Những bài thơ về Paris

09:26 17/12/2015

LTS: Khi Sông Hương gửi những dòng thơ này đến với bạn đọc thì Paris đã yên bình sau cơn ác mộng khủng bố IS. Nhân loại đang đứng bên người Pháp: “Je suis Paris! Tôi là Paris! Nhân loại là Paris!” Lá cờ nước Pháp nhung phủ hàng triệu gương mặt người. Và những bài thơ dành cho Paris đã ngân lên, đơn giản, đó là biểu tượng xứ sở nghệ thuật của thế giới, là nơi Cách mạng Pháp với Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền đã mở ra một kỷ nguyên hoàn toàn mới cho nhân loại…

Minh họa: Nhím

NGUYỄN ĐỨC TÙNG

Ngày thứ sáu mười ba

Ngày thứ sáu mười ba
Khi chúng ta nghĩ về Paris
Chúng ta khóc một mình lặng lẽ
Mỗi người lắng nghe giữa các bức tường


Lau nước mắt, nấu ăn, giặt giũ, ra đường
Nơi làm việc sáng nay, không người nào nhắc nữa
Dù ai cũng biết đêm qua, ly trà không kịp uống
Bạn làm gì, trước màn hình tivi


Chúng xả súng vào rạp hát, lớp học
Sân bóng, chúng xả hơi độc vào phòng đầy trẻ con
Nện cuốc vào đầu, tra tấn đến chết
Bịt mặt ném người xuống nước
Ở đâu?
Ở Paris, ở Phi châu, hay ở Campuchia, Việt Nam, Trung Hoa?
Khi chúng ta ngủ quên trên sofa
Trong ánh sáng mờ mờ nhấp nháy của màn hình
Có một bàn tay tìm cách bôi xóa chúng
Khỏi ký ức chúng ta, lau sạch nước mắt khi bạn ngủ


Và khi thức dậy
Nước mắt đã khô
Chúng ta ra đường
Chúng bắt đầu sơn phết các ngôi nhà
Và khi chúng ta đã nguôi ngoai
Kêu gọi lòng tha thứ, quỳ gối cầu nguyện
Chỉ còn một chiếc lá trên tường
Rung lên mặc gió không hề thổi
Bọn chúng sẽ trở lại
Nhắc nhở chúng ta: nhân loại không biết khóc. Họ chỉ khóc một mình.



Hãy cầu nguyện

Hãy cầu nguyện cho sông Seine chảy mãi qua cầu
Hãy cầu nguyện cho Rimbaud, Verlaine
Cho những người yêu nhau
Cho những người chết dưới đống gạch đá
Những người bị bắn vào lưng, vào bụng, vào đầu
Cho đứa trẻ nằm trên tay người đàn ông
Cho những người không bao giờ cầu nguyện


Cái chết nào cũng buồn
Chiến tranh nào cũng buồn
Nhưng hãy mở tấm chăn đắp mặt để nhìn xem
Kẻ nào đã bắn vào anh em chúng ta
Và đi theo vết máu trên đường
Đi mãi cho đến khi bạn gặp
Một chỗ ngồi bí mật trong bụi rậm
Nơi đêm qua một người đã ngồi
Ăn bữa ăn tối sau cùng
Được mang tới bởi một người đàn bà
Áo choàng xám, khổ đau, héo úa, tự xưng là mẹ của anh ta




KHẾ IÊM

Paris

Có hố đen nào trong
tâm hồn con người khiến
con người biến thành vũ
khí tàn sát con người
có hố đen nào khiến
lũ hổ đen IS
như lũ quỷ hiện hình
giữa đêm tối Paris
và thế là Paris
rung động kinh hoàng Paris
máu chảy Paris thương
đau Paris thứ sáu mười
ba mười ba thứ sáu
Paris Paris của
quyền con người của lãng
mạn ấn tượng tượng trưng
siêu thực Paris của
những giấc mơ bao năm
bây giờ đang cơn bất
hạnh nhưng Paris còn
đó lấp ló ánh bình
minh như ngọn tháp eiffel
bất tử trên siêu lộ
thông tin Paris Paris
chừng như mỗi con người
có một Paris hỡi
Paris bình yên bình
yên Paris.




