L.T.S: Cùng với Blok, Mai-a-cốp-xki, Ê-xê-nhin, Pa-xter-nak... Ma-ri-na Xvê-ta-ê-va (Marina Tsvetaeva 1892 - 1941) là một trong những nhà thơ Nga - Xô Viết lớn nhất của thế kỷ XX. Đường đời của bà là con đường đầy gian truân của một trí thức phải khắc phục nhiều lầm lỗi để đến với chân lý cách mạng. Một trái tim nồng cháy tình yêu Tổ quốc, dân tộc, nhưng Xvê-ta-ê-va mất gần 20 năm sau Cách mạng Tháng Mười sống lưu vong ở nước ngoài và trở về đất nước không được bao lâu thì mất.
Chân dung thi hào Nga Marina Tsvetaeva năm 1924 - Ảnh: internet
Từ những năm 60, sáng tác của Xvê-ta-ê-va (thơ, văn xuôi, kịch) được xuất bản rộng rãi ở Liên Xô được bạn đọc rất yêu mến và giới phê bình nghiên cứu đánh giá cao.
Thơ Xvê-ta-ê-va có một phong cách riêng không thể nhầm lẫn với người khác, ở bà, mọi suy cảm đều mãnh liệt đến cực độ, ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo, táo bạo. Nhiều bài thơ viết hơn nửa thế kỷ trước đây nay đọc vẫn thấy rất mới, hiện đại.
Xin giới thiệu với bạn đọc một chùm thơ nhớ nước của M. Xvê-ta-ê-va sáng tác trong những năm 1931-1933.
TSVETAEVA
Không đề
Nhớ Tổ quốc! Thật là điều vô nghĩa
Đã từ lâu thiên hạ biết hết rồi
Tôi dửng dưng: sống ở đâu chẳng được
Sống nơi nào chẳng trơ trọi, đơn côi?
Những nẻo đường nào lê gót nặng
Lép kẹp túi đeo từ chợ về nhà
Nhà lạnh lẽo khác gì bệnh viện
Hay trại lính đồn, đâu phải nhà ta
Tôi dửng dưng: trước mặt người nào cũng thế
Hợm oai dựng bờm như sư tử trong lồng
Bị ly gián, gạt ra đánh bật
Khỏi mọi giới giao lưu, mọi cộng đồng
Về với cái riêng mình xúc động
Con gấu cực bắc không một mảnh băng
Đâu yên sống (chẳng mảy may hy vọng)
Đâu lụy phiền - sao tôi không dửng dưng
Không quyến rũ lòng tôi ngay cả tiếng mẹ đẻ
Với lời gọi thiêng liêng máu mủ ân tình
Tôi dửng dưng: nói tiếng nào cũng vậy
Người xung quanh đâu hiểu cho mình
(Họ nuốt tươi hàng tấn báo chí
Vắt uống vạn ngàn điều đơm đặt hàng ngày…)
Họ là người của thế kỷ hai mươi
Còn tôi - tôi sinh ra trước mọi thế kỷ!
Sững sờ như khúc gỗ còn sót lại
Nơi hàng cây xanh biếc thuở xưa
Tôi dửng dưng với mọi miền , mọi chốn
Và có lẽ hơn cả tôi thờ ơ
Với những gì xưa kia thân thuộc nhất
Mọi dấu hiệu kỷ niệm trong tôi
Dường như đã bị bàn tay nào xóa sạch
Một linh hồn vô thừa nhận giữa đời
Quê hương chẳng ràng buộc tôi đến nỗi
Nếu cho ngay một thám tử tinh tường
Soi tìm khắp hồn tôi ngang dọc
Cũng không còn một vết tích thân thương
Với tôi, mọi tổ ấm ghẻ lạnh, mọi thánh đường trống rỗng
Tôi dửng dưng tất cả, với tất cả tôi vô tình
Nhưng bất chợt nếu hiện ra bên đường
Một bụi cây. Một bụi bạch dương… (*)
Tổ quốc
Sao cái lưỡi không cất nên lời
Tôi cứ ngỡ giản đơn thôi
Người mu-gích trước tôi đã bao lần ca hát
Nước Nga, Tổ quốc của ta ơi!
Nhưng từ miền quê, mỏm đồi Ca-lu-ga xưa
Đã chan chứa hồn tôi cái khoảng xa vô biên ấy
Thăm thẳm nơi cùng trời cuối đất
Ngoại bang, Tổ quốc của ta ơi!
