LTS: Khi Sông Hương gửi những dòng thơ này đến với bạn đọc thì Paris đã yên bình sau cơn ác mộng khủng bố IS. Nhân loại đang đứng bên người Pháp: “Je suis Paris! Tôi là Paris! Nhân loại là Paris!” Lá cờ nước Pháp nhung phủ hàng triệu gương mặt người. Và những bài thơ dành cho Paris đã ngân lên, đơn giản, đó là biểu tượng xứ sở nghệ thuật của thế giới, là nơi Cách mạng Pháp với Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền đã mở ra một kỷ nguyên hoàn toàn mới cho nhân loại…
Minh họa: Nhím
NGUYỄN ĐỨC TÙNG
Ngày thứ sáu mười ba
Ngày thứ sáu mười ba
Khi chúng ta nghĩ về Paris
Chúng ta khóc một mình lặng lẽ
Mỗi người lắng nghe giữa các bức tường
Lau nước mắt, nấu ăn, giặt giũ, ra đường
Nơi làm việc sáng nay, không người nào nhắc nữa
Dù ai cũng biết đêm qua, ly trà không kịp uống
Bạn làm gì, trước màn hình tivi
Chúng xả súng vào rạp hát, lớp học
Sân bóng, chúng xả hơi độc vào phòng đầy trẻ con
Nện cuốc vào đầu, tra tấn đến chết
Bịt mặt ném người xuống nước
Ở đâu?
Ở Paris, ở Phi châu, hay ở Campuchia, Việt Nam, Trung Hoa?
Khi chúng ta ngủ quên trên sofa
Trong ánh sáng mờ mờ nhấp nháy của màn hình
Có một bàn tay tìm cách bôi xóa chúng
Khỏi ký ức chúng ta, lau sạch nước mắt khi bạn ngủ
Và khi thức dậy
Nước mắt đã khô
Chúng ta ra đường
Chúng bắt đầu sơn phết các ngôi nhà
Và khi chúng ta đã nguôi ngoai
Kêu gọi lòng tha thứ, quỳ gối cầu nguyện
Chỉ còn một chiếc lá trên tường
Rung lên mặc gió không hề thổi
Bọn chúng sẽ trở lại
Nhắc nhở chúng ta: nhân loại không biết khóc. Họ chỉ khóc một mình.
Hãy cầu nguyện
Hãy cầu nguyện cho sông Seine chảy mãi qua cầu
Hãy cầu nguyện cho Rimbaud, Verlaine
Cho những người yêu nhau
Cho những người chết dưới đống gạch đá
Những người bị bắn vào lưng, vào bụng, vào đầu
Cho đứa trẻ nằm trên tay người đàn ông
Cho những người không bao giờ cầu nguyện
Cái chết nào cũng buồn
Chiến tranh nào cũng buồn
Nhưng hãy mở tấm chăn đắp mặt để nhìn xem
Kẻ nào đã bắn vào anh em chúng ta
Và đi theo vết máu trên đường
Đi mãi cho đến khi bạn gặp
Một chỗ ngồi bí mật trong bụi rậm
Nơi đêm qua một người đã ngồi
Ăn bữa ăn tối sau cùng
Được mang tới bởi một người đàn bà
Áo choàng xám, khổ đau, héo úa, tự xưng là mẹ của anh ta
KHẾ IÊM
Paris
Có hố đen nào trong
tâm hồn con người khiến
con người biến thành vũ
khí tàn sát con người
có hố đen nào khiến
lũ hổ đen IS
như lũ quỷ hiện hình
giữa đêm tối Paris
và thế là Paris
rung động kinh hoàng Paris
máu chảy Paris thương
đau Paris thứ sáu mười
ba mười ba thứ sáu
Paris Paris của
quyền con người của lãng
mạn ấn tượng tượng trưng
siêu thực Paris của
những giấc mơ bao năm
bây giờ đang cơn bất
hạnh nhưng Paris còn
đó lấp ló ánh bình
minh như ngọn tháp eiffel
bất tử trên siêu lộ
thông tin Paris Paris
chừng như mỗi con người
có một Paris hỡi
Paris bình yên bình
yên Paris.
BAKY MEITÉ
Không phải là nhà thơ, cũng không phải nhà văn, Baky Meité là vận động viên quốc gia môn bóng bầu dục (Rugby) tại thành phố Montpellier. Một vận động viên quốc gia khác Aristide Barraud, là cầu thủ quốc tế chơi trong đội tuyển Pháp, là một trong những nạn nhân bị thương nặng trong vụ xả súng tại một nhà hàng tối thứ sáu ngày 13/11/2015 tại quận X Paris. Baky Meité đã làm bài thơ này tặng bạn, nhưng cũng muốn nhắn gửi đôi lời tới các nạn nhân cũng như tới tất cả chúng ta.