BAKY MEITÉ

Không phải là nhà thơ, cũng không phải nhà văn, Baky Meité là vận động viên quốc gia môn bóng bầu dục (Rugby) tại thành phố Montpellier. Một vận động viên quốc gia khác Aristide Barraud, là cầu thủ quốc tế chơi trong đội tuyển Pháp, là một trong những nạn nhân bị thương nặng trong vụ xả súng tại một nhà hàng tối thứ sáu ngày 13/11/2015 tại quận X Paris. Baky Meité đã làm bài thơ này tặng bạn, nhưng cũng muốn nhắn gửi đôi lời tới các nạn nhân cũng như tới tất cả chúng ta.
Hiệu Constant (sưu tầm và dịch)



Khi màn đêm buông xuống...

Đêm đến vẫn luôn là cuộc sống
Đêm đến đâu phải là cái chết
Paris là cuộc sống
Paris đêm về có ai ngủ đâu em.
Mọi cuộc đời trên trần gian đều đáng sống
Ngay cả khi định mệnh khác đi rồi
Dẫu không một đồng chinh không một cắc bạc
Cũng đừng nên để tội ác dẫn đi
Làm điều hại người
Người khác. Họ.
Chỉ là Tôi
Một Tôi khác
Sự khác nhau hủy hoại
Với những kẻ học đòi kém cỏi
Quả vậy thật sững sờ


Khi Tôn giáo dưỡng nuôi
Những linh hồn tồi tệ
Những bộ óc héo tàn
Thì chúng vun trồng mối hiểm họa tiềm tàng.
Khi Tôn giáo dưỡng nuôi
Những con tim ăn năn
Những tâm hồn bầm giập
Tôn giáo thành vô giá người ơi
Hãy dũng cảm lên Aristide
Tôi biết rõ nghị lực và nhiệt tâm của em
Và nếu như hôm nay tôi đã ra khỏi nhà
Cố ép mình đem theo niềm hạnh phúc
Qua những dòng chữ này
Tôi gắng giữ gìn phẩm hạnh
Phẩm hạnh trước các nạn nhân
Sự lựa chọn này hình như của toàn dân.
Hãy giơ cao bàn tay cứu nguy, các bạn
Hãy lấy ra thứ gì quý giá nhất
Chớ để sự phỉnh phờ mạo phạm
Hãy sợ nhé khi cứ để lún dần
Vào hàng loạt những thông tin
Được các nhà báo mau lẹ đưa lên
một chút “thích thú” của họ
Tầm thường hóa
Những điều tàn bạo nhất.
Sự cuồng tín gây đau thương
Chính sách mị dân làm đau trần thế
Chủ nghĩa cực đoan tặng tôi
Hương vị choáng váng ghê người.
Thứ sáu ngày 13
Tim tôi ngâm nga
Trong tuyệt vọng
Thứ sáu ngày 13
Tim tôi đòi hỏi
Đạo lí làm người.
Ai nấy đều xứng đáng
Có một ngày thứ bẩy 14 kéo theo sau
Và còn hơn thế nữa
Bất kỳ ai cũng đáng sống trên đời
Đêm buông rồi đâu phải cái chết đến người ơi.
                                              
Paris 20/11/2015

(SH322/12-15)






 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • KURT HEYNICKE(Nhà thơ biểu hiện Đức sinh năm 1891)LGT: Kurt Heynicke là nhà thơ biểu hiện nổi tiếng của nước Đức. Ông được giải thưởng thơ “Kleist” vào năm 1913.Bài thơ Vườn thống khổ (Gethsemane), được trích từ Mensch heitsdammerung, do Kurt Pinthus thực hịên, được tái bản nhiều lần. Chúng tôi xin giới thiệu bài thơ đó với bản dịch của dịch giả thơ phương Tây nổi tiếng, Diễm Châu.

