Đêm Trắng

14:47 29/12/2009
OCTAVIO PAZ        Tặng các nhà thơ André Breton và Benjamin Perêt

Nhà thơ Octavio Paz - Ảnh: ac-grenoble.fr


Đêm Trắng


Vào mười giờ tối ở quán cà phê nước Anh
Ngoài 3 ta
                        chẳng có một ai
Bên ngoài là bước chân mùa thu bí ẩn
Bước chân của người mù vĩ đại
Của đại ngàn lướt đi trong thành phố
Với nghìn bàn tay, nghìn bàn chân mù sương
Gương mặt khói sương, con người không mặt
Mùa thu bước về trung tâm Paris.
Với bước chân thận trọng của người mù
Những người lướt trên đại lộ
Cử chỉ thầm lén toát lên từ bộ mặt
Một gái điếm xinh đẹp tựa một nữ giáo hoàng
Xuyên qua phố và biến mất trong một bức
                                                tường xanh lét.
Bức tường khép trở lại
Tất cả là cửa
Quá đủ rồi sức ép nhẹ từ một ý nghĩ
Đôi điều sắp sửa để nói với một
                                    ai đó giữa chúng ta
Thới khắc giữa hai người bị xé nát
Tôi đã đọc những dấu hiệu trên vầng trán
                                    khoảnh khắc này
Những kẻ sống đang sống
Bước như bay, chín muỗng, bục ra
Những kẻ chết đang sống
Những ống xương chưa hết nóng
Gió giật đứt và tung chúng lên
Từng nắm rơi giữa những cẳng chân của đêm
Thành phố mở lòng mình tựa một trái tim
Tựa một gương mặt mà bông hoa là quả chín
Khát khao lớn hơn cả sự phục sinh
Làm sống lại những khao khát
Đôi điều được sắp sẵn để nói
                                    cùng với thi nhân
Thậm chí với mùa thu chung chiêng này
Với tháng năm ốm đau này
Quả chín ma quái trượt giữa những bàn  tay của thế kỷ
Tháng năm sợ hãi, thời gian của tiếng than vãn và cắt vụn
Không một gương mặt ở nơi kia, tối nay
trong hầm ngầm của Londre
Những con mắt khả ố từ tấm gương mù lòa
Những đôi môi dầy thô bỉ
Không một ai có máu, không một ai mang danh
Chúng ta không có cả linh hồn và thân xác
Không có lấy một bộ mặt
Thời gian quay và quay, không ngừng trôi qua
Không có gì trôi qua nếu thời gian ngừng trôi
Và trở lại, rồi lại trôi qua
Thế rồi bất chợt một chớp mắt tuổi
                                                thiếu niên
Mang màu vàng mũi tên thần Cupidon
Đội chiếc mũ lưỡi trai màu ghi, chú chim
                                                sẻ can đảm và lưu lạc
Bé nhỏ và lấm tấm đỏ
Quả táo trên chiếc bàn cũ kỹ
Nhánh cây xanh trong sân nhà mùa đông
Đứa trẻ bị bỏ rơi và những chú mèo hoang
Hai cái cây ghét đôi bị buộc chặt
Hai cái cây đầy gai có những bông hoa
                                                nở bất ngờ
Chúng khoác màu áo tươi xanh
Sáng rực rỡ bàn tay chú nhóc
Bốn con chữ
Trên mỗi một ngón tay cháy lên những ngôi sao
Những thỏi mực tầu của người Trung Hoa
                                                và lòng đam mê
Những chiếc nhẫn cỏ phập phồng
Ô, bàn tay học sinh với chiếc cổ khát
                                                khao sự sống
Con chim mồi và chú ngựa què
Bàn tay làm những con mắt trong đêm hình dung
                                                được về cơ thể
Mặt trời bé con và dòng sông tươi xanh
Tay chú mang đến giấc mơ và hồi sinh
Tất cả là cửa
                        Tất cả là cầu
Bây giờ chúng ta bước trên một dòng sông khác
Nhìn thấp xuống cuộc chạy của dòng sông
