Thơ Tsvetaeva

17:24 06/11/2012

L.T.S: Cùng với Blok, Mai-a-cốp-xki, Ê-xê-nhin, Pa-xter-nak... Ma-ri-na Xvê-ta-ê-va (Marina Tsvetaeva 1892 - 1941) là một trong những nhà thơ Nga - Xô Viết lớn nhất của thế kỷ XX. Đường đời của bà là con đường đầy gian truân của một trí thức phải khắc phục nhiều lầm lỗi để đến với chân lý cách mạng. Một trái tim nồng cháy tình yêu Tổ quốc, dân tộc, nhưng Xvê-ta-ê-va mất gần 20 năm sau Cách mạng Tháng Mười sống lưu vong ở nước ngoài và trở về đất nước không được bao lâu thì mất.

Chân dung thi hào Nga Marina Tsvetaeva năm 1924 - Ảnh: internet

Từ những năm 60, sáng tác của Xvê-ta-ê-va (thơ, văn xuôi, kịch) được xuất bản rộng rãi ở Liên Xô được bạn đọc rất yêu mến và giới phê bình nghiên cứu đánh giá cao.
Thơ Xvê-ta-ê-va có một phong cách riêng không thể nhầm lẫn với người khác, ở bà, mọi suy cảm đều mãnh liệt đến cực độ, ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo, táo bạo. Nhiều bài thơ viết hơn nửa thế kỷ trước đây nay đọc vẫn thấy rất mới, hiện đại.
Xin giới thiệu với bạn đọc một chùm thơ nhớ nước của M. Xvê-ta-ê-va sáng tác trong những năm 1931-1933.




TSVETAEVA


Không đề

Nhớ Tổ quốc! Thật là điều vô nghĩa
Đã từ lâu thiên hạ biết hết rồi
Tôi dửng dưng: sống ở đâu chẳng được
Sống nơi nào chẳng trơ trọi, đơn côi?

Những nẻo đường nào lê gót nặng
Lép kẹp túi đeo từ chợ về nhà
Nhà lạnh lẽo khác gì bệnh viện
Hay trại lính đồn, đâu phải nhà ta

Tôi dửng dưng: trước mặt người nào cũng thế
Hợm oai dựng bờm như sư tử trong lồng
Bị ly gián, gạt ra đánh bật
Khỏi mọi giới giao lưu, mọi cộng đồng

Về với cái riêng mình xúc động
Con gấu cực bắc không một mảnh băng
Đâu yên sống (chẳng mảy may hy vọng)
Đâu lụy phiền - sao tôi không dửng dưng

Không quyến rũ lòng tôi ngay cả tiếng mẹ đẻ
Với lời gọi thiêng liêng máu mủ ân tình
Tôi dửng dưng: nói tiếng nào cũng vậy
Người xung quanh đâu hiểu cho mình

(Họ nuốt tươi hàng tấn báo chí
Vắt uống vạn ngàn điều đơm đặt hàng ngày…)
Họ là người của thế kỷ hai mươi
Còn tôi - tôi sinh ra trước mọi thế kỷ!

Sững sờ như khúc gỗ còn sót lại
Nơi hàng cây xanh biếc thuở xưa
Tôi dửng dưng với mọi miền , mọi chốn
Và có lẽ hơn cả tôi thờ ơ

Với những gì xưa kia thân thuộc nhất
Mọi dấu hiệu kỷ niệm trong tôi
Dường như đã bị bàn tay nào xóa sạch
Một linh hồn vô thừa nhận giữa đời

Quê hương chẳng ràng buộc tôi đến nỗi
Nếu cho ngay một thám tử tinh tường
Soi tìm khắp hồn tôi ngang dọc
Cũng không còn một vết tích thân thương

Với tôi, mọi tổ ấm ghẻ lạnh, mọi thánh đường trống rỗng
Tôi dửng dưng tất cả, với tất cả tôi vô tình
Nhưng bất chợt nếu hiện ra bên đường
Một bụi cây. Một bụi bạch dương… (*)



Tổ quốc

Sao cái lưỡi không cất nên lời
Tôi cứ ngỡ giản đơn thôi
Người mu-gích trước tôi đã bao lần ca hát
Nước Nga, Tổ quốc của ta ơi!

Nhưng từ miền quê, mỏm đồi Ca-lu-ga xưa
Đã chan chứa hồn tôi cái khoảng xa vô biên ấy
Thăm thẳm nơi cùng trời cuối đất
Ngoại bang, Tổ quốc của ta ơi!