Hiệu Constant (sưu tầm và dịch)
Khi màn đêm buông xuống...
Đêm đến vẫn luôn là cuộc sống
Đêm đến đâu phải là cái chết
Paris là cuộc sống
Paris đêm về có ai ngủ đâu em.
Mọi cuộc đời trên trần gian đều đáng sống
Ngay cả khi định mệnh khác đi rồi
Dẫu không một đồng chinh không một cắc bạc
Cũng đừng nên để tội ác dẫn đi
Làm điều hại người
Người khác. Họ.
Chỉ là Tôi
Một Tôi khác
Sự khác nhau hủy hoại
Với những kẻ học đòi kém cỏi
Quả vậy thật sững sờ
Khi Tôn giáo dưỡng nuôi
Những linh hồn tồi tệ
Những bộ óc héo tàn
Thì chúng vun trồng mối hiểm họa tiềm tàng.
Khi Tôn giáo dưỡng nuôi
Những con tim ăn năn
Những tâm hồn bầm giập
Tôn giáo thành vô giá người ơi
Hãy dũng cảm lên Aristide
Tôi biết rõ nghị lực và nhiệt tâm của em
Và nếu như hôm nay tôi đã ra khỏi nhà
Cố ép mình đem theo niềm hạnh phúc
Qua những dòng chữ này
Tôi gắng giữ gìn phẩm hạnh
Phẩm hạnh trước các nạn nhân
Sự lựa chọn này hình như của toàn dân.
Hãy giơ cao bàn tay cứu nguy, các bạn
Hãy lấy ra thứ gì quý giá nhất
Chớ để sự phỉnh phờ mạo phạm
Hãy sợ nhé khi cứ để lún dần
Vào hàng loạt những thông tin
Được các nhà báo mau lẹ đưa lên
một chút “thích thú” của họ
Tầm thường hóa
Những điều tàn bạo nhất.
Sự cuồng tín gây đau thương
Chính sách mị dân làm đau trần thế
Chủ nghĩa cực đoan tặng tôi
Hương vị choáng váng ghê người.
Thứ sáu ngày 13
Tim tôi ngâm nga
Trong tuyệt vọng
Thứ sáu ngày 13
Tim tôi đòi hỏi
Đạo lí làm người.
Ai nấy đều xứng đáng
Có một ngày thứ bẩy 14 kéo theo sau
Và còn hơn thế nữa
Bất kỳ ai cũng đáng sống trên đời
Đêm buông rồi đâu phải cái chết đến người ơi.
Paris 20/11/2015
(SH322/12-15)
Yevgeny Yevtushenko - Odysseas Elytis
Maiakôpxki là nhà thơ lớn của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới và là nhà thơ lớn của nhân loại thế kỷ XX.Thơ của ông biểu hiện nhiệt tình công dân mãnh liệt, là tiếng hát của tương lai, của chủ nghĩa Cộng sản, và tiếng thét căm giận đả phá những mặt tiêu cực trong cuộc sống Xô Viết lúc bấy giờ. Nhà thơ của quãng trường, nhà thơ hùng biện, đó là những từ để mệnh danh người nghệ sĩ kiểu mới này. Ông rất ít viết về thơ tình. Trong dịp kỷ niệm 30 năm sinh của nhà thơ. Tạp chí Văn học Xô Viết ngoài việc giới thiệu những bài thơ chủ đề công dân và xã hội nổi tiếng, còn giới thiệu 2 bài thơ tình của ông. Tâm hồn nồng nhiệt, đẩy đến tận cùng mọi sự, ngay cả lý tưởng hay tình yêu đó là bản chất của thơ Maia.
Hải Kỳ - Đỗ Hoàng - Nguyễn Khắc Thạch
Pimen Pan-tren-cô _ Xéc-gây Da-côn-ni-cốp _ Anatôn Grêtanikốp
Mắc-xim Tăng-kơ (tên thật là Ép-ghê-ni Skuốc-kô) là nhà thơ của đồng ruộng, đất đai, đường sá, khắp các vùng của lãnh thổ Liên bang Xô-viết và rất nhiều nước khác.
XERGÂY ÊXÊNHIN(Trích từ “Những khúc bi ca” và tuyển tập thơ Xergây Êxênhin)
Ngày 22 tháng 10 năm 1987 Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố tên người được tặng giải thưởng Nôben văn học - nhà thơ Nga sống ở Mỹ Iosif Brodsky. I.Brodsky là nhà văn Nga thứ năm được nhận giải thưởng cao quý này. Sau I.Bunhin (1933), B.Pastemnac (1958), M. Solokhov (1965), A.Xongienhixun (1970).
Ludmila TatianitchevaTuổi tôi
OCTAVIO PAZ Tặng các nhà thơ André Breton và Benjamin Perêt
J.W.GOETHECa khúc thiêng liêng
LTS: Nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười (7 - 11) Sông Hương trân trọng giới thiệu chùm thơ của I.Bunhin, tác giả được giải Nobel 1933.
