Trang thơ Bê-lô-ru-xi-a

08:53 14/02/2011
PI-MEN PAN-TREN-CƠNhững vật dụng của lính

Ảnh: Internet


… Vậy là anh từ mặt trận đã trở về
Chiếc áo lính của anh đã phai màu, loang lỗ!
Mẹ và chị, anh và em, đều mừng rỡ,
Và những người làng… Nghe nức nở chung quanh.

Tuổi chưa được tứ tuần, tóc đã hết màu xanh.
Ngồi bên cạnh, những láng giềng ràn nước mắt:
- Anh may thế! Từ chiến trường, anh về được
Còn người nhà chúng tôi không còn kịp ra về…

Đều trong cốc hai phần: lệ và rượu vôt-ca
Nghe má ướt, lặng thầm đưa tay quệt
Chút hành lý từ chiến trường mang theo được:
Túi khoác, đai da, và ruột tượng quàng vai.

Và chiếc cà-mèn tôi đem được về đây
Giờ coi nó nhỏ nhoi và tội nghiệp!
Liệu có tiếc hay không? Chiếc cà-mèn được việc
Thành đồ chơi cho con, hoặc ninh cháo, cố nhiên.

Tôi chuyển sang mặc một bộ sơ-vin,
Và lại cóng tay mỗi khi dùng cà-vạt.
Chiếc áo lính ngày xưa tôi từng mặc
Đến bây giờ lại khoác ấm vai ai

… Không thể nào ký ức chịu phôi phai
Một câu hỏi tôi nêu rồi, nêu nữa:
Làm cách nào mà, bạn ơi, biết giữ
Những vật dụng của lính, tự chiến trường?



A-LẾCH-XÂY RU-XET-XKI


Không đề


Giờ đã chẳng còn gì hơn nữa
Tất thảy thông thường, ngay đến cả trong mơ
Năm cũ đã qua, và năm mới đến…
Lá theo lá bay đi, tuyết tìm tuyết bay về.

Tôi thấy hết rồi - còn gì mà chẳng thấy
Êm ái đôi bàn tay, bỏng rẫy nỗi lo âu,
Cả sáng sủa chân thành cả mây mờ giả dối
Và thấy nhói nơi chân - viên đạn của quân thù.

Đến như tôi giờ vẫn còn lưỡng lự
Ánh sáng mới đấy chăng - dấu tích dĩ vãng ư?
Ngày sẽ mịt mờ hay sẽ ngày rạng rỡ?
Lá theo lá bay đi, tuyết tìm tuyết bay về.

Riêng cuộc sống cứ muôn đời khao khát
Mặt lá tơ non, sắc tuyết trắng ngần
Và ánh lửa từ mắt người mới gặp
Tặng danh tôi, từ sâu thẳm cõi lòng.

Chỉ cuộc sống vẫn khát khao kiêu hãnh
Sự thật muôn năm không tắt lặng trên đời
Để tự tay viết những dòng can đảm
Để bảo toàn vẻ đẹp của đất đai…


ĐĂNG BẨY dịch
(10/12-84)




Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • JEZIBELl - RM.SHANMUGAM CHETTIAR

  • L.T.S: Cùng với Blok, Mai-a-cốp-xki, Ê-xê-nhin, Pa-xter-nak... Ma-ri-na Xvê-ta-ê-va (Marina Tsvetaeva 1892 - 1941) là một trong những nhà thơ Nga - Xô Viết lớn nhất của thế kỷ XX. Đường đời của bà là con đường đầy gian truân của một trí thức phải khắc phục nhiều lầm lỗi để đến với chân lý cách mạng. Một trái tim nồng cháy tình yêu Tổ quốc, dân tộc, nhưng Xvê-ta-ê-va mất gần 20 năm sau Cách mạng Tháng Mười sống lưu vong ở nước ngoài và trở về đất nước không được bao lâu thì mất.

  • OCTAVIO PAZ

    (Nobel Văn Chương 1990)

  • Eduardas Megielaitis sinh năm 1919 (đã mất 6/6/1997), Chủ tịch Hội Nhà văn  Litva (Liên Xô cũ) từ năm 1959, có tác phẩm được in từ 1934. Anh hùng lao động Liên Xô, Giải thưởng Lê-nin về văn học (năm 1961).