Cái vô biên bẩm sinh như cái đau
Thân thương và định mệnh đến nỗi
Lưu lạc qua bao nhiêu miền đất khách
Tôi vẫn mang không suy suyển trong mình

Cái vô biên cách ly tôi với những gì gần sát
Gọi tôi bức thiết: "Hãy về đi"
Từ khắp chốn - tới tinh cầu vòi vọi
Thôi thúc tôi quay gót trở về

Đâu phải ngẫu nhiên, xanh hơn nước biển
Tôi vỗ vô biên vào trán muôn người

Mẹ! Dẫu phải mất cánh tay
Dù mất cả hai! Con vẫn ký bằng môi
Lên đoạn đầu đài: mảnh đất giành giật của tôi
Tổ quốc, niềm kiêu hãnh của tôi ơi!



Thư gửi con trai

Không lên thành thị, không xuống nông thôn
Con trai của mẹ, về nước đi con
Về đất nước trái ngược mọi đất nước
Quay về đó là xông lên phía trước
Nhất là con từ thuở lọt lòng
Đã bao giờ thấy xứ sở quê hương

Đâu phải của mẹ, con là của non sông
Cái hiện tại tẩy nhòa dần dĩ vãng
Nắm đất đã hóa thành bụi cát
Lẽ nào đôi bàn tay run rẩy
Lại rắc trên nôi trẻ thơ:
"Nước Nga đó - cát bụi! Hãy phụng thờ!"

Đời non trẻ chưa hề biết mất mát
Lên đường đi con! Hãy hướng mắt
Về nơi mắt mọi miền đất nước
                        mắt cả trái đất nhìn
Cặp mắt con xanh biếc mẹ âu yếm nhìn
Cặp mắt con trông về đất Nga thân thiết

Cha mẹ quê hương chẳng bao giờ gọi
Quay về đi con - tức là xông tới
Về xứ sở mình, về thời đại mình
Về nước Nga của con nước Nga của muôn dân
Về đất nước hiện tại, đất nước hôm nay
Đất nước - lên - sao Hỏa! Đất nước cha mẹ không hay


PHẠM VĨNH CƯ dịch
(SH24/4-87)



-------------------
(*) Trong nguyên tác: Riabina, loại cây rừng tiêu biểu cho thiên nhiên Nga cũng như bạch dương.









 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Yevgeny Yevtushenko - Odysseas Elytis

  • Maiakôpxki là nhà thơ lớn của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới và là nhà thơ lớn của nhân loại thế kỷ XX.Thơ của ông biểu hiện nhiệt tình công dân mãnh liệt, là tiếng hát của tương lai, của chủ nghĩa Cộng sản, và tiếng thét căm giận đả phá những mặt tiêu cực trong cuộc sống Xô Viết lúc bấy giờ. Nhà thơ của quãng trường, nhà thơ hùng biện, đó là những từ để mệnh danh người nghệ sĩ kiểu mới này. Ông rất ít viết về thơ tình. Trong dịp kỷ niệm 30 năm sinh của nhà thơ. Tạp chí Văn học Xô Viết ngoài việc giới thiệu những bài thơ chủ đề công dân và xã hội nổi tiếng, còn giới thiệu 2 bài thơ tình của ông. Tâm hồn nồng nhiệt, đẩy đến tận cùng mọi sự, ngay cả lý tưởng hay tình yêu đó là bản chất của thơ Maia.

  • Hải Kỳ - Đỗ Hoàng - Nguyễn Khắc Thạch

  • Pimen Pan-tren-cô _ Xéc-gây Da-côn-ni-cốp _ Anatôn Grêtanikốp

  • Mắc-xim Tăng-kơ (tên thật là Ép-ghê-ni Skuốc-kô) là nhà thơ của đồng ruộng, đất đai, đường sá, khắp các vùng của lãnh thổ Liên bang Xô-viết và rất nhiều nước khác.

  • XERGÂY ÊXÊNHIN(Trích từ “Những khúc bi ca” và tuyển tập thơ Xergây Êxênhin)

  • Ngày 22 tháng 10 năm 1987 Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố tên người được tặng giải thưởng Nôben văn học - nhà thơ Nga sống ở Mỹ Iosif Brodsky. I.Brodsky là nhà văn Nga thứ năm được nhận giải thưởng cao quý này. Sau I.Bunhin (1933), B.Pastemnac (1958), M. Solokhov (1965), A.Xongienhixun (1970).

  • Ludmila TatianitchevaTuổi tôi

  • OCTAVIO PAZ        Tặng các nhà thơ André Breton và Benjamin Perêt

  • LTS: Nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười (7 - 11) Sông Hương trân trọng giới thiệu chùm thơ của I.Bunhin, tác giả được giải Nobel 1933.

