BILLY COLLINS - nhà thơ được yêu thích nhất nước Mỹ

09:21 25/03/2014

Billy Collins (sinh ngày 22/3/1941) là thi sĩ nổi tiếng ở Mỹ. Ông đã từng hai lần được bầu là Thi bá, hay còn gọi là Nhà thơ danh dự (Poet Laureate) của Hoa Kỳ, lần đầu vào năm 2001 và lần thứ hai vào năm 2003. Trong các năm từ 2004 đến 2006 ông được bầu là Thi sĩ của bang New York.

Thi sĩ Billy Collins ở La Jolla, San Diego, 2008 - Ảnh: wiki

Ông là giáo sư của nhiều trường đại học Mỹ trong đó có trường Lehman College và trường City University New York. Là Thi bá Hoa Kỳ, Billy Collins đã từng đọc bài thơ The Names của mình tại phiên họp đặc biệt của Quốc hội Mỹ ngày 6/9/2002 nhằm tưởng nhớ các nạn nhân của vụ khủng bố 11/9. Tác giả Bruce Weber có lần viết trên tờ New York Times rằng Billy Collins là nhà thơ “được yêu thích nhất nước Mỹ”. Còn nhà thơ, nhà văn, đồng thời là nhà phê bình văn học nổi tiếng John Updike cũng không tiếc lời ca ngợi các tác phẩm thơ của Billy Collins. Ông này cho rằng các bài thơ của Billy Collins “đáng yêu, trong trẻo, dịu dàng, luôn gây sửng sốt, và thường nghiêm túc hơn là cái vẻ của chúng.” Trong thế giới thơ hiện đại chưa có nhà thơ nào thu hút độc giả bằng Billy Collins. Các buổi đọc thơ của ông thường xuyên hết vé. Hiện ông là nhà thơ có nhiều người đọc nhất ở Mỹ. Theo từ điển mở Wikipedia, khi chuyển từ nhà xuất bản University of Pittsburgh Press sang nhà xuất bản Random House, Billy Collins nhận được khoản tiền tạm ứng cho hợp đồng in ba tập sách lên đến 6 con số, và đó cũng là điều chưa từng thấy trong lịch sử thi ca. Tạp chí Poetry của Mỹ đã nhiều lần trao tặng giải thưởng thơ cho Billy Collins. Năm 2004 tạp chí này vinh danh ông là Nhà thơ của năm. Và năm 2005, Billy Collins được tặng giải thưởng Mark Twain do trong thơ ông có yếu tố hài hước.
Lương Duyên Tâm (giới thiệu và dịch)
 


Im lặng

Có sự im lặng bất ngờ từ đám đông
khi vận động viên trên sân ngừng di chuyển
và có sự im lặng của hoa phong lan


Sự im lặng của chiếc lọ đang rơi
trước khi nó đập xuống sàn nhà
sự im lặng của cái roi không quất vào đứa trẻ


Sự im lặng của cái chén và của nước trong đó
sự im lặng của mặt trăng
và sự im lặng của ban ngày cách xa tiếng gầm rú của mặt trời


Sự im lặng khi anh ôm em vào lòng
sự im lặng của cái cửa sổ phía trên chúng ta
sự im lặng khi em đứng lên và quay đi

Và đó là sự im lặng của buổi sáng
mà anh đã phá vỡ bằng cây bút của mình
sự im lặng chất chồng hằng đêm

giống như tuyết rơi trong bóng tối ngôi nhà
sự im lặng khi anh viết một từ
và sự im lặng này còn tệ hơn.



Nhật Bản

Hôm nay anh giết thời gian
Bằng cách đọc những bài thơ haiku
Từng từ từng từ một.

Anh cảm thấy như thể đang ăn
Những quả nho hoàn hảo nhỏ bé giống nhau
Từng quả, từng quả một.

Anh đi dọc nhà và đọc thơ.
Để cho những con chữ rơi xuống
Qua bầu không khí từng căn phòng.

Anh đọc thơ bên sự im lặng to lớn của chiếc đàn dương cầm.
Anh đọc trước bức tranh vẽ biển
Anh đánh nhịp lên cái giá sách trống.
Anh lắng nghe mình đọc thơ
Rồi anh đọc mà không lắng nghe
Sau đó anh lắng nghe mà không đọc.

Và khi con chó ngước nhìn anh
Anh quỳ lên sàn nhà
Đọc thầm vào từng cái tai dài màu trắng của nó.

Đó là câu thơ nói về cái chuông chùa
Với con bướm đêm ngủ trên mặt chuông
Và bất cứ khi nào đọc câu thơ ấy
Anh lại cảm thấy áp lực đau khổ của con bướm
Đè lên bề mặt cái chuông.


Khi anh đọc thơ cạnh cửa sổ
Cái chuông là thế giới
Còn anh là con bướm đậu ở đó.