  • ROBERTO JUARROZ(Nhà thơ Achentina 1925 – 1995)LGT: Roberto Juarroz là nhà thơ hiện đại Achentina được thế giới biết đến nhiều hơn cả, có lẽ chỉ sau Jorge – Luis Borges. Ông sinh ngày 5/10/1925 tại Coronel Dorrego thuộc Buenos Aires, và mất ngày 31.3.1995 cũng tại thủ đô Achentina, sau một cuộc đời lưu vong vì chế độ độc tài của quốc gia ông. Ông là tác giả của 15 tập thơ cùng mang tên duy nhất Thơ thẳng đứng (Poesía vertical) chỉ khác nhau ở số thứ tự I đến XV. Ông còn là giáo sự đại học Buenos Aires, chuyên viên truyền thông (thư viện) của Liên Hiệp Quốc đồng giám đốc tạp chí thơ (Poesía), nhà phê bình văn chương ở tạp chí Gaceta (Tucumán), nhà phê bình điện ảnh và kịch ở tạp chí Esto.

  • TOMAS TRANSTROMER (Thụy Điển)LGT: Tomas Transtromer (1931-) là một trong những nhà thơ hiện đại Thụy Điển nổi tiếng thế giới, từ những năm 50 của thế kỷ XX, ông nhận được các giải thưởng lớn: Pétrarque (Đức) năm 1981, Neustadt Internationl (Hoa Kỳ) năm 1990, giải Bắc Âu (Viện Hàm lâm Thụy Điển) năm 1991, giải Hort Bienek (Đức) 1992. Toàn tập thơ ông được xuất bản năm 1996. Thơ ông được dịch ra 43 thứ tiếng. Ông thường sử dụng thể tự do hoặc thơ văn xuôi với ngôn từ thơ trong sáng nhưng sức mạnh ở chỗ nó hòa quyện được những phúng dụ bác học và những mô tả chính xác về thế giới vũ trụ bật dậy những cảm xúc.

  • OCTAVIO PAZ  (Nobel 1990)Tặng Roman Jakobson      LGT: Octavio Paz (1914-1998), nhà thơ Mêhicô nổi tiếng, giải thưởng Miguel de Cervantes 1981, giải T. Eliot 1987, giải Nobel 1990. Tác giả của 5 tập thơ, sau này in lại trong Obra poética (Tác phẩm thơ 1938 - 1988), 23 tập tiểu luận về văn học nghệ thuật. SH xin giới thiệu một bài thơ “tuyên ngôn thơ” của ông, NÓI: LÀM qua bản dịch của dịch giả Dương Tường.

  • HAROLD PINTER (Nobel 2005)LGT: Harold Pinter, nhà văn Anh, giải thưởng Nobel 2005, được vinh danh với những vở kịch, những kịch bản phim, ông còn là nhà thơ nổi tiếng. Bài diễn văn đọc trong buổi lễ nhận giải Nobel của ông, quyết liệt trong sự chống Mỹ làm Tổng thống Bush rầu lòng. Bài thơ “Thói đồi bại” được giới thiệu dưới đây, vừa mới công bố cách đây ít lâu trên The Guardian ngày 26 - 01 - 2006.

  • LGT: Harold Pinter, sinh năm 1930 tại London , Anh quốc. Ông là một kịch tác gia, nhưng cũng là nhà thơ, đạo diễn, diễn viên, nhà hoạt động chính trị (ông đặc biệt chống lại sự lạm dụng quyền lực trong quan hệ quốc tế, như chống lại việc NATO đánh bom , Mỹ tấn công ).

