An-giê-ri chiến đấu

10:05 07/07/2011
Jean Amrouche (1906-1962), người An-giê-ri, dạy học ở Tuy-ni-di, viết báo. Có nhiều thi phẩm in ra trước 1940. Chết trước khi An-giê-ri dành được độc lập, trong khi ông vẫn là một trong những người thành tâm và quyết liệt tìm giải pháp cho vấn đề thiết cốt này.

Jean Amrouche - Ảnh: internet

[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]

JEAN AMROUCHE



An-giê-ri chiến đấu


Đối với kẻ nghèo nàn nhất
đối với kẻ mình trần đi  dưới ánh mặt trời trong gió
trong mưa trong tuyết
đối với kẻ từ buổi chào đời
chẳng được bữa no
Người ta vẫn không rút bỏ được tên hắn
không rút bỏ được bài ca bằng tiếng mẹ đẻ
không rút bỏ được kỷ niệm cùng giấc mơ
Không rứt nó ra được khỏi quê hương, không rứt quê hương ra khỏi nó
Hắn nghèo hắn đói hắn trần truồng nhưng hắn giàu tên hắn
giàu một quê hương trên mặt đất lãnh địa của hắn
giàu một kho tàng ngụ ngôn và hình tượng
mà ngôn ngữ tổ tiên mang trong dòng chuyển động
như dòng sông mang sự sống.
Người ta đã lấy hết của người An-giê-ri
lấy quê hương và tên gọi quê hương
lấy ngôn ngữ cùng những lời ngạn ngữ thiêng liêng
từng làm túi khôn dẫn dắt bước đi con người
từ chiếc nôi
tới nấm mồ
lấy đất lẫn lúa lấy suối lẫn vườn
lấy thức ăn cho dạ dày và thức ăn cho linh hồn
danh dự
ân huệ được sống như con trời được sống như anh em
với mọi người
dưới ánh mặt trời trong gió trong mưa trong tuyết.
Người ta ném người An-giê-ri ra khỏi mọi quê hương con người
biến họ thành bọn mồ côi
biến họ thành bọn tù nhốt vào hiện tại vô ký ức
vô tương lai
đày ải họ lọt vào giữa những nấm mộ trên đất
của tổ tiên của lịch sử của ngôn ngữ và của tự do.
Cứ như thế
họ thúc thủ
họ còng lưng trong tro than dưới chiếc găng tay của ông chủ thuộc địa
ông có cảm tưởng rằng mục tiêu mình
sẽ thành đạt
rằng người dân An-giê-ri vì thế mà quên tên, quên ngôn ngữ và quên cái cốt làm người vốn trở lại trứt mầm
tự đó dưới ánh mặt trời trong gió trong nắng trong mưa, trong tuyết bên trong con người hắn.
Nhưng tha hồ bắt đói cơ thể
quất đau ý chí
đánh bẹp ngọn tự hào rắn rỏi nhất trên chiếc đe hạ nhục
người ta không thể tát cạn nguồn sâu
từ đây linh hồn côi cút mọc ngàn tơ rễ vô hình
hút nguồn sữa tự do.
Người ta đã từng hô hoán những lời lẽ anh em cao cả nhất
người ta đã từng hứa hẹn những lời thiêng liêng hơn cả
Người ta đã từng nói, hỡi người xứ An-giê-ri, thay vì một tổ quốc tự nhiên
nhưng đã mất
đây là tổ quốc đẹp hơn
đây là nước Pháp
rậm rừng sâu tua tủa ống khói
nhà máy
tràn ngập vinh quang công trình và thành thị
tràn ngập thánh địa
vàng rực mùa màng bao la dợn sóng
trước gió lịch sử như biển khơi
Người ta đã từng nói, hỡi người xứ An-giê-ri, hãy nhận tặng phẩm vương tôn nhất
là ngôn ngữ này
tấm áo dịu êm nhất trong sáng nhất vừa vặn nhất
cho trí óc
Nhưng người ta đã lấy mất của người dân xứ An-giê-ri quê cha đất tổ
Người ta chẳng mời họ dự vào bàn tiệc của nước Pháp
Lâu dài thay là sự thử thách của dối trá của hứa hẹn
không giữ lời
sự thử thách của hy vọng không thỏa
lâu dài và cay đắng
sự thử thách trui rèn trong bao lớp mồ hôi từ cuộc đợi chờ vô vọng
trong địa ngục lời người phản trắc
trong máu của những cuộc vùng dậy bị đè bẹp
như mùa gặt người sống.
Thế rồi đến một mùa trọng đại của lịch sử
ăm ắp bên sườn một khoang đầy những đứa con
bất khuất
nói bằng một ngôn ngữ mới
nói lên một lời sấm sét cuồng nộ thiêng liêng:
người ta hết phản chúng ta
người ta hết dối chúng ta
người ta hết khiến chúng ta bắt bóng
ánh trắng đỏ
mà thả mồi tự do
chúng ta muốn cư ngụ tên ta
sống hay chết trên đất mẹ
chúng ta không muốn một Tổ quốc mẹ ghẻ
cùng những dư thừa ngập ngụa từ những tiệc tùng của nó
chúng tôi muốn quê cha đất tổ
ngôn ngữ của cha ông
giai điệu của những giấc mơ của khúc hát chúng ta
trên nôi trên mộ chúng ta
Chúng tôi không còn muốn vất vưởng lưu đày
trong hiện tại vô ký ức vô tương lai
Ngay đây và bây giờ
Chúng tôi muốn
tự do vĩnh viễn dưới ánh mặt trời trong gió trong mưa trong tuyết
chúng tôi muốn Tổ quốc chúng tôi: An-giê-ri.

