Những đoản khúc của Vadim

08:33 15/11/2011
Bạn đọc chắc hãy còn nhớ vào tháng 2 năm 2011, Tạp chí Sông Hương đón nhận sự ghé thăm của đoàn Nhà văn Nga, trong đó có nhà thơ Terekhin Vadim.

Đoàn nhà văn Nga tại Tạp chí Sông Hương ngày 25-2-2011

[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]

Terekhin Vadim Fedorovich sinh năm 1963 tại làng Pesochensky vùng Tula. Ông tốt nghiệp đại học Kazan Command - Kỹ thuật quân sự của Lực lượng tên lửa, pháo binh Mikhail Chistyakov; sau đó ông vào học ở Viện Văn học Moscow. Ông từng phục vụ tại Sân bay vũ trụ Baikonur và với uy tín trên văn đàn, thành viên của Học viện Văn học Nga (Moscow), ông trải qua các chức vụ: Thư ký của Liên hiệp Nhà văn Nga, Chủ tịch Chi nhánh khu vực Kaluga của Liên hiệp Nhà văn Nga, Thư ký của Hội đồng Văn hóa và Nghệ thuật khu vực Kaluga; Thứ trưởng - Trưởng ban Văn hóa, Nghệ thuật và Điện ảnh của Bộ Văn hóa khu vực Kaluga - Liên bang Nga.

Terekhin Vadim đã xuất bản nhiều tập thơ có giá trị: “Trong suốt thời gian” (1996), “Thất vọng giang hồ” (1997), “Thơ” (1999), “Phấn hoa là vàng” (2001), “Trong số các nguyên âm và phụ âm” (2009), “Về sự tồn tại của đời” (2009)...

Ông liên tục nhận được nhiều giải thưởng văn học: Giải thưởng cho nhà văn trẻ Nga (1996), Giải thưởng văn học Marina Tsvetaeva (1999), Giải thưởng “Golden Walk” Nhà xuất bản văn học (2000), Văn bằng II Philaret cuộc thi thơ ca tôn giáo trên Internet (2001), Giải thưởng văn học Nga “Cha của ngôi nhà” (2003), Giải thưởng danh dự của Diễn đàn quốc tế của thơ ca Bahrain và UAE (2007), Giải thưởng Trung ương Liên bang Văn học nghệ thuật (2009)...

Thơ Terekhin Vadim gửi về cho Sông Hương là những đoản khúc rời mà ở đó, nỗi ám ảnh về các giá trị cuộc sống đã ngự trị trên các ngôn từ thao thiết dòng chảy của mạch ngầm hài hước...

SH




*Мир есть один большой универсам.
И потому поэзия однажды
Отправилась обратно к небесам.
Она собой не утоляла жажды.

Мир весь рассчитан стал на дурака.
И наспех слеплен из такого теста –
Средь кетчупов, помады, порошка
Святому духу не осталось места.

Мир напрочь вырвал сам себе язык.
Напрасны все моления и крики
О помощи и милости Владык.
И кто услышит, раз он - безъязыкий?
                                               
21.03.2006

Thế giới là một trong những siêu thị lớn
Và bởi vì thơ ca một lần
trở lại thiên đàng
không phải để dập tắt cơn khát

Cả thế giới đã được thiết kế để đánh lừa
Như thể vội vàng đúc ra từ các cuộc thử nghiệm
Giữa các thứ nước sốt cà chua, son môi và bột
Không có không gian cho các Thánh thần

Thế giới đã tự mình xé toạc ngôn ngữ
Lời nguyện cầu và nước mắt đã trở nên vô ích
Trước nỗi mong chờ lòng xót thương của Chúa
Và ai sẽ nghe nó một lần nữa - Cái lưỡi ?
                                                           
21.3.2006

**
Скрипят заржавелые двери.
Им вторят старательно в лад
Машины, как лютые звери, -
Мяукают, воют, рычат.

Вот так незатейливо, мудро
По поздней осенней поре
Моё начинается утро
На провинциальном дворе.

Ещё ты живёшь еле-еле
Емелькой на тёплой печи,
Но тащат тебя из постели
Дневного светила лучи.

Швыряют в копилку столетий,
Которые каждый твой час
Из всхлипов, молвы, междометий
Заносят в словарный запас.

Из настежь распахнутых ставень.
Из мутного света квартир
Ты каждой секундою равен
Всем звукам, терзающим мир.

По толкам, намёкам, подсказкам
Тебе здесь оказана честь
Быть равным всем жизненным краскам
И выше, чем то, что ты есть.

Быть грешным подобием ради
Цветения горсточки слов.
И суммой Его благодати,
И праха, и лимфоузлов.
                                   
10.11.1999

Tinh hoa của các khung cửa gỉ
Chúng vang vọng trong các khe kẽ băn khoăn
Máy móc, như con thú hung dữ
Tru lên tiếng gầm gừ.

