A.X.PUSKIN
Khúc ca về Ô leg minh quân
Chân dung Oleg minh quân, vẽ bởi Viktor Vasnetsov - Ảnh: wiki
Ô leg minh quân (1) nay ra trận
Để trả thù lũ ngu xuẩn Ho zar (2)
Làng mạc Ho zar người thiêu trụi ra tro
Vì cái tội dám ngang tàng cướp phá.
Trong giáp trụ thành đô (3), với gia binh cơ ngũ
Người trên yên con tuấn mã kiên trung.
Từ cánh rừng sâu thẳm tiến ngược đường
Vị phù thủy đầy tươi vui hưng phấn.
Bậc lão trượng chỉ thờ Pe run thánh (4)
Người đưa tin di huấn của tương lai,
Chuyên nguyện cầu và bói toán suốt đời
Và Ô leg liền tiến lên chào đón.
"Xin hãy nói , con cưng của thần thánh.
Có chuyện gì sắp đến trong đời tôi?
Liệu kẻ thù có sớm được mừng vui
Vì đất lạnh chôn vùi tôi xuống mộ?
Cứ nói thật, xin người đừng e sợ:
Thưởng công người, ngựa quý đấy, tùy người"
Bậc tiên tri đâu sợ đấng quyền oai,
Mà quà tặng của công vương đâu thiết.
Miệng lưỡi tiên tri vốn tự do chân thực.
Và kết thân cùng ý chí thiên cung,
Năm tháng tương lai ẩn giữa mù sương,
Còn số phận của người in trên trán.
Lời ta nói từ đây người tâm niệm:
Niềm vinh quang người lính - ấy nguồn vui!
Chiến thắng ngời chói lọi tên tuổi người,
Khiên mộc ngươi cổng Thành đô treo sáng, (5)
Người ngự trị cả dưới sông trên cạn.
Số phận diệu kỳ chọc tức kẻ thù:
Cả sóng thần điên đảo giữa biển xa
Trong giờ khắc bão dông nguy khốn,
Nỏ đá, mũi tên, ranh ma đường kiếm…
Đều xót thương năm tháng kẻ anh hùng
Giáp trụ chở che không để sát thương,
Thần hộ mệnh vô hình luôn che đỡ.
![]() |
Oleg đã treo khiên mộc lên cổng thành, vẽ bởi Fyodor Bruni - Ảnh: wiki |
Ngựa của ngươi gian nguy không hề sợ.
Linh cảm từng ý chí chủ trên yên.
Khi mưa tên dừng sững lại lặng im
Lúc vun vút bãi chiến trường ngang dọc.
Dù gió lạnh, dù nóng nung đều mặc…
Nhưng cái chết của người lại chính ngựa sẽ trao!"
Ô leg cười, nhưng vầng trán thanh tao
Và ánh mắt chìm sâu trong suy tưởng.
Vịn vành yên, người buồn rầu ảm đạm
Không một lời vội xuống ngựa, buông cương.
Đưa bàn tay từ giã bạn thân thương:
Người ve vuốt dướn cao bờm cổ ngựa.
"Hỡi bề tôi trung thành, người đồng chí.
Đến lúc rồi ta phải cách xa nhau.
Hãy nghỉ ngơi! Từ nay mãi mãi về sau
Yên cương ngựa ta chẳng hề động tới
Thôi từ biệt, nhớ tới ta ngựa hỡi!
Này tiểu đồng, nhận lấy ngựa mang đi.
Hãy lấy chăn, thảm len ấm phủ che,
Dẫn ngựa tới đồng cỏ nhà chăn thả,
Hãy tắm mát, thóc ngon cho ăn thỏa,
Nước uống trong dẫn ngựa đến ngọn nguồn".
Mấy chú tiểu đồng vội dắt ngựa đi luôn,
Và ngựa khác dẫn về cho công tước.
Năm tháng qua, bữa kia người mở tiệc
Cùng gia binh chiến hữu uống say sưa.
Những mái đầu trắng như tuyết đầu mùa
Trên đỉnh ngọn mộ gò đầy vinh hiển…
Cùng hồi tưởng chuỗi ngày qua lãng đãng
Những trận giao tranh gươm kiếm bên nhau.
Sực nhớ ra: "Con ngựa của ta đâu?
Các bạn nhỉ, con ngựa xưa cần mẫn?
Vẫn khỏe mạnh? Bước phi còn loang loáng?
Vẫn vui tươi, mãnh liệt như xưa?"
"Đã từ lâu ngựa yên giấc ngàn thu
Trên đỉnh ngọn đồi cao, thưa công tước."
Vị anh hùng đầu cúi gằm thương tiếc
Và trầm tư: "Lời tiên đoán thì sao?
Ô lão già, mi dối trá, tào lao…
Giá đừng tin lời mi xưa tiên đoán
Thì ngựa vẫn chờ ta đi khắp chốn"
Người xót xa muốn viếng nắm xương khô.
