[if gte mso 9]>
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
<![endif][if gte mso 9]>
<![endif][if gte mso 10]>
<![endif]
Terekhin Vadim Fedorovich sinh năm 1963 tại làng Pesochensky vùng Tula. Ông tốt nghiệp đại học Kazan Command - Kỹ thuật quân sự của Lực lượng tên lửa, pháo binh Mikhail Chistyakov; sau đó ông vào học ở Viện Văn học Moscow. Ông từng phục vụ tại Sân bay vũ trụ Baikonur và với uy tín trên văn đàn, thành viên của Học viện Văn học Nga (Moscow), ông trải qua các chức vụ: Thư ký của Liên hiệp Nhà văn Nga, Chủ tịch Chi nhánh khu vực Kaluga của Liên hiệp Nhà văn Nga, Thư ký của Hội đồng Văn hóa và Nghệ thuật khu vực Kaluga; Thứ trưởng - Trưởng ban Văn hóa, Nghệ thuật và Điện ảnh của Bộ Văn hóa khu vực Kaluga - Liên bang Nga. Terekhin Vadim đã xuất bản nhiều tập thơ có giá trị: “Trong suốt thời gian” (1996), “Thất vọng giang hồ” (1997), “Thơ” (1999), “Phấn hoa là vàng” (2001), “Trong số các nguyên âm và phụ âm” (2009), “Về sự tồn tại của đời” (2009)... Ông liên tục nhận được nhiều giải thưởng văn học: Giải thưởng cho nhà văn trẻ Nga (1996), Giải thưởng văn học Marina Tsvetaeva (1999), Giải thưởng “Golden Walk” Nhà xuất bản văn học (2000), Văn bằng II Philaret cuộc thi thơ ca tôn giáo trên Internet (2001), Giải thưởng văn học Nga “Cha của ngôi nhà” (2003), Giải thưởng danh dự của Diễn đàn quốc tế của thơ ca Bahrain và UAE (2007), Giải thưởng Trung ương Liên bang Văn học nghệ thuật (2009)... Thơ Terekhin Vadim gửi về cho Sông Hương là những đoản khúc rời mà ở đó, nỗi ám ảnh về các giá trị cuộc sống đã ngự trị trên các ngôn từ thao thiết dòng chảy của mạch ngầm hài hước... SH *Мир есть один большой универсам. И потому поэзия однажды Отправилась обратно к небесам. Она собой не утоляла жажды. Мир весь рассчитан стал на дурака. И наспех слеплен из такого теста – Средь кетчупов, помады, порошка Святому духу не осталось места. Мир напрочь вырвал сам себе язык. Напрасны все моления и крики О помощи и милости Владык. И кто услышит, раз он - безъязыкий? 21.03.2006 Thế giới là một trong những siêu thị lớn Và bởi vì thơ ca một lần trở lại thiên đàng không phải để dập tắt cơn khát Cả thế giới đã được thiết kế để đánh lừa Như thể vội vàng đúc ra từ các cuộc thử nghiệm Giữa các thứ nước sốt cà chua, son môi và bột Không có không gian cho các Thánh thần Thế giới đã tự mình xé toạc ngôn ngữ Lời nguyện cầu và nước mắt đã trở nên vô ích Trước nỗi mong chờ lòng xót thương của Chúa Và ai sẽ nghe nó một lần nữa - Cái lưỡi ? 21.3.2006 ** Скрипят заржавелые двери. Им вторят старательно в лад Машины, как лютые звери, - Мяукают, воют, рычат. Вот так незатейливо, мудро По поздней осенней поре Моё начинается утро На провинциальном дворе. Ещё ты живёшь еле-еле Емелькой на тёплой печи, Но тащат тебя из постели Дневного светила лучи. Швыряют в копилку столетий, Которые каждый твой час Из всхлипов, молвы, междометий Заносят в словарный запас. Из настежь распахнутых ставень. Из мутного света квартир Ты каждой секундою равен Всем звукам, терзающим мир. По толкам, намёкам, подсказкам Тебе здесь оказана честь Быть равным всем жизненным краскам И выше, чем то, что ты есть. Быть грешным подобием ради Цветения горсточки слов. И суммой Его благодати, И праха, и лимфоузлов. 10.11.1999 Tinh hoa của các khung cửa gỉ Chúng vang vọng trong các khe kẽ băn khoăn Máy móc, như con thú hung dữ Tru lên tiếng gầm gừ. Như vậy là quá khiêm tốn, quá khôn ngoan Thấm vào tận lỗ chân lông cuối thu Buổi sáng đã bắt đầu Tại khoảnh sân tòa án. Tuy nhiên, bạn đang sống chỉ vừa đủ Chiếc ấm sôi trên cái bếp ấm áp Đủ sức kéo bạn ra khỏi giường Để bắt đầu một ngày mới Quăng trong cái kho bạc của thế kỷ Ám ảnh mỗi giờ của bạn Trong tiếng nức nở, tin đồn... Được nhập vào vốn từ vựng Từ chiếc màn trập mở rộng Từ các bãi bùn của ánh sáng Bạn từng là thứ hàng thải Của thứ âm thanh xé toạc thế giới Cùng với tin đồn, gợi ý, thủ thuật Bạn đang được vinh danh Để bình đẳng cùng tất cả sắc màu cuộc sống Thậm chí cao hơn so với những gì bạn có. Lợi ích mang gương mặt tội lỗi Như một số ít từ viết hoa Cho số tiền được ân sủng của mình Cho hạt bụi và các hạch bạch huyết 10.11.1999 Кем устрашится естество В преддверье смертного порога? Не остаётся никого На этом свете, кроме Бога. Всё разлетится в пыль и в прах. Себя здесь не удержит бытом Живущий на Его устах Разноязыким алфавитом. Чем успокоится душа? Нам всем дано из милосердья Жить вдумчиво и не спеша И предвкушать своё бессмертье. 20.9.2005 Ai đã chưa từng sợ hãi trước thiên nhiên khi đối diện trước thềm ngưỡng cái chết? Không phải là không ai trong thế giới, ngoại trừ Thiên Chúa. Chúng ta đã hỗn loạn như thể bụi và bụi. và mỗi bản thân không giữ cách sống Chúng ta sống trên đôi môi của mình với bảng chữ cái các ngôn ngữ khác nhau. Làm thế nào giữ được nỗi bình an trong tâm hồn? Chúng ta đã thử phó thác vào các tổ chức từ thiện và sau đó trong sâu thẳm ký ức cầu mong sự bất tử của mình... 20.9.2005 THU BA (Chuyển ngữ) (273/11-11) |