  • Lép Ôsanhi - Vlađimia Xôkôlôp

  • LGT: Charles Simic sinh năm 1938 tại Belgrade, Nam Tư. Năm 16 tuổi ông cùng với mẹ sang Mỹ sống với người cha ở New York City. Hiện ông là giáo sư khoa tiếng Anh ở trường Đại học New Hamsphire. Thơ Simic không dễ xếp loại. Một số bài thơ của ông có khuynh hướng siêu thực, siêu hình trong khi các bài khác là những chân dung hiện thực của bạo lực và tuyệt vọng.

  • Sam Hamill - Kevin Bowen - Martha Collins - Yusef Komunyakaa - Fred Marchant - Lady  Borton - Nguyễn Bá Chung - Bruc Weil - Carolyn Forché - Larry Heinemann - George Evans

  • F.G. Lorca: Nhà thơ Tây Ban Nha, một trong những nhà thơ lớn của thế kỷ, một chiến sĩ chống phát xít đã bị kẻ thù ám hại năm 1938, khi ông vừa tròn 40 tuổi.

  • Bạn đọc chắc hãy còn nhớ vào tháng 2 năm 2011, Tạp chí Sông Hương đón nhận sự ghé thăm của đoàn Nhà văn Nga, trong đó có nhà thơ Terekhin Vadim.

  • Jean Amrouche (1906-1962), người An-giê-ri, dạy học ở Tuy-ni-di, viết báo. Có nhiều thi phẩm in ra trước 1940. Chết trước khi An-giê-ri dành được độc lập, trong khi ông vẫn là một trong những người thành tâm và quyết liệt tìm giải pháp cho vấn đề thiết cốt này.

  • Từ nhiều thế kỷ nay, chúng ta đã quen với chuyện họa thơ Đường. Còn đây là một cuộc họa thơ bằng tiếng Tây Ban Nha. Và là một cuộc họa thơ độc đáo về Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

  • Trong một lần thăm Ang-co, tôi cùng đi với chị Khô Chan dra, một cựu sinh viên văn khoa Đại học Phnôm Pênh. Chị ở trong một gia đình trí thức công chức dưới thời Si-ha-nuc nên hầu hết những người thân đều bị Pôn Pốt sát hại.

  • L.T.S: Ma-xê-đoan (Nam Tư) là xứ sở thơ mộng của phong cảnh đẹp, của du lịch, hội hè và của thơ, là một cái nôi văn hoá cổ xưa của nhân loại, nằm trên bán đảo Ban-căng, có một cái gì gợi nên một số nét tương đồng với Huế.

  • L.T.S: “Mẹ và bom nơ-tơ-rôn” là trường ca của nhà thơ Liên Xô nổi tiếng E.Ép-tu-sen-cô. Trường ca được trao giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1984. Xin trân trọng giới thiệu một đoạn trích từ trường ca.

  • Nhà thơ nữ Ana Blandiana (sinh năm 1942) hiện là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học hiện đại Ru-ma-ni.

  • Paul Henry là một trong những nhà thơ hàng đầu xứ Wales. Được cố thi sĩ Ursula Askham Fanthorpe diễn tả như “một nhà thơ của nhà thơ”, kết hợp “cảm xúc nhạc của những con chữ với sự tưởng tượng sáng tạo không ngừng nghỉ”, ông đến với thơ qua việc viết lời ca.

  • LTS: Bruce Weigl nhà thơ Mỹ từng là cựu chiến binh tham chiến tại Quảng Trị những năm 1967-1968. Là người chứng kiến những sự thật kinh hoàng trong chiến tranh Việt Nam, ông tìm đến với thơ ca như một sự cứu rỗi linh hồn. Năm 1987, Bruce Weigl lần đầu tiên trở lại Việt Nam và “Tôi không bao giờ tưởng tượng được người Việt Nam lại tiếp đãi mình ân cần như thế”.

  • PABLO NERUDATrên đỉnh Machu Picchu(*)