Cái vô biên bẩm sinh như cái đau
Thân thương và định mệnh đến nỗi
Lưu lạc qua bao nhiêu miền đất khách
Tôi vẫn mang không suy suyển trong mình
Cái vô biên cách ly tôi với những gì gần sát
Gọi tôi bức thiết: "Hãy về đi"
Từ khắp chốn - tới tinh cầu vòi vọi
Thôi thúc tôi quay gót trở về
Đâu phải ngẫu nhiên, xanh hơn nước biển
Tôi vỗ vô biên vào trán muôn người
Mẹ! Dẫu phải mất cánh tay
Dù mất cả hai! Con vẫn ký bằng môi
Lên đoạn đầu đài: mảnh đất giành giật của tôi
Tổ quốc, niềm kiêu hãnh của tôi ơi!
Thư gửi con trai
Không lên thành thị, không xuống nông thôn
Con trai của mẹ, về nước đi con
Về đất nước trái ngược mọi đất nước
Quay về đó là xông lên phía trước
Nhất là con từ thuở lọt lòng
Đã bao giờ thấy xứ sở quê hương
Đâu phải của mẹ, con là của non sông
Cái hiện tại tẩy nhòa dần dĩ vãng
Nắm đất đã hóa thành bụi cát
Lẽ nào đôi bàn tay run rẩy
Lại rắc trên nôi trẻ thơ:
"Nước Nga đó - cát bụi! Hãy phụng thờ!"
Đời non trẻ chưa hề biết mất mát
Lên đường đi con! Hãy hướng mắt
Về nơi mắt mọi miền đất nước
mắt cả trái đất nhìn
Cặp mắt con xanh biếc mẹ âu yếm nhìn
Cặp mắt con trông về đất Nga thân thiết
Cha mẹ quê hương chẳng bao giờ gọi
Quay về đi con - tức là xông tới
Về xứ sở mình, về thời đại mình
Về nước Nga của con nước Nga của muôn dân
Về đất nước hiện tại, đất nước hôm nay
Đất nước - lên - sao Hỏa! Đất nước cha mẹ không hay
PHẠM VĨNH CƯ dịch
(SH24/4-87)
-------------------
(*) Trong nguyên tác: Riabina, loại cây rừng tiêu biểu cho thiên nhiên Nga cũng như bạch dương.
KURT HEYNICKE(Nhà thơ biểu hiện Đức sinh năm 1891)LGT: Kurt Heynicke là nhà thơ biểu hiện nổi tiếng của nước Đức. Ông được giải thưởng thơ “Kleist” vào năm 1913.Bài thơ Vườn thống khổ (Gethsemane), được trích từ Mensch heitsdammerung, do Kurt Pinthus thực hịên, được tái bản nhiều lần. Chúng tôi xin giới thiệu bài thơ đó với bản dịch của dịch giả thơ phương Tây nổi tiếng, Diễm Châu.
ROBERTO JUARROZ(Nhà thơ Achentina 1925 – 1995)LGT: Roberto Juarroz là nhà thơ hiện đại Achentina được thế giới biết đến nhiều hơn cả, có lẽ chỉ sau Jorge – Luis Borges. Ông sinh ngày 5/10/1925 tại Coronel Dorrego thuộc Buenos Aires, và mất ngày 31.3.1995 cũng tại thủ đô Achentina, sau một cuộc đời lưu vong vì chế độ độc tài của quốc gia ông. Ông là tác giả của 15 tập thơ cùng mang tên duy nhất Thơ thẳng đứng (Poesía vertical) chỉ khác nhau ở số thứ tự I đến XV. Ông còn là giáo sự đại học Buenos Aires, chuyên viên truyền thông (thư viện) của Liên Hiệp Quốc đồng giám đốc tạp chí thơ (Poesía), nhà phê bình văn chương ở tạp chí Gaceta (Tucumán), nhà phê bình điện ảnh và kịch ở tạp chí Esto.
TOMAS TRANSTROMER (Thụy Điển)LGT: Tomas Transtromer (1931-) là một trong những nhà thơ hiện đại Thụy Điển nổi tiếng thế giới, từ những năm 50 của thế kỷ XX, ông nhận được các giải thưởng lớn: Pétrarque (Đức) năm 1981, Neustadt Internationl (Hoa Kỳ) năm 1990, giải Bắc Âu (Viện Hàm lâm Thụy Điển) năm 1991, giải Hort Bienek (Đức) 1992. Toàn tập thơ ông được xuất bản năm 1996. Thơ ông được dịch ra 43 thứ tiếng. Ông thường sử dụng thể tự do hoặc thơ văn xuôi với ngôn từ thơ trong sáng nhưng sức mạnh ở chỗ nó hòa quyện được những phúng dụ bác học và những mô tả chính xác về thế giới vũ trụ bật dậy những cảm xúc.
