Jean Amrouche - Ảnh: internet
[if gte mso 9]> JEAN AMROUCHE An-giê-ri chiến đấu Đối với kẻ nghèo nàn nhất đối với kẻ mình trần đi dưới ánh mặt trời trong gió trong mưa trong tuyết đối với kẻ từ buổi chào đời chẳng được bữa no Người ta vẫn không rút bỏ được tên hắn không rút bỏ được bài ca bằng tiếng mẹ đẻ không rút bỏ được kỷ niệm cùng giấc mơ Không rứt nó ra được khỏi quê hương, không rứt quê hương ra khỏi nó Hắn nghèo hắn đói hắn trần truồng nhưng hắn giàu tên hắn giàu một quê hương trên mặt đất lãnh địa của hắn giàu một kho tàng ngụ ngôn và hình tượng mà ngôn ngữ tổ tiên mang trong dòng chuyển động như dòng sông mang sự sống. Người ta đã lấy hết của người An-giê-ri lấy quê hương và tên gọi quê hương lấy ngôn ngữ cùng những lời ngạn ngữ thiêng liêng từng làm túi khôn dẫn dắt bước đi con người từ chiếc nôi tới nấm mồ lấy đất lẫn lúa lấy suối lẫn vườn lấy thức ăn cho dạ dày và thức ăn cho linh hồn danh dự ân huệ được sống như con trời được sống như anh em với mọi người dưới ánh mặt trời trong gió trong mưa trong tuyết. Người ta ném người An-giê-ri ra khỏi mọi quê hương con người biến họ thành bọn mồ côi biến họ thành bọn tù nhốt vào hiện tại vô ký ức vô tương lai đày ải họ lọt vào giữa những nấm mộ trên đất của tổ tiên của lịch sử của ngôn ngữ và của tự do. Cứ như thế họ thúc thủ họ còng lưng trong tro than dưới chiếc găng tay của ông chủ thuộc địa ông có cảm tưởng rằng mục tiêu mình sẽ thành đạt rằng người dân An-giê-ri vì thế mà quên tên, quên ngôn ngữ và quên cái cốt làm người vốn trở lại trứt mầm tự đó dưới ánh mặt trời trong gió trong nắng trong mưa, trong tuyết bên trong con người hắn. Nhưng tha hồ bắt đói cơ thể quất đau ý chí đánh bẹp ngọn tự hào rắn rỏi nhất trên chiếc đe hạ nhục người ta không thể tát cạn nguồn sâu từ đây linh hồn côi cút mọc ngàn tơ rễ vô hình hút nguồn sữa tự do. Người ta đã từng hô hoán những lời lẽ anh em cao cả nhất người ta đã từng hứa hẹn những lời thiêng liêng hơn cả Người ta đã từng nói, hỡi người xứ An-giê-ri, thay vì một tổ quốc tự nhiên nhưng đã mất đây là tổ quốc đẹp hơn đây là nước Pháp rậm rừng sâu tua tủa ống khói nhà máy tràn ngập vinh quang công trình và thành thị tràn ngập thánh địa vàng rực mùa màng bao la dợn sóng trước gió lịch sử như biển khơi Người ta đã từng nói, hỡi người xứ An-giê-ri, hãy nhận tặng phẩm vương tôn nhất là ngôn ngữ này tấm áo dịu êm nhất trong sáng nhất vừa vặn nhất cho trí óc Nhưng người ta đã lấy mất của người dân xứ An-giê-ri quê cha đất tổ Người ta chẳng mời họ dự vào bàn tiệc của nước Pháp Lâu dài thay là sự thử thách của dối trá của hứa hẹn không giữ lời sự thử thách của hy vọng không thỏa lâu dài và cay đắng sự thử thách trui rèn trong bao lớp mồ hôi từ cuộc đợi chờ vô vọng trong địa ngục lời người phản trắc trong máu của những cuộc vùng dậy bị đè bẹp như mùa gặt người sống. Thế rồi đến một mùa trọng đại của lịch sử ăm ắp bên sườn một khoang đầy những đứa con bất khuất nói bằng một ngôn ngữ mới nói lên một lời sấm sét cuồng nộ thiêng liêng: người ta hết phản chúng ta người ta hết dối chúng ta người ta hết khiến chúng ta bắt bóng ánh trắng đỏ mà thả mồi tự do chúng ta muốn cư ngụ tên ta sống hay chết trên đất mẹ chúng ta không muốn một Tổ quốc mẹ ghẻ cùng những dư thừa ngập ngụa từ những tiệc tùng của nó chúng tôi muốn quê cha đất tổ ngôn ngữ của cha ông giai điệu của những giấc mơ của khúc hát chúng ta trên nôi trên mộ chúng ta Chúng tôi không còn muốn vất vưởng lưu đày trong hiện tại vô ký ức vô tương lai Ngay đây và bây giờ Chúng tôi muốn tự do vĩnh viễn dưới ánh mặt trời trong gió trong mưa trong tuyết chúng tôi muốn Tổ quốc chúng tôi: An-giê-ri. BỬU Ý dịch Từ tập sách vàng thi ca hiện đại Pháp từ 1940 đến 1960 do Pierre Seghers biên soạn, 1969. (16/12-85) |
THÁI KIM LAN
KINHIN* im Frühling
(*Das Gehen in Achsamkeit und Bewußtheit)
EVGHÊNI EVTUSENKÔ
Tưởng niệm Anđrây Đimitiêvich Xakharôv
LTS: Ca khúc “Thời gian đang chuyển mình” được phát hành trong album cùng tên vào năm 1964. Dylan viết ca khúc này nhằm phản ánh những sự biến đổi của thời cuộc.