Rời lâu đài cùng Ô leg uy nghi
Còn có cả Igo (6) và tân khách.
Và trước mặt- đồi cao bờ Đơ nhiep,
Nằm chơ vơ đống hài cốt ngựa xưa,
Mưa tắm, tháng năm phủ lớp bụi mờ,
Gió lay động cỏ che trùm nghiêng ngả,
Công tước nhẹ đặt chân lên sọ ngựa
Và cất lời: "Ôi người bạn cô đơn,
Bạn ngủ rồi, chủ lại sống lâu hơn,
Trong lễ cầu siêu, hẳn chẳng còn lâu nữa,
Không phải bạn sẽ nhuộm hồng thảm cỏ,
Đón lưỡi rìu máu nóng tưới hồn ta!
Cái chết của ta ẩn náu ở đây ư?
Đống xương trắng đem cho ta cái chết?!"
Trong lúc đó, phì phì khoanh rắn độc
Lẹ trườn ra từ cái sọ không hồn.
Như dải băng đen quấn chặt lấy hai chân
Bị rắn cắn công tước kêu thảng thốt.
Trong lễ tiệc cầu siêu cho Ô leg
Rượu truyền tay sủi bọt chảy tràn trề.
Công tước Igo, nữ công tước Ônga (7)
Trên đỉnh đồi, bờ sông - quan say chén,
Họ hồi tưởng chuỗi ngày qua lãng đãng
Những trận giao tranh gươm kiếm bên nhau…
1822
Thúy Toàn dịch
(SH25/6-87)
-------------
1. Ô leg minh quân - (thế kỷ X) công vương đầu tiên của Ki ép Nga, trị vì những năm 879 - 912, được mệnh danh "Minh quân" sau chiến thắng quân Hy Lạp năm 907.
2. Ho zar - Bộ lạc du mục phương Nam, gốc Mông Cổ.
3. Thành đô - (Txa zagrát) chỉ Kông xtan ti nô pôn, kinh đô đế quốc Vi-zan-ti.
4. Petzun thánh - Thần sấm trong thần thoại Xlavi bảo hộ các công vương và quân sĩ.
5. Theo sử biên niên, Ô leg chiến thắng VizanJi, chiếm Thành đô, khi ra về đã treo khiên mộc lên cổng thành để ghi chiến công của mình.
6. I go Rưc zi kô vits - Đại công tước Ki ép, nối ngôi Ô leg sau khi qua đời, 912 - 945.
7. Onga - vợ I go, lên nối ngôi chồng sau khi chồng bà qua đời.
Yevgeny Yevtushenko - Odysseas Elytis
Maiakôpxki là nhà thơ lớn của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới và là nhà thơ lớn của nhân loại thế kỷ XX.Thơ của ông biểu hiện nhiệt tình công dân mãnh liệt, là tiếng hát của tương lai, của chủ nghĩa Cộng sản, và tiếng thét căm giận đả phá những mặt tiêu cực trong cuộc sống Xô Viết lúc bấy giờ. Nhà thơ của quãng trường, nhà thơ hùng biện, đó là những từ để mệnh danh người nghệ sĩ kiểu mới này. Ông rất ít viết về thơ tình. Trong dịp kỷ niệm 30 năm sinh của nhà thơ. Tạp chí Văn học Xô Viết ngoài việc giới thiệu những bài thơ chủ đề công dân và xã hội nổi tiếng, còn giới thiệu 2 bài thơ tình của ông. Tâm hồn nồng nhiệt, đẩy đến tận cùng mọi sự, ngay cả lý tưởng hay tình yêu đó là bản chất của thơ Maia.
Hải Kỳ - Đỗ Hoàng - Nguyễn Khắc Thạch
Pimen Pan-tren-cô _ Xéc-gây Da-côn-ni-cốp _ Anatôn Grêtanikốp
Mắc-xim Tăng-kơ (tên thật là Ép-ghê-ni Skuốc-kô) là nhà thơ của đồng ruộng, đất đai, đường sá, khắp các vùng của lãnh thổ Liên bang Xô-viết và rất nhiều nước khác.
XERGÂY ÊXÊNHIN(Trích từ “Những khúc bi ca” và tuyển tập thơ Xergây Êxênhin)
Ngày 22 tháng 10 năm 1987 Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố tên người được tặng giải thưởng Nôben văn học - nhà thơ Nga sống ở Mỹ Iosif Brodsky. I.Brodsky là nhà văn Nga thứ năm được nhận giải thưởng cao quý này. Sau I.Bunhin (1933), B.Pastemnac (1958), M. Solokhov (1965), A.Xongienhixun (1970).
Ludmila TatianitchevaTuổi tôi
OCTAVIO PAZ Tặng các nhà thơ André Breton và Benjamin Perêt
J.W.GOETHECa khúc thiêng liêng
LTS: Nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười (7 - 11) Sông Hương trân trọng giới thiệu chùm thơ của I.Bunhin, tác giả được giải Nobel 1933.