Như vậy là quá khiêm tốn, quá khôn ngoan
Thấm vào tận lỗ chân lông cuối thu
Buổi sáng đã bắt đầu
Tại khoảnh sân tòa án.

Tuy nhiên, bạn đang sống chỉ vừa đủ
Chiếc ấm sôi trên cái bếp ấm áp
Đủ sức kéo bạn ra khỏi giường
Để bắt đầu một ngày mới

Quăng trong cái kho bạc của thế kỷ
Ám ảnh mỗi giờ của bạn
Trong tiếng nức nở, tin đồn...
Được nhập vào vốn từ vựng

Từ chiếc màn trập mở rộng
Từ các bãi bùn của ánh sáng
Bạn từng là thứ hàng thải
Của thứ âm thanh xé toạc thế giới

Cùng với tin đồn, gợi ý, thủ thuật
Bạn đang được vinh danh
Để bình đẳng cùng tất cả sắc màu cuộc sống
Thậm chí cao hơn so với những gì bạn có.

Lợi ích mang gương mặt tội lỗi
Như một số ít từ viết hoa
Cho số tiền được ân sủng của mình
Cho hạt bụi và các hạch bạch huyết
                                               
10.11.1999


Кем устрашится естество
В преддверье смертного порога?
Не остаётся никого
На этом свете, кроме Бога.

Всё разлетится в пыль и в прах.
Себя здесь не удержит бытом
Живущий на Его устах
Разноязыким алфавитом.

Чем успокоится душа?
Нам всем дано из милосердья
Жить вдумчиво и не спеша
И предвкушать своё бессмертье.
                                               
20.9.2005


Ai đã chưa từng sợ hãi trước thiên nhiên
khi đối diện trước thềm ngưỡng cái chết?
Không phải là không ai
trong thế giới, ngoại trừ Thiên Chúa.

Chúng ta đã hỗn loạn như thể bụi và bụi.
và mỗi bản thân không giữ cách sống
Chúng ta sống trên đôi môi của mình
với bảng chữ cái các ngôn ngữ khác nhau.

Làm thế nào giữ được nỗi bình an trong tâm hồn?
Chúng ta đã thử phó thác vào các tổ chức từ thiện
và sau đó trong sâu thẳm ký ức
cầu mong sự bất tử của mình...
                                               
20.9.2005
THU BA (Chuyển ngữ)
(273/11-11)




Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • KURT HEYNICKE(Nhà thơ biểu hiện Đức sinh năm 1891)LGT: Kurt Heynicke là nhà thơ biểu hiện nổi tiếng của nước Đức. Ông được giải thưởng thơ “Kleist” vào năm 1913.Bài thơ Vườn thống khổ (Gethsemane), được trích từ Mensch heitsdammerung, do Kurt Pinthus thực hịên, được tái bản nhiều lần. Chúng tôi xin giới thiệu bài thơ đó với bản dịch của dịch giả thơ phương Tây nổi tiếng, Diễm Châu.

  • ROBERTO JUARROZ(Nhà thơ Achentina 1925 – 1995)LGT: Roberto Juarroz là nhà thơ hiện đại Achentina được thế giới biết đến nhiều hơn cả, có lẽ chỉ sau Jorge – Luis Borges. Ông sinh ngày 5/10/1925 tại Coronel Dorrego thuộc Buenos Aires, và mất ngày 31.3.1995 cũng tại thủ đô Achentina, sau một cuộc đời lưu vong vì chế độ độc tài của quốc gia ông. Ông là tác giả của 15 tập thơ cùng mang tên duy nhất Thơ thẳng đứng (Poesía vertical) chỉ khác nhau ở số thứ tự I đến XV. Ông còn là giáo sự đại học Buenos Aires, chuyên viên truyền thông (thư viện) của Liên Hiệp Quốc đồng giám đốc tạp chí thơ (Poesía), nhà phê bình văn chương ở tạp chí Gaceta (Tucumán), nhà phê bình điện ảnh và kịch ở tạp chí Esto.

  • TOMAS TRANSTROMER (Thụy Điển)LGT: Tomas Transtromer (1931-) là một trong những nhà thơ hiện đại Thụy Điển nổi tiếng thế giới, từ những năm 50 của thế kỷ XX, ông nhận được các giải thưởng lớn: Pétrarque (Đức) năm 1981, Neustadt Internationl (Hoa Kỳ) năm 1990, giải Bắc Âu (Viện Hàm lâm Thụy Điển) năm 1991, giải Hort Bienek (Đức) 1992. Toàn tập thơ ông được xuất bản năm 1996. Thơ ông được dịch ra 43 thứ tiếng. Ông thường sử dụng thể tự do hoặc thơ văn xuôi với ngôn từ thơ trong sáng nhưng sức mạnh ở chỗ nó hòa quyện được những phúng dụ bác học và những mô tả chính xác về thế giới vũ trụ bật dậy những cảm xúc.