Thi sĩ Christopher Merrill được giới phê bình văn chương Mỹ trân trọng, như W.S. Merwin đánh giá, là “một trong những nhà thơ tài năng, táo bạo, và thành công nhất của một thế hệ thi ca hiện đại.”
Nhà thơ Müesser Yeniay, sinh năm 1984, tại Izmir - Thổ Nhĩ Kỳ. Chị tốt nghiệp Đại học Ege môn Anh ngữ và Văn học, nhận bằng Tiến sĩ Văn học Thổ Nhĩ Kỳ tại Đại học Bilkent. Chị từng đoạt một số giải thưởng Văn học tại Thổ Nhĩ Kỳ. Thơ Müesser Yeniay đã được dịch sang nhiều thứ tiếng. Müesser Yeniay hiện là biên tập viên Tạp chí Văn học Şiirden, Thổ Nhĩ Kỳ.
Jan Skacel (1922 - 1989) là một trong số những nhà thơ chủ chốt trong văn học Séc nửa sau thế kỷ 20. Ông cũng là nhân vật có vai trò quan trọng trong đời sống văn học Tiệp Khắc với tư cách là Tổng Biên tập tạp chí Host do domu trong các năm từ 1963 đến 1969.
LTS: Khi Sông Hương gửi những dòng thơ này đến với bạn đọc thì Paris đã yên bình sau cơn ác mộng khủng bố IS. Nhân loại đang đứng bên người Pháp: “Je suis Paris! Tôi là Paris! Nhân loại là Paris!” Lá cờ nước Pháp nhung phủ hàng triệu gương mặt người. Và những bài thơ dành cho Paris đã ngân lên, đơn giản, đó là biểu tượng xứ sở nghệ thuật của thế giới, là nơi Cách mạng Pháp với Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền đã mở ra một kỷ nguyên hoàn toàn mới cho nhân loại…
Buổi sáng ngày 11 tháng 9 năm 2001, bạn làm gì?
LTS: "Maiacôpxki là lá cờ đầu của thơ ca tháng Mười. Và làm thơ ca ngợi cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, ông luôn luôn đặt ra những câu hỏi lớn về viễn cảnh của cuộc cách mạng, về tương lai của nhân loại.
LGT: Nhà thơ Charles Simic sinh vào ngày 9/5/1938 tại Nam Tư, nơi ông có một tuổi thơ đau thương trong chiến tranh thế giới thứ II. Năm 1954, ông theo gia đình di cư sang Mỹ.
JOSEPH BRODSKY
LTS: Sinh năm 1940 tại Peterbuorg. Năm 1970, ông sang định cư ở Mỹ và dạy học tại Đại học Columbia. Ông làm thơ bằng tiếng Nga và tiếng Anh. Năm 1987 ông đoạt giải Nobel văn chương.
Những bài thơ Sông Hương chọn giới thiệu được trích trong tập “Tĩnh vật và những bài thơ khác” từ bản dịch của Hoàng Ngọc Biên.
Billy Collins (sinh ngày 22/3/1941) là thi sĩ nổi tiếng ở Mỹ. Ông đã từng hai lần được bầu là Thi bá, hay còn gọi là Nhà thơ danh dự (Poet Laureate) của Hoa Kỳ, lần đầu vào năm 2001 và lần thứ hai vào năm 2003. Trong các năm từ 2004 đến 2006 ông được bầu là Thi sĩ của bang New York.
LGT: Nakahara Chuya (Trung Nguyên Trung Dã) (1907-1937) là một gương mặt chói ngời của văn học Nhật Bản cận đại dù mất ở tuổi ba mươi và chỉ kịp để lại hai thi tập “Bài ca sơn dương” (Yagi no uta) và “Bài ca ngày tháng cũ” (Arishihi no uta).
EVGHÊNHI EVTUSENKÔ
A. VÔZNHÊXENXKI
LTS: Ngày 18-2-1987, phiên họp của Ban thư ký Hội nhà văn Liên Xô đã hủy bỏ quyết định năm 1958 khai trừ nhà thơ, nhà văn Xô-viết Bôrít Pasternak ra khỏi Hội nhà văn.
Liana Margescu sinh ngày 7/5/1969 tại Campulung Muscel, ở Romania trong một thị trấn nhỏ miền núi. Vì là đứa con duy nhất nên người cha còn hơn là hình tượng một người cha đã đóng một vai trò thiết yếu trong sự trưởng thành của con gái. Một người cha dạy những giá trị đích thực của đời sống, như là tình bằng hữu, tự do, sự thật, ngay cả khi Romania nằm dưới sự kiểm soát của chế độ chuyên chế Ceausescu. Tác giả đã nhận được giải thưởng ở Italia.
Jaroslav Seifert - Frana Sramek - Miroslav Kapek - Michal Cernik
Gwendolyn Elizabeth Brooks (1917 - 2000), là nhà thơ Hoa Kỳ gốc châu Phi. Bà từng có thơ đăng tạp chí từ năm 13 tuổi. Năm 1950 bà được giải Pulitzer về thơ, và như thế là người da đen đầu tiên ở Hoa Kỳ có vinh dự này.
A.X.PUSKIN
Khúc ca về Ô leg minh quân