                                                nhiều thế kỉ
Dòng sông của những kí hiệu
Ngắm nhìn cuộc chạy của dòng sông các vì sao
Chúng nhập vào nhau, tách ra, rồi gặp lại
Chúng nói với nhau bằng thứ ngôn ngữ của
                                    những cuộc hỏa hoạn
Những cuộc đấu của chúng, những mối tình của chúng
Sáng tạo và hủy diệt thế giới
Đêm mở lòng đêm
                                    vô tận bàn tay
Sự cãi nhau của những ký hiệu
Con chữ lặng im ca hát
Mọi thế kỷ hợp lại
Những âm tiết phát ra bằng giọng một người
Những ngôn từ một kẻ nào đó lắng nghe
Những đại sảnh nơi những cột trụ trong suốt
Dội lại những kí hiệu
Giây lát ngưng trên những mi mắt và
                                                nói điều gì đó
Những con mắt mở ra, lắng nghe rồi lại
                                                khép kín
Thủy triều dâng lên
                        sắp sửa điều gì
Chúng ta tung mình trong đêm
Những bè bạn ở xa
Tôi mang theo lời lẽ lao tựa như mang
                                                kho báu bốc cháy
Đấu tranh với dòng sông, với cơn gió mùa thu
Chống lại mùa thu, với ngôi nhà tối tăm
Tháng năm nơi đám hài cốt
Vun đống lại - thời gian chết chóc và bị phỉ nhổ
Những mùa bị hãm hiếp
Thế kỷ bị đẽo mòn trong một tiếng gào
Trong biên đồ hình chóp của dòng máu
Giờ gặm nhắm xương sống của ngày, của
                                                năm, và của thế kỷ
Chúng ta đã đánh mất tất cả những cuộc đắm
Tất cả những ngày đi kiếm tìm một Nàng thơ
Thành phố nhầu nhĩ
Gương mặt của nàng là gương mặt của bình yên tôi
Những đôi chân của nàng là gương mặt của bình yên tôi
Những đôi chân là chân phụ nữ
Thảy những trụ cầu trong phố
Dòng sông, dải thắt lưng của phong cảnh
                                                chết chìm
Thành phố hay sự hiện hữu của đàn bà
Chiếc quạt chỉ ra và che đi đời sống
Đẹp tựa sự nổi loạn của người nghèo
Vầng trán nàng mê sảng, nhưng mắt nàng
                                                cho ta uống lấy sự khôn ngoan
Nách nàng là đêm, nhưng ngực nàng ban ngày
Những từ của nàng là đá nhưng ngôn ngữ
                                                của nàng là cơn mưa
Vai nàng, ban trưa trên biển cả
Nụ cười nàng, mặt trời soi sáng những
                                                ngoại ô
Tóc nàng, nơi bùng lên cơn bão trên
                                    những vùng đất của rạng đông.
Bụng nàng mang hơi thở của biển
                                    và mạch đập của ngày
Tên nàng - thác nước và đồng cỏ
Tên nàng - mặt biển tràn đầy
Tất thảy tên của nước đều là tên nàng
Nhưng giới tính của nàng - hằng hà sa số
Phía này của tồn tại
Phía kia, thời gian
Mặt trái của đời sống
Nơi đây, kết thúc mọi thứ diễn văn
Cái đẹp chẳng dễ gì nắm được
Nơi đây, hiện hữu trở nên khủng khiếp
Chìm khuất vào trong, Hiện Hữu rỗng không
Cái rành mạch là không rành mạch
Nơi đây trả sự không rành mạch cho cái rành mạch
Ngôi sao mầu đen
Ánh sáng là bóng tối, bóng tối của ánh sáng
Nơi đây, thời gian đứng yên
Bốn đỉnh quan trọng cạnh nhau
Đó là chỗ của cô đơn và chỗ để gặp nhau
Thành phố - Đàn bà - Hiện hữu
Nơi đây điểm kết của thời gian
Và nơi để bắt đầu
                 