BỬU Ý dịch
Từ tập sách vàng thi ca hiện đại Pháp từ 1940 đến 1960 do Pierre Seghers biên soạn, 1969.
(16/12-85)






Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • JEZIBELl - RM.SHANMUGAM CHETTIAR

  • L.T.S: Cùng với Blok, Mai-a-cốp-xki, Ê-xê-nhin, Pa-xter-nak... Ma-ri-na Xvê-ta-ê-va (Marina Tsvetaeva 1892 - 1941) là một trong những nhà thơ Nga - Xô Viết lớn nhất của thế kỷ XX. Đường đời của bà là con đường đầy gian truân của một trí thức phải khắc phục nhiều lầm lỗi để đến với chân lý cách mạng. Một trái tim nồng cháy tình yêu Tổ quốc, dân tộc, nhưng Xvê-ta-ê-va mất gần 20 năm sau Cách mạng Tháng Mười sống lưu vong ở nước ngoài và trở về đất nước không được bao lâu thì mất.

  • OCTAVIO PAZ

    (Nobel Văn Chương 1990)

  • Eduardas Megielaitis sinh năm 1919 (đã mất 6/6/1997), Chủ tịch Hội Nhà văn  Litva (Liên Xô cũ) từ năm 1959, có tác phẩm được in từ 1934. Anh hùng lao động Liên Xô, Giải thưởng Lê-nin về văn học (năm 1961).

  • Lép Ôsanhi - Vlađimia Xôkôlôp

  • LGT: Charles Simic sinh năm 1938 tại Belgrade, Nam Tư. Năm 16 tuổi ông cùng với mẹ sang Mỹ sống với người cha ở New York City. Hiện ông là giáo sư khoa tiếng Anh ở trường Đại học New Hamsphire. Thơ Simic không dễ xếp loại. Một số bài thơ của ông có khuynh hướng siêu thực, siêu hình trong khi các bài khác là những chân dung hiện thực của bạo lực và tuyệt vọng.

  • Sam Hamill - Kevin Bowen - Martha Collins - Yusef Komunyakaa - Fred Marchant - Lady  Borton - Nguyễn Bá Chung - Bruc Weil - Carolyn Forché - Larry Heinemann - George Evans

  • F.G. Lorca: Nhà thơ Tây Ban Nha, một trong những nhà thơ lớn của thế kỷ, một chiến sĩ chống phát xít đã bị kẻ thù ám hại năm 1938, khi ông vừa tròn 40 tuổi.

  • Bạn đọc chắc hãy còn nhớ vào tháng 2 năm 2011, Tạp chí Sông Hương đón nhận sự ghé thăm của đoàn Nhà văn Nga, trong đó có nhà thơ Terekhin Vadim.

  • Từ nhiều thế kỷ nay, chúng ta đã quen với chuyện họa thơ Đường. Còn đây là một cuộc họa thơ bằng tiếng Tây Ban Nha. Và là một cuộc họa thơ độc đáo về Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

  • Trong một lần thăm Ang-co, tôi cùng đi với chị Khô Chan dra, một cựu sinh viên văn khoa Đại học Phnôm Pênh. Chị ở trong một gia đình trí thức công chức dưới thời Si-ha-nuc nên hầu hết những người thân đều bị Pôn Pốt sát hại.

  • L.T.S: Ma-xê-đoan (Nam Tư) là xứ sở thơ mộng của phong cảnh đẹp, của du lịch, hội hè và của thơ, là một cái nôi văn hoá cổ xưa của nhân loại, nằm trên bán đảo Ban-căng, có một cái gì gợi nên một số nét tương đồng với Huế.

  • L.T.S: “Mẹ và bom nơ-tơ-rôn” là trường ca của nhà thơ Liên Xô nổi tiếng E.Ép-tu-sen-cô. Trường ca được trao giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1984. Xin trân trọng giới thiệu một đoạn trích từ trường ca.

  • Nhà thơ nữ Ana Blandiana (sinh năm 1942) hiện là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học hiện đại Ru-ma-ni.

  • Paul Henry là một trong những nhà thơ hàng đầu xứ Wales. Được cố thi sĩ Ursula Askham Fanthorpe diễn tả như “một nhà thơ của nhà thơ”, kết hợp “cảm xúc nhạc của những con chữ với sự tưởng tượng sáng tạo không ngừng nghỉ”, ông đến với thơ qua việc viết lời ca.

  • PI-MEN PAN-TREN-CƠNhững vật dụng của lính

  • LTS: Bruce Weigl nhà thơ Mỹ từng là cựu chiến binh tham chiến tại Quảng Trị những năm 1967-1968. Là người chứng kiến những sự thật kinh hoàng trong chiến tranh Việt Nam, ông tìm đến với thơ ca như một sự cứu rỗi linh hồn. Năm 1987, Bruce Weigl lần đầu tiên trở lại Việt Nam và “Tôi không bao giờ tưởng tượng được người Việt Nam lại tiếp đãi mình ân cần như thế”.

  • PABLO NERUDATrên đỉnh Machu Picchu(*)