Trang thơ Charles Simic

14:22 27/04/2012

LGT: Charles Simic sinh năm 1938 tại Belgrade, Nam Tư. Năm 16 tuổi ông cùng với mẹ sang Mỹ sống với người cha ở New York City. Hiện ông là giáo sư khoa tiếng Anh ở trường Đại học New Hamsphire. Thơ Simic không dễ xếp loại. Một số bài thơ của ông có khuynh hướng siêu thực, siêu hình trong khi các bài khác là những chân dung hiện thực của bạo lực và tuyệt vọng.

Nhà thơ Charles Simic, Ảnh: harcourt.com

CHARLES SIMIC


Kiến trúc bi thảm

Trường học, nhà tù, những cái cây trong gió
Ta trèo những cầu thang ảm đạm của các ngươi,
Đứng trong những góc xa nhất của các ngươi
Mặt nhìn vào vách


Tên sát nhân ngồi hàng đầu.
Một cô bé Opelia điên dại
Viết lên bảng đen ngày tháng hôm nay.
Đao phủ là người bạn tốt nhất của tôi.
Hắn đã mặc đồ đen rồi.
Người giữ nhà đem chuột nhắt cho chúng tôi chơi
Trong căn phòng ấy những hoàng hôn đỏ
Là thời gian cho vĩnh cửu nói,
Nên chúng tôi nghe
Như thể tim mình làm bằng đá.


Tất cả bây giờ đổ nát
Những bức tường nứt, tróc
Mọi cửa sổ đều vỡ
Không còn đến một bóng đèn trần trụi
Cho người tù bị quên trong cô vắng
Và cậu học trò bị rớt lại đằng sau
Ngắm nhìn cây mùa đông trụi lá
Bị gió quất tơi bời.



Những que diêm

Tối mò khi tôi bước
Trên phố
Nhưng rồi ông xuất hiện
Người chơi diêm
Trong những giấc mộng của tôi


Tôi chưa bao giờ thấy
Mặt ông mắt ông


Sao bao giờ tôi cũng
Phải chậm chạp thế nhỉ
Và những que diêm đã cháy
Xuống sát ngón tay ông


Nếu là ngôi nhà
Chỉ kịp nhìn một thoáng
Nếu là một đàn bà
Chỉ một cái hôn thôi
Rồi bóng tối chập lại


Thì tôi có thể đang ăn tối
Đang đắp một quả tuyết cầu
Đang được Giáo Hoàng La Mã
Nhổ cho mấy cái răng
Hoặc đang trần truồng chạy
Trên một bãi chiến trường


Người chơi diêm
Biết mà không nói
Ông chỉ thích những trò chơi bỏ dở
Những thành phố khó nhận mặt
Những tình yêu lớn ra đi
Trong một hơi thổi phù.

 

minh họa: Nhím


Thành phố

Góc phố nào cũng ít nhất một người bị đóng đinh câu rút.
Những con mắt một kẻ thần bí, điên dại, sát nhân.
Chúng biết sự tuẫn tiết ấy thực sự chẳng vì cái gì hết.
Những con mắt biết. Mọi đau đớn của kẻ tuẫn đạo
Bày cả ra. Mẹ cao quý của tất cả chúng ta
Nâng niu những chiếc bọc của bà trên vỉa hè
Nói với từng chiếc như thể nó là đứa con thần thánh.


Có nhiều kẻ không hề thấy những cảnh ấy
Một cặp hôn hít nhau thèm khát không rời
Ngay chỗ ai đó nằm phủ tờ nhật báo
Với cặp bàn chân đẫm máu, sưng to gấp đôi,
Thò ra trong cái lạnh của ngày,
Chứng cớ ảm đạm của một học thuyết mới.


Anh biết không, tôi sợ. Một người đàn ông rú lên
Rồi tiếp tục bước đi như không có gì xảy ra.
Tôi tìm kiếm mắt người ai cũng tránh mắt tôi.
Tôi bắt đầu giống người đàn ông ấy chút nào chăng?
Tôi không có lời đáp nào cho những câu hỏi ấy.
Người bị đóng đinh câu rút ở góc phố bên cũng vậy.