OCTAVIO PAZ (Nobel 1990)Tặng Roman Jakobson LGT: Octavio Paz (1914-1998), nhà thơ Mêhicô nổi tiếng, giải thưởng Miguel de Cervantes 1981, giải T. Eliot 1987, giải Nobel 1990. Tác giả của 5 tập thơ, sau này in lại trong Obra poética (Tác phẩm thơ 1938 - 1988), 23 tập tiểu luận về văn học nghệ thuật. SH xin giới thiệu một bài thơ “tuyên ngôn thơ” của ông, NÓI: LÀM qua bản dịch của dịch giả Dương Tường.
HAROLD PINTER (Nobel 2005)LGT: Harold Pinter, nhà văn Anh, giải thưởng Nobel 2005, được vinh danh với những vở kịch, những kịch bản phim, ông còn là nhà thơ nổi tiếng. Bài diễn văn đọc trong buổi lễ nhận giải Nobel của ông, quyết liệt trong sự chống Mỹ làm Tổng thống Bush rầu lòng. Bài thơ “Thói đồi bại” được giới thiệu dưới đây, vừa mới công bố cách đây ít lâu trên The Guardian ngày 26 - 01 - 2006.
LGT: Harold Pinter, sinh năm 1930 tại London , Anh quốc. Ông là một kịch tác gia, nhưng cũng là nhà thơ, đạo diễn, diễn viên, nhà hoạt động chính trị (ông đặc biệt chống lại sự lạm dụng quyền lực trong quan hệ quốc tế, như chống lại việc NATO đánh bom , Mỹ tấn công ).
SAM HAMIL LGT: Sam Hamil, nhà thơ Mỹ, nổi tiếng với website chống chiến tranh của Mĩ ở , tập hợp 13.000 bài thơ của 12.000 nhà thơ Mỹ và thế giới, đồng thời chủ biên tập thơ “Những nhà thơ chống chiến tranh” (Poets against The War, NXB Nation Books, 2003), thuộc loại best-seller (bán chạy nhất) ở Mỹ.
Nhà thơ, dịch giả Diễm Châu, sinh năm 1937 tại Hải Phòng. Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài gòn, sau đó tu nghiệp tại Hoa Kỳ về truyền thông. Trước 1975, ông làm Tổng thư ký Tạp chí Trình Bầy. Định cư tại Strasbourg, Pháp từ 1983 cho đến ngày tạ thế. Ông đã vĩnh viễn ra đi vào sáng ngày 28 tháng 12 năm 2006.
SEAN LUNDELGT: Sean Lunde là một nhân viên của Trung tâm William Joiner. Hiện anh là sinh viên của Đại học Massachusetts Boston, Hoa Kỳ. Đã từng là cựu chiến binh Mỹ tham gia cuộc chiến tranh tại , do vậy Sean Lunde hiểu rõ được thế nào là một cuộc chiến tranh phi nghĩa và các hậu quả xã hội của nó.
ANNE-MARIE LÉVYAnne-Marie Lévy là người Pháp gốc Na-Uy, hiện giảng dạy tiếng Phạn và văn hoá Ấn Độ ở Đại học Bordeaux III. Sau Hiệp định Genève năm 1954, bà cùng chồng làm việc ở Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội trong nhiều năm. Trở về Pháp bà theo dõi cuộc chiến ở Việt và viết sách bằng tiếng Na-Uy để giới thiệu Việt cho độc giả Bắc Âu.Bài thơ này được làm theo thể haiku của Nhật Bản. Thể haiku gồm nhiều đoạn, mỗi đoạn có ba câu lần lượt 5 âm tiết, 7 âm tiết rồi lại 5 âm tiết (5-7-5). Bài dịch ra tiếng Việt tuân thủ qui tắc của haiku.
EILEEN HEANEYLGT: Eileen Heaney là một họa sĩ sống ở Boston, Mỹ. Năm 1997 bà cùng với chồng là ông James Hullett – Triết gia, giáo sư đại học và là giám đốc một nhà xuất bản sách triết - về Việt Nam để nhận bé Frankie từ trại trẻ mồ côi Hội An, Đà Nẵng làm con nuôi.
MYLÈNE CATELLGT: Mylène Catel sinh năm 1966, tại Normandie (Pháp).Thạc sỹ Anh văn và Tiến sỹ Pháp văn.Hiện sống ở Hoa Kỳ - nơi bà giảng dạy văn chương tại Đại học Michigan.Bà đã xuất bản hai tập thơ: "Le Jongleur Fou" (1995), Paris, Editions Caractères; "JC" (1996), Paris, ditions Caractères.
