F.G. Lorca: Nhà thơ Tây Ban Nha, một trong những nhà thơ lớn của thế kỷ, một chiến sĩ chống phát xít đã bị kẻ thù ám hại năm 1938, khi ông vừa tròn 40 tuổi.
Thi hào F. Lorca - Ảnh: wiki
F. G. LORCA
Tình ca mộng du
Xanh lá cây, ta yêu mi xanh lá cây
Xanh lá cây gió. Xanh lá cây cành
Chiếc tàu trên biển cả
Và con ngựa trên núi đồi
Với bóng tối ngang hông
Nàng mơ mộng trên ban-công,
Xanh lá cây da thịt, xanh lá cây tóc mềm,
Và đôi mắt bạc lạnh.
Xanh lá cây, ta yêu mi biết mấy xanh lá cây.
Dưới vầng trăng phiêu lãng,
Mọi vật đều nhìn nàng
Nhưng nàng chẳng thấy chi.
Xanh lá cây, ta yêu mi biết mấy xanh lá cây
Những vì sao to lớn của sương giá trắng mờ
Đến với cỏ trong đêm
Đặng mở con đường sớm
Cây sung xây xát gió
Với cành nhánh xù xì,
Và núi đồi, con mèo ăn vụng,
Dựng ngược từng bụi dứa đắng cay.
Nhưng ai sẽ đến? Và đến ở đâu?
Nàng nấn ná trên ban-công
Xanh lá cây da thịt, xanh lá cây tóc mềm,
Gởi mộng về biển cả đắng cay.
- Bạn ơi ta muốn đổi
Ngựa của ta lấy nhà của bạn,
Yên của ta lấy gương của bạn,
Dao của ta lấy chăn của bạn.
Bạn ơi ta đến từ vũng máu
Những hẻm núi Cabra,
- Bạn trẻ ơi, phải chi ta có thể
Minh chứng giao ước này
Nhưng ta đâu là ta nữa
Đâu nữa nhà ta còn đâu nữa.
- Bạn ơi, ta muốn chết
Trang trọng trong giường ta,
Bằng sắt và nếu được
Bằng nệm gấm chăn hoa
Bạn không thấy vết thương ta
Từ ngực lên đến cổ?
Chiếc áo trắng của anh
Cài trăm hoa hồng xám,
Dòng máu anh nhức nhối
Thấm quanh tấm khăn quàng,
Nhưng ta đâu là ta nữa
Đâu nữa nhà ta còn đâu nữa.
- Hãy cố đưa ta đến
Cầu thang vòi vọi cao
Đưa ta đến! Hãy đưa ta đến
Cầu thang xanh lá cây
Cầu thang của vầng trăng
Nơi nước xanh vang dội
Rồi hai bạn đi lên
Phía cầu thang cao vút
Bỏ lại một vệt máu
Bỏ lại vệt nước mắt
Những cửa gió bằng thiếc
Run run trên mái nhà
Ngàn tiếng trống thủy tinh
Đêm nhói trời rạng sáng
Xanh lá cây, ta yêu mi xanh lá cây,
Xanh lá cây gió. Xanh lá cây cành,
Hai người bạn đã lên.
Gió lê thê bỏ lại
Trong mồm một vị lạ
Mật đắng, rau húng quế, bạc hà
Bạn ơi! Nàng nơi đâu
Cô gái đắng cay của bạn đâu?
Nàng thường mong đợi bạn,
Ô! Nàng thường trông đợi bạn!
Khuôn mặt mát, tóc đen,
Trên ban-công xanh lá!
Trên bể nước nóc nhà
Đung đưa cô gái nâu
Xanh lá cây da thịt, xanh lá cây tóc mềm,
Với đôi mắt bạc lạnh,
Chiếc liềm trăng giá băng
Treo nàng trên mặt nước.
Đêm đã thành thân thuộc
Như quảng trường nhỏ xinh
Đám dân phòng say rượu
Đập mạnh lên cửa nhà.
Xanh lá cây, ta yêu mi xanh lá cây.
Xanh lá cây gió. Xanh lá cây cành
Chiếc tàu trên biển cả.
Và con ngựa trên núi đồi.
TRẦN PHƯƠNG KỲ dịch
(theo bản tiếng Anh của Stephen Spender
và G.J. Gili trong Modern European Poetry,
Bentam Book, 1970)
(SH20/8-86)
Yevgeny Yevtushenko - Odysseas Elytis
Maiakôpxki là nhà thơ lớn của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới và là nhà thơ lớn của nhân loại thế kỷ XX.Thơ của ông biểu hiện nhiệt tình công dân mãnh liệt, là tiếng hát của tương lai, của chủ nghĩa Cộng sản, và tiếng thét căm giận đả phá những mặt tiêu cực trong cuộc sống Xô Viết lúc bấy giờ. Nhà thơ của quãng trường, nhà thơ hùng biện, đó là những từ để mệnh danh người nghệ sĩ kiểu mới này. Ông rất ít viết về thơ tình. Trong dịp kỷ niệm 30 năm sinh của nhà thơ. Tạp chí Văn học Xô Viết ngoài việc giới thiệu những bài thơ chủ đề công dân và xã hội nổi tiếng, còn giới thiệu 2 bài thơ tình của ông. Tâm hồn nồng nhiệt, đẩy đến tận cùng mọi sự, ngay cả lý tưởng hay tình yêu đó là bản chất của thơ Maia.
Hải Kỳ - Đỗ Hoàng - Nguyễn Khắc Thạch
Pimen Pan-tren-cô _ Xéc-gây Da-côn-ni-cốp _ Anatôn Grêtanikốp
Mắc-xim Tăng-kơ (tên thật là Ép-ghê-ni Skuốc-kô) là nhà thơ của đồng ruộng, đất đai, đường sá, khắp các vùng của lãnh thổ Liên bang Xô-viết và rất nhiều nước khác.
