Chùm thơ Nga Iosif Brodsky

15:54 07/05/2010
Ngày 22 tháng 10 năm 1987 Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố tên người được tặng giải thưởng Nôben văn học - nhà thơ Nga sống ở Mỹ Iosif Brodsky. I.Brodsky là nhà văn Nga thứ năm được nhận giải thưởng cao quý này. Sau I.Bunhin (1933), B.Pastemnac (1958), M. Solokhov (1965), A.Xongienhixun (1970).

Thi hào Nga Iosif Brodsky - wikipedia.org

I.Brodsky (sinh năm 1946) là một trong những người trẻ tuổi nhất được tặng giải thưởng Nôbel văn học. Những sáng tác của ông trong hơn hai chục năm qua đã nổi tiếng khắp thế giới ông được công nhận không chỉ là của người dẫn đầu của các nhà thơ viết bằng tiếng Nga mà còn là một trong những nhân vật sáng giá nhất của nền thi ca hiện đại trên toàn thế giới.
Trong sáng tác của I.Brodsky chúng ta tìm thấy sự liên kết nghịch lý của sự thử nghiệm và tính truyền thống. Phần nhiều sự liên kết có diễn ra trái với những xu hướng chủ yếu trong thi ca Nga và Châu Âu nhưng cho đến bây giờ nó không hề dẫn đến ngõ cụt, ngược lại sự phối hợp giữa âm luật và từ vựng không theo qui tắc với tính ẩn dụ sâu sắc và sự xây dựng niêm luật, loại thơ đó ngày càng tìm được nhiều người đồng cảm và ủng hộ.
Ở Mỹ đã xuất bản những tác phẩm của Brodsky:
“Thơ và trường ca” (1965), “Bến đỗ trong sa mạc” (1970), “Kết thúc một thời tuyệt đẹp” (1977), “Một phần tiếng nói” (1977), “Bi khúc Rôma” (1982), “Uranhia” (1987), “Nhỏ hơn đơn vị”…




IOSIF BRODSKY


Một phần tiếng nói


Tôi sinh ra và lớn lên trong những đầm lầy Ban Tích
Ngay bên sóng từng đôi ùa lên cát
tôi tìm ra những âm vận từ đây
và cũng từ đây giọng nói tôi nhàn nhạt
giọng nói như mớ tóc xoăn đẫm ướt
phất phơ giữa những con sóng màu chì
Trong tiếng sóng, ngồi chóng tay lắng nghe
không phân biệt tiếng rì rào trong tiếng màn vải lanh phần phật
tiếng vỗ những bàn tay. Tiếng ấm trà sôi trên bếp
thỉnh thoảng chỉ nghe rõ tiếng hải âu…

Ở xứ sở bằng phẳng này không thể trốn đi đâu
ta nhìn được xa hơn và giữ tim mình khỏi những điều dối trá
không gian đầy nhiễu âm thanh
nhưng không vì thiếu tiếng vang
mà con mắt người than thở.



Không đề


Chiều thu, thị trấn khiêm nhường
vẫn tự hào có tên trên bản đồ hành chính
Không gian ở đây tính tình đỏng đảnh
mỏi mệt do vẻ hùng vĩ của chính mình
trút nỗi nhọc nhằn, tự đóng khung trong đường diềm mái phố
của thời gian với cái nhìn ớn lạnh
lướt trên những tủ kính bày hàng
có đủ thứ thế gian này làm được
từ kim băng đến kính thiên văn
Ở đây có rạp chiếu phim và xa lông
sau góc phố tiệm cà phê màn buông rủ
nhà băng màu gạch non, vẽ đôi cánh đại bàng
nếu không nằm cạnh bên nhà bưu điện
nhà thờ từ lâu không ai nhớ nữa
và nếu không có những đứa bé ra đời
người ta phải làm lễ rửa tội cho những chiếc xe riêng
Ở đây lũ cào cào bay vụt lên từ lặng yên
sáu giờ chiều, như sau chiến tranh hạt nhân, đã chẳng gặp ai nữa
Trăng lặng trôi
trong bóng chiều tà sáng lên vài khung cửa
họa hoằn có chiếc xe sang trọng về đâu đó
quét đèn lên tượng Người lính vô danh
Ở đây bạn nằm mơ không gặp người đẹp trong tranh
mơ gặp trên bì thư địa chỉ của mình
Ở đây, một sáng thấy bình sữa thiu chua
người bán sữa nhận ra bạn đã không còn
Ở đây có thể sống không cần đến lịch
không ra khỏi nhà
soi mình vào gương, như những ngọn đèn
soi vào vũng nước đang dần khô kiệt.