YVES BONNEFOYYves Bonnefoy sinh năm 1923, tại Tours (Pháp).Ông là nhà thơ, nhà văn, nhà dịch thuật và là nhà biên khảo, phê bình văn học nghệ thuật nổi tiếng của nước Pháp, với gần 50 tác phẩm có giá trị về đủ thể loại. Nghĩ về văn học, nghệ thuật, ông quan niệm “đó là cuộc chiến đấu không ngừng để chống lại sự cám dỗ mang tính giáo điều và tư tưởng duy khái niệm”. Vì vậy, thơ Yves Bonnefoy là tiếng nói đa thanh, luôn va đập và sinh thành, luôn giao động giữa hiện thực và siêu thực, giữa vô lý và hợp lý để nói lên mối liên hệ giữa con người và thế giới đang vận động, bất ổn. Như cách thể, để chống lại sự sáo mòn, bảo thủ do sự già nua, hoài nghi và vô cảm của con người. HỒ THẾ HÀ
TANG HẰNG XƯƠNG (Trung Quốc)LTS: Sinh năm 1941. Đã xuất bản 6 tập thơ. Thơ Tang Hằng Xương có những từ ngữ, hình ảnh, ý tưởng... rất kỳ lạ và táo bạo; đã được dịch ra các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hàn và gần đây là tiếng Việt (báo Văn nghệ, Tạp chí Văn học nước ngoài - H.D.dịch và giới thiệu). Những bài thơ dưới đây lấy từ tập thơ Nhớ cha mẹ (Tang Hằng Xương - Hoài thân thi tập) in lần thứ nhất 1999, in lần thứ hai 2001. (Tang Hằng Xương mồ côi mẹ năm mười hai tuổi).
LTS: Vlađimir Maiakôvxki là “lá cờ đầu của thơ ca Tháng Mười Nga”. Nhân kỷ niệm 85 năm Cách mạng tháng Mười Nga, chúng tôi mời nhà phê bình - giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, một chuyên gia về Maiakôvxki, viết bài về tiếng thơ của Maia trong cuộc sống và thế giới ngày hôm nay. Nhà phê bình đã gửi cho chúng tôi bản dịch một bài thơ của Maia và trình bày mấy ý kiến hết sức ngắn gọn.
Margaret Atwoods là một trong số nhà thơ viết bằng tiếng Anh hàng đầu ở . Sinh năm 1939. Bà đã xuất bản trên 10 tập thơ, trên 10 tiểu thuyết, một số sách phê bình và sách cho trẻ em, đã nhận nhiều giải thưởng và bằng cấp danh dự. Gần nhất là Giải Pulitzer 2001 về tiểu thuyết. Thơ M.Atwoods đầy tinh thần phản kháng, trầAn trụi và khốc liệt khi cần vạch trần sự thật về thân phận người đàn bà ở khắp nơi trên thế giới, một mặt lại vỗ về nâng giấc che chở đối với người mình yêu. Quả là một nữ tính của thế kỷ. HOÀNG HƯNG chuyển ngữ từ nguyên bản.
LANGSTON HUGHESLGT: Langston Hughes (1902-1967) là một trong những cây viết chủ lực của phong trào văn học nghệ thuật của người Mỹ gốc Phi - châu trong thập niên 1920, mệnh danh là phong trào Phục Hưng Harlem (Harlem Renaissance)- một nỗ lực nhằm cổ động lòng tự hào về màu da và văn hóa da đen.
LTS: Robert Creeley sinh năm 1926, có một cuộc đời nhiều biến động. Hai lần bỏ học đại học giữa chừng, hai lần ly hôn, hai lần sang làm việc ở các nước thế giới thứ ba (năm 1944 lái xe cứu thương trong lực lượng American Field Service ở Ấn Độ và Miến Điện.
...Thế nhưng trên đôi tai hoá đáSự im lặng vẫn thét gàoVang dội trong năm tháng với những thanh âm thịnh nộ...
LTS: Werner Lambersy thuộc thế hệ những nhà thơ trẻ đương đại của Pháp. Thơ ông là sự kết hợp thần tình giữa lối tư duy luận lý sắc sảo cùng khả năng trực cảm cực kỳ tinh tế. Điều đó khiến cho thơ W.Lambersy làm hiện hình được bản chất đời sống ở những nơi chốn mong manh nhất. Dưới con mắt nhà thơ, cái đẹp luôn biến ảo, không dừng lại, lần theo dấu vết của chúng, bạn sẽ khám phá thấy những chân lý hoàn toàn bất ngờ. Những bài thơ dưới đây, chúng tôi rút ra từ một tập thơ xuất bản năm 1998 của W.Lambersy do trung tâm sách quốc gia của Pháp đỡ đầu và ấn hành.