LTS: TOMMY OLOFSSON (1950) là một trong những nhà thơ "sung mãn" nhất Thụy-Điển hiện nay, tác giả bảy tập thơ (tính đến 1991). Ông còn là một chuyên gia về James Joyce, có bằng tiến sĩ văn chương của đại học Lund, tác giả hoặc người biên tập nhiều công trình biên khảo, và nhà phê bình văn nghệ nổi tiếng của nhật báo Thụy Điển Svenska Dagbladet. Bản dịch Thơ nguyên sơ dưới đây dựa theo bản Anh văn của Jean Pearson: Elemental Poems (White Pine Press, N.Y. 1991)
WISLAWA SZYMBORSKA (Nữ nhà thơ Ba Lan. Giải Nobel văn học 1996)
FRED MARCHANT (Mỹ) Tặng Diệu LinhTựa đề của bài thơ là viết sau ba mươi năm Mậu Thân. Ba mươi cái cúi đầu bắt buộc về những mất mát, những nỗi đau do chiến tranh gây ra.
Thi sĩ viết về những điều vi tế của cuộc sống, từ chối nói về mình và cả những người nổi tiếng. Cả cuộc đời, thi sĩ chỉ nhắc đến Thomas Mann một lần trong thơ như sự thiếu vắng con người - sự lưu lạc trên chính quê hương, tâm hồn mình. Và Brodsky, một tâm hồn bị lệch kênh, bị trục xuất… trong diễn văn Nobel. Và cả dòng sông tư nghị: Heraclite.Szymborska, nữ sĩ Ba Lan, là một bậc thầy về thơ nghị luận, viết thơ cũng như cả tiểu luận là để trả lời cảm xúc và câu hỏi: tôi không biết. Sinh 1923 tại Kornik, hiện sống tại Krakow. Viết khoảng 210 bài thơ và một ít tiểu luận từ 1952 đến nay. Nobel văn chương 1996 và nhiều giải thưởng danh dự khác.
PAVIL BUKHARAEP - IVAN SIÔLÔCỐP - IURI SMELIÔP
LTS: Là nhà thơ, tác giả của ba cuốn sách về thi ca. Cùng với Nguyễn Bá Chung ông đã cùng dịch tập thơ “Từ góc sân nhà em” của Trần Đăng Khoa. Ông là giáo sư Anh ngữ, Giám đốc chương trình sáng tạo viết văn của Đại học Suffolk. Ông còn là người thẩm định tác phẩm bậc thầy của Trung tâm William Joiner nghiên cứu về chiến tranh và hệ quả xã hội tại Umass Boston.Ông cũng là người giới thiệu hai cuốn sách Núi Bà Đen của Larry Heinemann và Cốm non (Green Rece) của Lâm Thị Mỹ Dạ đã được dịch ở Mỹ.
Baolin Cheng (Trương Bảo Lâm) là một nhà thơ thành công của “thế hệ thứ ba” các nhà thơ hiện đại Trung Quốc (thế hệ thứ nhất thuộc thời “ngũ tứ” 1919, thế hệ thứ hai được gọi là thế hệ “thơ mông lung” sau cải cách mở cửa). Hiện định cư tại San Françisco (Hoa Kỳ) với tư cách một nhà thơ song ngữ Hoa - Mỹ. Theo Paul Hoover, chủ biên cuốn “Thơ Hậu hiện đại Mỹ”, thơ Baolin Cheng sử dụng những cách thức của thơ siêu hình học- những chuyện kể nén chặt và những cấu trúc ý niệm - phục vụ cho các mục tiêu hiện thực chủ nghĩa. Những bài thơ sau đây của Baolin Cheng đã xuất bản ở Mỹ và Trung Quốc dưới hình thức song ngữ.
RUDYARD KIPLINGRUDYARD KIPLING (1865 Bombay - 1936 Londres) sống trong môi trường Anh-Ấn văn hóa rất cao, là một nhà văn nổi tiếng với những cuốn tiểu thuyết Le Livre de la Jungle (Cuốn sách của rừng xanh), Kim và là một nhà thơ . Thơ ông tập trung vào chủ đề giáo dục nhân cách và đạo đức. Bài thơ NẾU (IF) dưới đây là một bài thơ nổi tiếng của ông.
ALLEN GINSBERG(Tôn vinh Kenneth Koch) (1)LGT: Allen Ginsberg (1926 - 1997): là một nhà thơ hậu hiện đại Mỹ nổi tiếng trong trào lưu Beat cùng với Jack Kerowack và Williams S. Burroughs. Tốt nghiệp đại học năm 1948, làm đủ thứ nghề: thủy thủ, thợ nhà in, rửa bát, điểm sách, nhân viên tiếp thị.