Nghiêm Huyền Vũ
(Giới thiệu và tuyển dịch)


(137-07-00)


 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • JEZIBELl - RM.SHANMUGAM CHETTIAR

  • L.T.S: Cùng với Blok, Mai-a-cốp-xki, Ê-xê-nhin, Pa-xter-nak... Ma-ri-na Xvê-ta-ê-va (Marina Tsvetaeva 1892 - 1941) là một trong những nhà thơ Nga - Xô Viết lớn nhất của thế kỷ XX. Đường đời của bà là con đường đầy gian truân của một trí thức phải khắc phục nhiều lầm lỗi để đến với chân lý cách mạng. Một trái tim nồng cháy tình yêu Tổ quốc, dân tộc, nhưng Xvê-ta-ê-va mất gần 20 năm sau Cách mạng Tháng Mười sống lưu vong ở nước ngoài và trở về đất nước không được bao lâu thì mất.

  • OCTAVIO PAZ

    (Nobel Văn Chương 1990)

  • Eduardas Megielaitis sinh năm 1919 (đã mất 6/6/1997), Chủ tịch Hội Nhà văn  Litva (Liên Xô cũ) từ năm 1959, có tác phẩm được in từ 1934. Anh hùng lao động Liên Xô, Giải thưởng Lê-nin về văn học (năm 1961).

  • Lép Ôsanhi - Vlađimia Xôkôlôp

  • LGT: Charles Simic sinh năm 1938 tại Belgrade, Nam Tư. Năm 16 tuổi ông cùng với mẹ sang Mỹ sống với người cha ở New York City. Hiện ông là giáo sư khoa tiếng Anh ở trường Đại học New Hamsphire. Thơ Simic không dễ xếp loại. Một số bài thơ của ông có khuynh hướng siêu thực, siêu hình trong khi các bài khác là những chân dung hiện thực của bạo lực và tuyệt vọng.

  • Sam Hamill - Kevin Bowen - Martha Collins - Yusef Komunyakaa - Fred Marchant - Lady  Borton - Nguyễn Bá Chung - Bruc Weil - Carolyn Forché - Larry Heinemann - George Evans

  • F.G. Lorca: Nhà thơ Tây Ban Nha, một trong những nhà thơ lớn của thế kỷ, một chiến sĩ chống phát xít đã bị kẻ thù ám hại năm 1938, khi ông vừa tròn 40 tuổi.

  • Bạn đọc chắc hãy còn nhớ vào tháng 2 năm 2011, Tạp chí Sông Hương đón nhận sự ghé thăm của đoàn Nhà văn Nga, trong đó có nhà thơ Terekhin Vadim.

  • Jean Amrouche (1906-1962), người An-giê-ri, dạy học ở Tuy-ni-di, viết báo. Có nhiều thi phẩm in ra trước 1940. Chết trước khi An-giê-ri dành được độc lập, trong khi ông vẫn là một trong những người thành tâm và quyết liệt tìm giải pháp cho vấn đề thiết cốt này.

  • Từ nhiều thế kỷ nay, chúng ta đã quen với chuyện họa thơ Đường. Còn đây là một cuộc họa thơ bằng tiếng Tây Ban Nha. Và là một cuộc họa thơ độc đáo về Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

  • Trong một lần thăm Ang-co, tôi cùng đi với chị Khô Chan dra, một cựu sinh viên văn khoa Đại học Phnôm Pênh. Chị ở trong một gia đình trí thức công chức dưới thời Si-ha-nuc nên hầu hết những người thân đều bị Pôn Pốt sát hại.

  • L.T.S: Ma-xê-đoan (Nam Tư) là xứ sở thơ mộng của phong cảnh đẹp, của du lịch, hội hè và của thơ, là một cái nôi văn hoá cổ xưa của nhân loại, nằm trên bán đảo Ban-căng, có một cái gì gợi nên một số nét tương đồng với Huế.

  • L.T.S: “Mẹ và bom nơ-tơ-rôn” là trường ca của nhà thơ Liên Xô nổi tiếng E.Ép-tu-sen-cô. Trường ca được trao giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1984. Xin trân trọng giới thiệu một đoạn trích từ trường ca.

  • Nhà thơ nữ Ana Blandiana (sinh năm 1942) hiện là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học hiện đại Ru-ma-ni.

  • Paul Henry là một trong những nhà thơ hàng đầu xứ Wales. Được cố thi sĩ Ursula Askham Fanthorpe diễn tả như “một nhà thơ của nhà thơ”, kết hợp “cảm xúc nhạc của những con chữ với sự tưởng tượng sáng tạo không ngừng nghỉ”, ông đến với thơ qua việc viết lời ca.

  • PI-MEN PAN-TREN-CƠNhững vật dụng của lính

  • LTS: Bruce Weigl nhà thơ Mỹ từng là cựu chiến binh tham chiến tại Quảng Trị những năm 1967-1968. Là người chứng kiến những sự thật kinh hoàng trong chiến tranh Việt Nam, ông tìm đến với thơ ca như một sự cứu rỗi linh hồn. Năm 1987, Bruce Weigl lần đầu tiên trở lại Việt Nam và “Tôi không bao giờ tưởng tượng được người Việt Nam lại tiếp đãi mình ân cần như thế”.