viên văn khoa Đại học Phnôm Pênh. Chị ở trong một gia đình trí thức công chức dưới thời Si-ha-nuc nên hầu hết những người thân đều bị Pôn Pốt sát hại.

  • L.T.S: Ma-xê-đoan (Nam Tư) là xứ sở thơ mộng của phong cảnh đẹp, của du lịch, hội hè và của thơ, là một cái nôi văn hoá cổ xưa của nhân loại, nằm trên bán đảo Ban-căng, có một cái gì gợi nên một số nét tương đồng với Huế.

  • L.T.S: “Mẹ và bom nơ-tơ-rôn” là trường ca của nhà thơ Liên Xô nổi tiếng E.Ép-tu-sen-cô. Trường ca được trao giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1984. Xin trân trọng giới thiệu một đoạn trích từ trường ca.

  • Nhà thơ nữ Ana Blandiana (sinh năm 1942) hiện là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học hiện đại Ru-ma-ni.

  • Paul Henry là một trong những nhà thơ hàng đầu xứ Wales. Được cố thi sĩ Ursula Askham Fanthorpe diễn tả như “một nhà thơ của nhà thơ”, kết hợp “cảm xúc nhạc của những con chữ với sự tưởng tượng sáng tạo không ngừng nghỉ”, ông đến với thơ qua việc viết lời ca.

  • PI-MEN PAN-TREN-CƠNhững vật dụng của lính

  • LTS: Bruce Weigl nhà thơ Mỹ từng là cựu chiến binh tham chiến tại Quảng Trị những năm 1967-1968. Là người chứng kiến những sự thật kinh hoàng trong chiến tranh Việt Nam, ông tìm đến với thơ ca như một sự cứu rỗi linh hồn. Năm 1987, Bruce Weigl lần đầu tiên trở lại Việt Nam và “Tôi không bao giờ tưởng tượng được người Việt Nam lại tiếp đãi mình ân cần như thế”.

  • PABLO NERUDATrên đỉnh Machu Picchu(*)