  • OCTAVIO PAZ  (Nobel 1990)Tặng Roman Jakobson      LGT: Octavio Paz (1914-1998), nhà thơ Mêhicô nổi tiếng, giải thưởng Miguel de Cervantes 1981, giải T. Eliot 1987, giải Nobel 1990. Tác giả của 5 tập thơ, sau này in lại trong Obra poética (Tác phẩm thơ 1938 - 1988), 23 tập tiểu luận về văn học nghệ thuật. SH xin giới thiệu một bài thơ “tuyên ngôn thơ” của ông, NÓI: LÀM qua bản dịch của dịch giả Dương Tường.

  • HAROLD PINTER (Nobel 2005)LGT: Harold Pinter, nhà văn Anh, giải thưởng Nobel 2005, được vinh danh với những vở kịch, những kịch bản phim, ông còn là nhà thơ nổi tiếng. Bài diễn văn đọc trong buổi lễ nhận giải Nobel của ông, quyết liệt trong sự chống Mỹ làm Tổng thống Bush rầu lòng. Bài thơ “Thói đồi bại” được giới thiệu dưới đây, vừa mới công bố cách đây ít lâu trên The Guardian ngày 26 - 01 - 2006.

  • LGT: Harold Pinter, sinh năm 1930 tại London , Anh quốc. Ông là một kịch tác gia, nhưng cũng là nhà thơ, đạo diễn, diễn viên, nhà hoạt động chính trị (ông đặc biệt chống lại sự lạm dụng quyền lực trong quan hệ quốc tế, như chống lại việc NATO đánh bom , Mỹ tấn công ).

  • SAM HAMIL LGT: Sam Hamil, nhà thơ Mỹ, nổi tiếng với website chống chiến tranh của Mĩ ở , tập hợp 13.000 bài thơ của 12.000 nhà thơ Mỹ và thế giới, đồng thời chủ biên tập thơ “Những nhà thơ chống chiến tranh” (Poets against The War, NXB Nation Books, 2003), thuộc loại best-seller (bán chạy nhất) ở Mỹ.

  • Nhà thơ, dịch giả Diễm Châu, sinh năm 1937 tại Hải Phòng. Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài gòn, sau đó tu nghiệp tại Hoa Kỳ về truyền thông. Trước 1975, ông làm Tổng thư ký Tạp chí Trình Bầy. Định cư tại Strasbourg, Pháp từ 1983 cho đến ngày tạ thế. Ông đã vĩnh viễn ra đi vào sáng ngày 28 tháng 12 năm 2006.

  • SEAN LUNDELGT: Sean Lunde là một nhân viên của Trung tâm William Joiner. Hiện anh là sinh viên của Đại học Massachusetts Boston, Hoa Kỳ. Đã từng là cựu chiến binh Mỹ tham gia cuộc chiến tranh tại , do vậy Sean Lunde hiểu rõ được thế nào là một cuộc chiến tranh phi nghĩa và các hậu quả xã hội của nó.

  • ANNE-MARIE LÉVYAnne-Marie Lévy là người Pháp gốc Na-Uy, hiện giảng dạy tiếng Phạn và văn hoá Ấn Độ ở Đại học Bordeaux III. Sau Hiệp định Genève năm 1954, bà cùng chồng làm việc ở Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội trong nhiều năm. Trở về Pháp bà theo dõi cuộc chiến ở Việt và viết sách bằng tiếng Na-Uy để giới thiệu Việt cho độc giả Bắc Âu.Bài thơ này được làm theo thể haiku của Nhật Bản. Thể haiku gồm nhiều đoạn, mỗi đoạn có ba câu lần lượt 5 âm tiết, 7 âm tiết rồi lại 5 âm tiết (5-7-5). Bài dịch ra tiếng Việt tuân thủ qui tắc của haiku.

  • EILEEN HEANEYLGT: Eileen Heaney là một họa sĩ sống ở Boston, Mỹ. Năm 1997 bà cùng với chồng là ông James Hullett – Triết gia, giáo sư đại học và là giám đốc một nhà xuất bản sách triết - về Việt Nam để nhận bé Frankie từ trại trẻ mồ côi Hội An, Đà Nẵng làm con nuôi.

  • MYLÈNE CATELLGT: Mylène Catel sinh năm 1966, tại Normandie (Pháp).Thạc sỹ Anh văn và Tiến sỹ Pháp văn.Hiện sống ở Hoa Kỳ - nơi bà giảng dạy văn chương tại Đại học Michigan.Bà đã xuất bản hai tập thơ: "Le Jongleur Fou" (1995), Paris, Editions Caractères; "JC" (1996), Paris, ditions Caractères.