  • SAM HAMIL LGT: Sam Hamil, nhà thơ Mỹ, nổi tiếng với website chống chiến tranh của Mĩ ở , tập hợp 13.000 bài thơ của 12.000 nhà thơ Mỹ và thế giới, đồng thời chủ biên tập thơ “Những nhà thơ chống chiến tranh” (Poets against The War, NXB Nation Books, 2003), thuộc loại best-seller (bán chạy nhất) ở Mỹ.

  • Nhà thơ, dịch giả Diễm Châu, sinh năm 1937 tại Hải Phòng. Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài gòn, sau đó tu nghiệp tại Hoa Kỳ về truyền thông. Trước 1975, ông làm Tổng thư ký Tạp chí Trình Bầy. Định cư tại Strasbourg, Pháp từ 1983 cho đến ngày tạ thế. Ông đã vĩnh viễn ra đi vào sáng ngày 28 tháng 12 năm 2006.

  • SEAN LUNDELGT: Sean Lunde là một nhân viên của Trung tâm William Joiner. Hiện anh là sinh viên của Đại học Massachusetts Boston, Hoa Kỳ. Đã từng là cựu chiến binh Mỹ tham gia cuộc chiến tranh tại , do vậy Sean Lunde hiểu rõ được thế nào là một cuộc chiến tranh phi nghĩa và các hậu quả xã hội của nó.

  • ANNE-MARIE LÉVYAnne-Marie Lévy là người Pháp gốc Na-Uy, hiện giảng dạy tiếng Phạn và văn hoá Ấn Độ ở Đại học Bordeaux III. Sau Hiệp định Genève năm 1954, bà cùng chồng làm việc ở Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội trong nhiều năm. Trở về Pháp bà theo dõi cuộc chiến ở Việt và viết sách bằng tiếng Na-Uy để giới thiệu Việt cho độc giả Bắc Âu.Bài thơ này được làm theo thể haiku của Nhật Bản. Thể haiku gồm nhiều đoạn, mỗi đoạn có ba câu lần lượt 5 âm tiết, 7 âm tiết rồi lại 5 âm tiết (5-7-5). Bài dịch ra tiếng Việt tuân thủ qui tắc của haiku.

  • EILEEN HEANEYLGT: Eileen Heaney là một họa sĩ sống ở Boston, Mỹ. Năm 1997 bà cùng với chồng là ông James Hullett – Triết gia, giáo sư đại học và là giám đốc một nhà xuất bản sách triết - về Việt Nam để nhận bé Frankie từ trại trẻ mồ côi Hội An, Đà Nẵng làm con nuôi.

  • MYLÈNE CATELLGT: Mylène Catel sinh năm 1966, tại Normandie (Pháp).Thạc sỹ Anh văn và Tiến sỹ Pháp văn.Hiện sống ở Hoa Kỳ - nơi bà giảng dạy văn chương tại Đại học Michigan.Bà đã xuất bản hai tập thơ: "Le Jongleur Fou" (1995), Paris, Editions Caractères; "JC" (1996), Paris, ditions Caractères.

  • YVES BONNEFOYYves Bonnefoy sinh năm 1923, tại Tours (Pháp).Ông là nhà thơ, nhà văn, nhà dịch thuật và là nhà biên khảo, phê bình văn học nghệ thuật nổi tiếng của nước Pháp, với gần 50 tác phẩm có giá trị về đủ thể loại. Nghĩ về văn học, nghệ thuật, ông quan niệm “đó là cuộc chiến đấu không ngừng để chống lại sự cám dỗ mang tính giáo điều và tư tưởng duy khái niệm”. Vì vậy, thơ Yves Bonnefoy là tiếng nói đa thanh, luôn va đập và sinh thành, luôn giao động giữa hiện thực và siêu thực, giữa vô lý và hợp lý để nói lên mối liên hệ giữa con người và thế giới đang vận động, bất ổn. Như cách thể, để chống lại sự sáo mòn, bảo thủ do  sự già nua, hoài nghi và vô cảm của con người.                                                                                        HỒ THẾ HÀ