  • LTS: TOMMY OLOFSSON (1950) là một trong những nhà thơ "sung mãn" nhất Thụy-Điển hiện nay, tác giả bảy tập thơ (tính đến 1991). Ông còn là một chuyên gia về James Joyce, có bằng tiến sĩ văn chương của đại học Lund, tác giả hoặc người biên tập nhiều công trình biên khảo, và nhà phê bình văn nghệ nổi tiếng của nhật báo Thụy Điển Svenska Dagbladet. Bản dịch Thơ nguyên sơ dưới đây dựa theo bản Anh văn của Jean Pearson: Elemental Poems (White Pine Press, N.Y. 1991)

  • WISLAWA SZYMBORSKA (Nữ nhà thơ Ba Lan. Giải Nobel văn học 1996)

  • FRED MARCHANT (Mỹ)                 Tặng Diệu LinhTựa đề của bài thơ là viết sau ba mươi năm Mậu Thân. Ba mươi cái cúi đầu bắt buộc về những mất mát, những nỗi đau do chiến tranh gây ra.

  • Thi sĩ viết về những điều vi tế của cuộc sống, từ chối nói về mình và cả những người nổi tiếng. Cả cuộc đời, thi sĩ chỉ nhắc đến Thomas Mann một lần trong thơ như sự thiếu vắng con người - sự lưu lạc trên chính quê hương, tâm hồn mình. Và Brodsky, một tâm hồn bị lệch kênh, bị trục xuất… trong diễn văn Nobel. Và cả dòng sông tư nghị: Heraclite.Szymborska, nữ sĩ Ba Lan, là một bậc thầy về thơ nghị luận, viết thơ cũng như cả tiểu luận là để trả lời cảm xúc và câu hỏi: tôi không biết. Sinh 1923 tại Kornik, hiện sống tại Krakow. Viết khoảng 210 bài thơ và một ít tiểu luận từ 1952 đến nay. Nobel văn chương 1996 và nhiều giải thưởng danh dự khác.

  • PAVIL BUKHARAEP - IVAN SIÔLÔCỐP - IURI SMELIÔP

  • LTS: Là nhà thơ, tác giả của ba cuốn sách về thi ca. Cùng với Nguyễn Bá Chung ông đã cùng dịch tập thơ “Từ góc sân nhà em” của Trần Đăng Khoa. Ông là giáo sư Anh ngữ, Giám đốc chương trình sáng tạo viết văn của Đại học Suffolk. Ông còn là người thẩm định tác phẩm bậc thầy của Trung tâm William Joiner nghiên cứu về chiến tranh và hệ quả xã hội tại Umass Boston.Ông cũng là người giới thiệu hai cuốn sách Núi Bà Đen của Larry Heinemann và Cốm non (Green Rece) của Lâm Thị Mỹ Dạ đã được dịch ở Mỹ.

  • Baolin Cheng (Trương Bảo Lâm) là một nhà thơ thành công của “thế hệ thứ ba” các nhà thơ hiện đại Trung Quốc (thế hệ thứ nhất thuộc thời “ngũ tứ” 1919, thế hệ thứ hai được gọi là thế hệ “thơ mông lung” sau cải cách mở cửa). Hiện định cư tại San Françisco (Hoa Kỳ) với tư cách một nhà thơ song ngữ Hoa - Mỹ. Theo Paul Hoover, chủ biên cuốn “Thơ Hậu hiện đại Mỹ”, thơ Baolin Cheng sử dụng những cách thức của thơ siêu hình học- những chuyện kể nén chặt và những cấu trúc ý niệm - phục vụ cho các mục tiêu hiện thực chủ nghĩa. Những bài thơ sau đây của Baolin Cheng đã xuất bản ở Mỹ và Trung Quốc dưới hình thức song ngữ.

  • RUDYARD KIPLINGRUDYARD KIPLING (1865  Bombay - 1936 Londres) sống trong môi trường Anh-Ấn văn hóa rất cao, là một nhà văn nổi tiếng với những cuốn tiểu thuyết Le Livre de la Jungle (Cuốn sách của rừng xanh), Kim và là một nhà thơ . Thơ ông tập trung vào  chủ đề giáo dục nhân cách và đạo đức. Bài thơ NẾU (IF) dưới đây là một bài thơ nổi tiếng của ông.

  • ALLEN GINSBERG(Tôn vinh Kenneth Koch) (1)LGT: Allen Ginsberg (1926 - 1997): là một nhà thơ hậu hiện đại Mỹ nổi tiếng trong trào lưu Beat cùng với Jack Kerowack và Williams S. Burroughs. Tốt nghiệp đại học năm 1948, làm đủ thứ nghề: thủy thủ, thợ nhà in, rửa bát, điểm sách, nhân viên tiếp thị.