Hoàng Hưng dịch
(SH278/4-12)








 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • JEZIBELl - RM.SHANMUGAM CHETTIAR

  • L.T.S: Cùng với Blok, Mai-a-cốp-xki, Ê-xê-nhin, Pa-xter-nak... Ma-ri-na Xvê-ta-ê-va (Marina Tsvetaeva 1892 - 1941) là một trong những nhà thơ Nga - Xô Viết lớn nhất của thế kỷ XX. Đường đời của bà là con đường đầy gian truân của một trí thức phải khắc phục nhiều lầm lỗi để đến với chân lý cách mạng. Một trái tim nồng cháy tình yêu Tổ quốc, dân tộc, nhưng Xvê-ta-ê-va mất gần 20 năm sau Cách mạng Tháng Mười sống lưu vong ở nước ngoài và trở về đất nước không được bao lâu thì mất.

  • OCTAVIO PAZ

    (Nobel Văn Chương 1990)

  • Eduardas Megielaitis sinh năm 1919 (đã mất 6/6/1997), Chủ tịch Hội Nhà văn  Litva (Liên Xô cũ) từ năm 1959, có tác phẩm được in từ 1934. Anh hùng lao động Liên Xô, Giải thưởng Lê-nin về văn học (năm 1961).

  • Lép Ôsanhi - Vlađimia Xôkôlôp

  • Sam Hamill - Kevin Bowen - Martha Collins - Yusef Komunyakaa - Fred Marchant - Lady  Borton - Nguyễn Bá Chung - Bruc Weil - Carolyn Forché - Larry Heinemann - George Evans

  • F.G. Lorca: Nhà thơ Tây Ban Nha, một trong những nhà thơ lớn của thế kỷ, một chiến sĩ chống phát xít đã bị kẻ thù ám hại năm 1938, khi ông vừa tròn 40 tuổi.

  • Bạn đọc chắc hãy còn nhớ vào tháng 2 năm 2011, Tạp chí Sông Hương đón nhận sự ghé thăm của đoàn Nhà văn Nga, trong đó có nhà thơ Terekhin Vadim.

  • Jean Amrouche (1906-1962), người An-giê-ri, dạy học ở Tuy-ni-di, viết báo. Có nhiều thi phẩm in ra trước 1940. Chết trước khi An-giê-ri dành được độc lập, trong khi ông vẫn là một trong những người thành tâm và quyết liệt tìm giải pháp cho vấn đề thiết cốt này.

  • Từ nhiều thế kỷ nay, chúng ta đã quen với chuyện họa thơ Đường. Còn đây là một cuộc họa thơ bằng tiếng Tây Ban Nha. Và là một cuộc họa thơ độc đáo về Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

  • Trong một lần thăm Ang-co, tôi cùng đi với chị Khô Chan dra, một cựu sinh viên văn khoa Đại học Phnôm Pênh. Chị ở trong một gia đình trí thức công chức dưới thời Si-ha-nuc nên hầu hết những người thân đều bị Pôn Pốt sát hại.

  • L.T.S: Ma-xê-đoan (Nam Tư) là xứ sở thơ mộng của phong cảnh đẹp, của du lịch, hội hè và của thơ, là một cái nôi văn hoá cổ xưa của nhân loại, nằm trên bán đảo Ban-căng, có một cái gì gợi nên một số nét tương đồng với Huế.

  • L.T.S: “Mẹ và bom nơ-tơ-rôn” là trường ca của nhà thơ Liên Xô nổi tiếng E.Ép-tu-sen-cô. Trường ca được trao giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1984. Xin trân trọng giới thiệu một đoạn trích từ trường ca.

  • Nhà thơ nữ Ana Blandiana (sinh năm 1942) hiện là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học hiện đại Ru-ma-ni.

  • Paul Henry là một trong những nhà thơ hàng đầu xứ Wales. Được cố thi sĩ Ursula Askham Fanthorpe diễn tả như “một nhà thơ của nhà thơ”, kết hợp “cảm xúc nhạc của những con chữ với sự tưởng tượng sáng tạo không ngừng nghỉ”, ông đến với thơ qua việc viết lời ca.

  • PI-MEN PAN-TREN-CƠNhững vật dụng của lính

  • LTS: Bruce Weigl nhà thơ Mỹ từng là cựu chiến binh tham chiến tại Quảng Trị những năm 1967-1968. Là người chứng kiến những sự thật kinh hoàng trong chiến tranh Việt Nam, ông tìm đến với thơ ca như một sự cứu rỗi linh hồn. Năm 1987, Bruce Weigl lần đầu tiên trở lại Việt Nam và “Tôi không bao giờ tưởng tượng được người Việt Nam lại tiếp đãi mình ân cần như thế”.

  • PABLO NERUDATrên đỉnh Machu Picchu(*)