  • TANG HẰNG XƯƠNG (Trung Quốc)LTS: Sinh năm 1941. Đã xuất bản 6 tập thơ. Thơ Tang Hằng Xương có những từ ngữ, hình ảnh, ý tưởng... rất kỳ lạ và táo bạo; đã được dịch ra các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hàn và gần đây là tiếng Việt (báo Văn nghệ, Tạp chí Văn học nước ngoài - H.D.dịch và giới thiệu). Những bài thơ dưới đây lấy từ tập thơ Nhớ cha mẹ (Tang Hằng Xương - Hoài thân thi tập) in lần thứ nhất 1999, in lần thứ hai 2001. (Tang Hằng Xương mồ côi mẹ năm mười hai tuổi).

  • LTS: Vlađimir Maiakôvxki là “lá cờ đầu của thơ ca Tháng Mười Nga”. Nhân kỷ niệm 85 năm Cách mạng tháng Mười Nga, chúng tôi mời nhà phê bình - giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, một chuyên gia về Maiakôvxki, viết bài về tiếng thơ của Maia trong cuộc sống và thế giới ngày hôm nay. Nhà phê bình đã gửi cho chúng tôi bản dịch một bài thơ của Maia và trình bày mấy ý kiến hết sức ngắn gọn.

  • Margaret Atwoods là một trong số nhà thơ viết bằng tiếng Anh hàng đầu ở . Sinh năm 1939. Bà đã xuất bản trên 10 tập thơ, trên 10 tiểu thuyết, một số sách phê bình và sách cho trẻ em, đã nhận nhiều giải thưởng và bằng cấp danh dự. Gần nhất là Giải Pulitzer 2001 về tiểu thuyết. Thơ M.Atwoods đầy tinh thần phản kháng, trầAn trụi và khốc liệt khi cần vạch trần sự thật về thân phận người đàn bà ở khắp nơi trên thế giới, một mặt lại vỗ về nâng giấc che chở đối với người mình yêu. Quả là một nữ tính của thế kỷ. HOÀNG HƯNG chuyển ngữ từ nguyên bản.

  • LANGSTON HUGHESLGT: Langston Hughes (1902-1967) là một trong những cây viết chủ lực của  phong trào văn học nghệ thuật của người Mỹ gốc Phi - châu trong thập niên 1920, mệnh danh là phong trào Phục Hưng Harlem (Harlem Renaissance)- một nỗ lực nhằm cổ động lòng tự hào về màu da và văn hóa da đen.

  • LTS: Robert Creeley sinh năm 1926, có một cuộc đời nhiều biến động. Hai lần bỏ học đại học giữa chừng, hai lần ly hôn, hai lần sang làm việc ở các nước thế giới thứ ba (năm 1944 lái xe cứu thương trong lực lượng American Field Service ở Ấn Độ và Miến Điện.

  • ...Thế nhưng trên đôi tai hoá đáSự im lặng vẫn thét gàoVang dội trong năm tháng với những thanh âm thịnh nộ...

  • LTS: Werner Lambersy thuộc thế hệ những nhà thơ trẻ đương đại của Pháp. Thơ ông là sự kết hợp thần tình giữa lối tư duy luận lý sắc sảo cùng khả năng trực cảm cực kỳ tinh tế. Điều đó khiến cho thơ W.Lambersy làm hiện hình được bản chất đời sống ở những nơi chốn mong manh nhất. Dưới con mắt nhà thơ, cái đẹp luôn biến ảo, không dừng lại, lần theo dấu vết của chúng, bạn sẽ khám phá thấy những chân lý hoàn toàn bất ngờ. Những bài thơ dưới đây, chúng tôi rút ra từ một tập thơ xuất bản năm 1998 của W.Lambersy do trung tâm sách quốc gia của Pháp đỡ đầu và ấn hành.