  • YVES BONNEFOYYves Bonnefoy sinh năm 1923, tại Tours (Pháp).Ông là nhà thơ, nhà văn, nhà dịch thuật và là nhà biên khảo, phê bình văn học nghệ thuật nổi tiếng của nước Pháp, với gần 50 tác phẩm có giá trị về đủ thể loại. Nghĩ về văn học, nghệ thuật, ông quan niệm “đó là cuộc chiến đấu không ngừng để chống lại sự cám dỗ mang tính giáo điều và tư tưởng duy khái niệm”. Vì vậy, thơ Yves Bonnefoy là tiếng nói đa thanh, luôn va đập và sinh thành, luôn giao động giữa hiện thực và siêu thực, giữa vô lý và hợp lý để nói lên mối liên hệ giữa con người và thế giới đang vận động, bất ổn. Như cách thể, để chống lại sự sáo mòn, bảo thủ do  sự già nua, hoài nghi và vô cảm của con người.                                                                                        HỒ THẾ HÀ

  • TANG HẰNG XƯƠNG (Trung Quốc)LTS: Sinh năm 1941. Đã xuất bản 6 tập thơ. Thơ Tang Hằng Xương có những từ ngữ, hình ảnh, ý tưởng... rất kỳ lạ và táo bạo; đã được dịch ra các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hàn và gần đây là tiếng Việt (báo Văn nghệ, Tạp chí Văn học nước ngoài - H.D.dịch và giới thiệu). Những bài thơ dưới đây lấy từ tập thơ Nhớ cha mẹ (Tang Hằng Xương - Hoài thân thi tập) in lần thứ nhất 1999, in lần thứ hai 2001. (Tang Hằng Xương mồ côi mẹ năm mười hai tuổi).

  • LTS: Vlađimir Maiakôvxki là “lá cờ đầu của thơ ca Tháng Mười Nga”. Nhân kỷ niệm 85 năm Cách mạng tháng Mười Nga, chúng tôi mời nhà phê bình - giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, một chuyên gia về Maiakôvxki, viết bài về tiếng thơ của Maia trong cuộc sống và thế giới ngày hôm nay. Nhà phê bình đã gửi cho chúng tôi bản dịch một bài thơ của Maia và trình bày mấy ý kiến hết sức ngắn gọn.

  • Margaret Atwoods là một trong số nhà thơ viết bằng tiếng Anh hàng đầu ở . Sinh năm 1939. Bà đã xuất bản trên 10 tập thơ, trên 10 tiểu thuyết, một số sách phê bình và sách cho trẻ em, đã nhận nhiều giải thưởng và bằng cấp danh dự. Gần nhất là Giải Pulitzer 2001 về tiểu thuyết. Thơ M.Atwoods đầy tinh thần phản kháng, trầAn trụi và khốc liệt khi cần vạch trần sự thật về thân phận người đàn bà ở khắp nơi trên thế giới, một mặt lại vỗ về nâng giấc che chở đối với người mình yêu. Quả là một nữ tính của thế kỷ. HOÀNG HƯNG chuyển ngữ từ nguyên bản.

  • LANGSTON HUGHESLGT: Langston Hughes (1902-1967) là một trong những cây viết chủ lực của  phong trào văn học nghệ thuật của người Mỹ gốc Phi - châu trong thập niên 1920, mệnh danh là phong trào Phục Hưng Harlem (Harlem Renaissance)- một nỗ lực nhằm cổ động lòng tự hào về màu da và văn hóa da đen.

  • LTS: Robert Creeley sinh năm 1926, có một cuộc đời nhiều biến động. Hai lần bỏ học đại học giữa chừng, hai lần ly hôn, hai lần sang làm việc ở các nước thế giới thứ ba (năm 1944 lái xe cứu thương trong lực lượng American Field Service ở Ấn Độ và Miến Điện.

  • ...Thế nhưng trên đôi tai hoá đáSự im lặng vẫn thét gàoVang dội trong năm tháng với những thanh âm thịnh nộ...

  • LTS: Werner Lambersy thuộc thế hệ những nhà thơ trẻ đương đại của Pháp. Thơ ông là sự kết hợp thần tình giữa lối tư duy luận lý sắc sảo cùng khả năng trực cảm cực kỳ tinh tế. Điều đó khiến cho thơ W.Lambersy làm hiện hình được bản chất đời sống ở những nơi chốn mong manh nhất. Dưới con mắt nhà thơ, cái đẹp luôn biến ảo, không dừng lại, lần theo dấu vết của chúng, bạn sẽ khám phá thấy những chân lý hoàn toàn bất ngờ. Những bài thơ dưới đây, chúng tôi rút ra từ một tập thơ xuất bản năm 1998 của W.Lambersy do trung tâm sách quốc gia của Pháp đỡ đầu và ấn hành.