LTS: TOMMY OLOFSSON (1950) là một trong những nhà thơ "sung mãn" nhất Thụy-Điển hiện nay, tác giả bảy tập thơ (tính đến 1991). Ông còn là một chuyên gia về James Joyce, có bằng tiến sĩ văn chương của đại học Lund, tác giả hoặc người biên tập nhiều công trình biên khảo, và nhà phê bình văn nghệ nổi tiếng của nhật báo Thụy Điển Svenska Dagbladet. Bản dịch Thơ nguyên sơ dưới đây dựa theo bản Anh văn của Jean Pearson: Elemental Poems (White Pine Press, N.Y. 1991)
WISLAWA SZYMBORSKA (Nữ nhà thơ Ba Lan. Giải Nobel văn học 1996)
FRED MARCHANT (Mỹ) Tặng Diệu LinhTựa đề của bài thơ là viết sau ba mươi năm Mậu Thân. Ba mươi cái cúi đầu bắt buộc về những mất mát, những nỗi đau do chiến tranh gây ra.
Thi sĩ viết về những điều vi tế của cuộc sống, từ chối nói về mình và cả những người nổi tiếng. Cả cuộc đời, thi sĩ chỉ nhắc đến Thomas Mann một lần trong thơ như sự thiếu vắng con người - sự lưu lạc trên chính quê hương, tâm hồn mình. Và Brodsky, một tâm hồn bị lệch kênh, bị trục xuất… trong diễn văn Nobel. Và cả dòng sông tư nghị: Heraclite.Szymborska, nữ sĩ Ba Lan, là một bậc thầy về thơ nghị luận, viết thơ cũng như cả tiểu luận là để trả lời cảm xúc và câu hỏi: tôi không biết. Sinh 1923 tại Kornik, hiện sống tại Krakow. Viết khoảng 210 bài thơ và một ít tiểu luận từ 1952 đến nay. Nobel văn chương 1996 và nhiều giải thưởng danh dự khác.
PAVIL BUKHARAEP - IVAN SIÔLÔCỐP - IURI SMELIÔP
LTS: Là nhà thơ, tác giả của ba cuốn sách về thi ca. Cùng với Nguyễn Bá Chung ông đã cùng dịch tập thơ “Từ góc sân nhà em” của Trần Đăng Khoa. Ông là giáo sư Anh ngữ, Giám đốc chương trình sáng tạo viết văn của Đại học Suffolk. Ông còn là người thẩm định tác phẩm bậc thầy của Trung tâm William Joiner nghiên cứu về chiến tranh và hệ quả xã hội tại Umass Boston.Ông cũng là người giới thiệu hai cuốn sách Núi Bà Đen của Larry Heinemann và Cốm non (Green Rece) của Lâm Thị Mỹ Dạ đã được dịch ở Mỹ.
Baolin Cheng (Trương Bảo Lâm) là một nhà thơ thành công của “thế hệ thứ ba” các nhà thơ hiện đại Trung Quốc (thế hệ thứ nhất thuộc thời “ngũ tứ” 1919, thế hệ thứ hai được gọi là thế hệ “thơ mông lung” sau cải cách mở cửa). Hiện định cư tại San Françisco (Hoa Kỳ) với tư cách một nhà thơ song ngữ Hoa - Mỹ. Theo Paul Hoover, chủ biên cuốn “Thơ Hậu hiện đại Mỹ”, thơ Baolin Cheng sử dụng những cách thức của thơ siêu hình học- những chuyện kể nén chặt và những cấu trúc ý niệm - phục vụ cho các mục tiêu hiện thực chủ nghĩa. Những bài thơ sau đây của Baolin Cheng đã xuất bản ở Mỹ và Trung Quốc dưới hình thức song ngữ.
RUDYARD KIPLINGRUDYARD KIPLING (1865 Bombay - 1936 Londres) sống trong môi trường Anh-Ấn văn hóa rất cao, là một nhà văn nổi tiếng với những cuốn tiểu thuyết Le Livre de la Jungle (Cuốn sách của rừng xanh), Kim và là một nhà thơ . Thơ ông tập trung vào chủ đề giáo dục nhân cách và đạo đức. Bài thơ NẾU (IF) dưới đây là một bài thơ nổi tiếng của ông.
ALLEN GINSBERG(Tôn vinh Kenneth Koch) (1)LGT: Allen Ginsberg (1926 - 1997): là một nhà thơ hậu hiện đại Mỹ nổi tiếng trong trào lưu Beat cùng với Jack Kerowack và Williams S. Burroughs. Tốt nghiệp đại học năm 1948, làm đủ thứ nghề: thủy thủ, thợ nhà in, rửa bát, điểm sách, nhân viên tiếp thị.