Giáng Vân dịch
(từ bản tiếng Pháp của Roger - Caillois)

(122/04-99)




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • JEZIBELl - RM.SHANMUGAM CHETTIAR

  • L.T.S: Cùng với Blok, Mai-a-cốp-xki, Ê-xê-nhin, Pa-xter-nak... Ma-ri-na Xvê-ta-ê-va (Marina Tsvetaeva 1892 - 1941) là một trong những nhà thơ Nga - Xô Viết lớn nhất của thế kỷ XX. Đường đời của bà là con đường đầy gian truân của một trí thức phải khắc phục nhiều lầm lỗi để đến với chân lý cách mạng. Một trái tim nồng cháy tình yêu Tổ quốc, dân tộc, nhưng Xvê-ta-ê-va mất gần 20 năm sau Cách mạng Tháng Mười sống lưu vong ở nước ngoài và trở về đất nước không được bao lâu thì mất.

  • OCTAVIO PAZ

    (Nobel Văn Chương 1990)

  • Eduardas Megielaitis sinh năm 1919 (đã mất 6/6/1997), Chủ tịch Hội Nhà văn  Litva (Liên Xô cũ) từ năm 1959, có tác phẩm được in từ 1934. Anh hùng lao động Liên Xô, Giải thưởng Lê-nin về văn học (năm 1961).

  • Lép Ôsanhi - Vlađimia Xôkôlôp

  • LGT: Charles Simic sinh năm 1938 tại Belgrade, Nam Tư. Năm 16 tuổi ông cùng với mẹ sang Mỹ sống với người cha ở New York City. Hiện ông là giáo sư khoa tiếng Anh ở trường Đại học New Hamsphire. Thơ Simic không dễ xếp loại. Một số bài thơ của ông có khuynh hướng siêu thực, siêu hình trong khi các bài khác là những chân dung hiện thực của bạo lực và tuyệt vọng.

  • Sam Hamill - Kevin Bowen - Martha Collins - Yusef Komunyakaa - Fred Marchant - Lady  Borton - Nguyễn Bá Chung - Bruc Weil - Carolyn Forché - Larry Heinemann - George Evans

  • F.G. Lorca: Nhà thơ Tây Ban Nha, một trong những nhà thơ lớn của thế kỷ, một chiến sĩ chống phát xít đã bị kẻ thù ám hại năm 1938, khi ông vừa tròn 40 tuổi.

  • Bạn đọc chắc hãy còn nhớ vào tháng 2 năm 2011, Tạp chí Sông Hương đón nhận sự ghé thăm của đoàn Nhà văn Nga, trong đó có nhà thơ Terekhin Vadim.

  • Jean Amrouche (1906-1962), người An-giê-ri, dạy học ở Tuy-ni-di, viết báo. Có nhiều thi phẩm in ra trước 1940. Chết trước khi An-giê-ri dành được độc lập, trong khi ông vẫn là một trong những người thành tâm và quyết liệt tìm giải pháp cho vấn đề thiết cốt này.

  • Từ nhiều thế kỷ nay, chúng ta đã quen với chuyện họa thơ Đường. Còn đây là một cuộc họa thơ bằng tiếng Tây Ban Nha. Và là một cuộc họa thơ độc đáo về Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

  • Trong một lần thăm Ang-co, tôi cùng đi với chị Khô Chan dra, một cựu sinh viên văn khoa Đại học Phnôm Pênh. Chị ở trong một gia đình trí thức công chức dưới thời Si-ha-nuc nên hầu hết những người thân đều bị Pôn Pốt sát hại.

  • L.T.S: Ma-xê-đoan (Nam Tư) là xứ sở thơ mộng của phong cảnh đẹp, của du lịch, hội hè và của thơ, là một cái nôi văn hoá cổ xưa của nhân loại, nằm trên bán đảo Ban-căng, có một cái gì gợi nên một số nét tương đồng với Huế.

  • L.T.S: “Mẹ và bom nơ-tơ-rôn” là trường ca của nhà thơ Liên Xô nổi tiếng E.Ép-tu-sen-cô. Trường ca được trao giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1984. Xin trân trọng giới thiệu một đoạn trích từ trường ca.

  • Nhà thơ nữ Ana Blandiana (sinh năm 1942) hiện là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học hiện đại Ru-ma-ni.

  • Paul Henry là một trong những nhà thơ hàng đầu xứ Wales. Được cố thi sĩ Ursula Askham Fanthorpe diễn tả như “một nhà thơ của nhà thơ”, kết hợp “cảm xúc nhạc của những con chữ với sự tưởng tượng sáng tạo không ngừng nghỉ”, ông đến với thơ qua việc viết lời ca.

  • PI-MEN PAN-TREN-CƠNhững vật dụng của lính

  • LTS: Bruce Weigl nhà thơ Mỹ từng là cựu chiến binh tham chiến tại Quảng Trị những năm 1967-1968. Là người chứng kiến những sự thật kinh hoàng trong chiến tranh Việt Nam, ông tìm đến với thơ ca như một sự cứu rỗi linh hồn. Năm 1987, Bruce Weigl lần đầu tiên trở lại Việt Nam và “Tôi không bao giờ tưởng tượng được người Việt Nam lại tiếp đãi mình ân cần như thế”.