XERGÂY ÊXÊNHIN(Trích từ “Những khúc bi ca” và tuyển tập thơ Xergây Êxênhin)
Ngày 22 tháng 10 năm 1987 Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố tên người được tặng giải thưởng Nôben văn học - nhà thơ Nga sống ở Mỹ Iosif Brodsky. I.Brodsky là nhà văn Nga thứ năm được nhận giải thưởng cao quý này. Sau I.Bunhin (1933), B.Pastemnac (1958), M. Solokhov (1965), A.Xongienhixun (1970).
Ludmila TatianitchevaTuổi tôi
OCTAVIO PAZ Tặng các nhà thơ André Breton và Benjamin Perêt
J.W.GOETHECa khúc thiêng liêng
LTS: Nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười (7 - 11) Sông Hương trân trọng giới thiệu chùm thơ của I.Bunhin, tác giả được giải Nobel 1933.
LTS: TOMMY OLOFSSON (1950) là một trong những nhà thơ "sung mãn" nhất Thụy-Điển hiện nay, tác giả bảy tập thơ (tính đến 1991). Ông còn là một chuyên gia về James Joyce, có bằng tiến sĩ văn chương của đại học Lund, tác giả hoặc người biên tập nhiều công trình biên khảo, và nhà phê bình văn nghệ nổi tiếng của nhật báo Thụy Điển Svenska Dagbladet. Bản dịch Thơ nguyên sơ dưới đây dựa theo bản Anh văn của Jean Pearson: Elemental Poems (White Pine Press, N.Y. 1991)
WISLAWA SZYMBORSKA (Nữ nhà thơ Ba Lan. Giải Nobel văn học 1996)
FRED MARCHANT (Mỹ) Tặng Diệu LinhTựa đề của bài thơ là viết sau ba mươi năm Mậu Thân. Ba mươi cái cúi đầu bắt buộc về những mất mát, những nỗi đau do chiến tranh gây ra.
Thi sĩ viết về những điều vi tế của cuộc sống, từ chối nói về mình và cả những người nổi tiếng. Cả cuộc đời, thi sĩ chỉ nhắc đến Thomas Mann một lần trong thơ như sự thiếu vắng con người - sự lưu lạc trên chính quê hương, tâm hồn mình. Và Brodsky, một tâm hồn bị lệch kênh, bị trục xuất… trong diễn văn Nobel. Và cả dòng sông tư nghị: Heraclite.Szymborska, nữ sĩ Ba Lan, là một bậc thầy về thơ nghị luận, viết thơ cũng như cả tiểu luận là để trả lời cảm xúc và câu hỏi: tôi không biết. Sinh 1923 tại Kornik, hiện sống tại Krakow. Viết khoảng 210 bài thơ và một ít tiểu luận từ 1952 đến nay. Nobel văn chương 1996 và nhiều giải thưởng danh dự khác.
PAVIL BUKHARAEP - IVAN SIÔLÔCỐP - IURI SMELIÔP
LTS: Là nhà thơ, tác giả của ba cuốn sách về thi ca. Cùng với Nguyễn Bá Chung ông đã cùng dịch tập thơ “Từ góc sân nhà em” của Trần Đăng Khoa. Ông là giáo sư Anh ngữ, Giám đốc chương trình sáng tạo viết văn của Đại học Suffolk. Ông còn là người thẩm định tác phẩm bậc thầy của Trung tâm William Joiner nghiên cứu về chiến tranh và hệ quả xã hội tại Umass Boston.Ông cũng là người giới thiệu hai cuốn sách Núi Bà Đen của Larry Heinemann và Cốm non (Green Rece) của Lâm Thị Mỹ Dạ đã được dịch ở Mỹ.
Baolin Cheng (Trương Bảo Lâm) là một nhà thơ thành công của “thế hệ thứ ba” các nhà thơ hiện đại Trung Quốc (thế hệ thứ nhất thuộc thời “ngũ tứ” 1919, thế hệ thứ hai được gọi là thế hệ “thơ mông lung” sau cải cách mở cửa). Hiện định cư tại San Françisco (Hoa Kỳ) với tư cách một nhà thơ song ngữ Hoa - Mỹ. Theo Paul Hoover, chủ biên cuốn “Thơ Hậu hiện đại Mỹ”, thơ Baolin Cheng sử dụng những cách thức của thơ siêu hình học- những chuyện kể nén chặt và những cấu trúc ý niệm - phục vụ cho các mục tiêu hiện thực chủ nghĩa. Những bài thơ sau đây của Baolin Cheng đã xuất bản ở Mỹ và Trung Quốc dưới hình thức song ngữ.
RUDYARD KIPLINGRUDYARD KIPLING (1865 Bombay - 1936 Londres) sống trong môi trường Anh-Ấn văn hóa rất cao, là một nhà văn nổi tiếng với những cuốn tiểu thuyết Le Livre de la Jungle (Cuốn sách của rừng xanh), Kim và là một nhà thơ . Thơ ông tập trung vào chủ đề giáo dục nhân cách và đạo đức. Bài thơ NẾU (IF) dưới đây là một bài thơ nổi tiếng của ông.
ALLEN GINSBERG(Tôn vinh Kenneth Koch) (1)LGT: Allen Ginsberg (1926 - 1997): là một nhà thơ hậu hiện đại Mỹ nổi tiếng trong trào lưu Beat cùng với Jack Kerowack và Williams S. Burroughs. Tốt nghiệp đại học năm 1948, làm đủ thứ nghề: thủy thủ, thợ nhà in, rửa bát, điểm sách, nhân viên tiếp thị.