Khi anh đọc bên cái gương
Anh là cái chuông nặng
Còn con bướm là thế giới với đôi cánh mỏng như giấy.

Sau đó, khi anh đọc câu thơ ấy cho em nghe trong bóng tối
Em là cái chuông
Và anh rung chuông em,


Rồi con bướm bay đi
Nó chuyển động như chiếc bản lề trong không khí trên
                                                chiếc giường của chúng ta.



Đồ án

Tôi đổ một lớp muối lên mặt bàn
rồi dùng ngón tay vẽ một vòng tròn.
Đó là vòng đời
tôi nói một mình.


Đó là vòng tròn định mệnh
là vòng Bắc cực
là cung đường Kerry
là bông hồng trắng ở Tralec.
Tôi nói với các linh hồn của gia đình tôi,
với những người cha đã khuất,
với bà cô bị chết đuối,
với những người anh người chị chưa sinh,
với những đứa con chưa sinh.
Đó là mặt trời với những tia lấp lánh
và mặt trăng cay đắng.
Đó là vòng tròn tuyệt đối của hình học.
Tôi nói với vết nứt trên tường
với con chim bay ngang qua cửa sổ.
Đó là vòng tròn tôi vừa phát minh
quay quanh cuộc đời còn lại của tôi.
Tôi nói
khi chạm ngón tay mình vào lưỡi.


(SH301/03-14)










 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • KURT HEYNICKE(Nhà thơ biểu hiện Đức sinh năm 1891)LGT: Kurt Heynicke là nhà thơ biểu hiện nổi tiếng của nước Đức. Ông được giải thưởng thơ “Kleist” vào năm 1913.Bài thơ Vườn thống khổ (Gethsemane), được trích từ Mensch heitsdammerung, do Kurt Pinthus thực hịên, được tái bản nhiều lần. Chúng tôi xin giới thiệu bài thơ đó với bản dịch của dịch giả thơ phương Tây nổi tiếng, Diễm Châu.

  • ROBERTO JUARROZ(Nhà thơ Achentina 1925 – 1995)LGT: Roberto Juarroz là nhà thơ hiện đại Achentina được thế giới biết đến nhiều hơn cả, có lẽ chỉ sau Jorge – Luis Borges. Ông sinh ngày 5/10/1925 tại Coronel Dorrego thuộc Buenos Aires, và mất ngày 31.3.1995 cũng tại thủ đô Achentina, sau một cuộc đời lưu vong vì chế độ độc tài của quốc gia ông. Ông là tác giả của 15 tập thơ cùng mang tên duy nhất Thơ thẳng đứng (Poesía vertical) chỉ khác nhau ở số thứ tự I đến XV. Ông còn là giáo sự đại học Buenos Aires, chuyên viên truyền thông (thư viện) của Liên Hiệp Quốc đồng giám đốc tạp chí thơ (Poesía), nhà phê bình văn chương ở tạp chí Gaceta (Tucumán), nhà phê bình điện ảnh và kịch ở tạp chí Esto.

  • TOMAS TRANSTROMER (Thụy Điển)LGT: Tomas Transtromer (1931-) là một trong những nhà thơ hiện đại Thụy Điển nổi tiếng thế giới, từ những năm 50 của thế kỷ XX, ông nhận được các giải thưởng lớn: Pétrarque (Đức) năm 1981, Neustadt Internationl (Hoa Kỳ) năm 1990, giải Bắc Âu (Viện Hàm lâm Thụy Điển) năm 1991, giải Hort Bienek (Đức) 1992. Toàn tập thơ ông được xuất bản năm 1996. Thơ ông được dịch ra 43 thứ tiếng. Ông thường sử dụng thể tự do hoặc thơ văn xuôi với ngôn từ thơ trong sáng nhưng sức mạnh ở chỗ nó hòa quyện được những phúng dụ bác học và những mô tả chính xác về thế giới vũ trụ bật dậy những cảm xúc.

  • OCTAVIO PAZ  (Nobel 1990)Tặng Roman Jakobson      LGT: Octavio Paz (1914-1998), nhà thơ Mêhicô nổi tiếng, giải thưởng Miguel de Cervantes 1981, giải T. Eliot 1987, giải Nobel 1990. Tác giả của 5 tập thơ, sau này in lại trong Obra poética (Tác phẩm thơ 1938 - 1988), 23 tập tiểu luận về văn học nghệ thuật. SH xin giới thiệu một bài thơ “tuyên ngôn thơ” của ông, NÓI: LÀM qua bản dịch của dịch giả Dương Tường.

  • HAROLD PINTER (Nobel 2005)LGT: Harold Pinter, nhà văn Anh, giải thưởng Nobel 2005, được vinh danh với những vở kịch, những kịch bản phim, ông còn là nhà thơ nổi tiếng. Bài diễn văn đọc trong buổi lễ nhận giải Nobel của ông, quyết liệt trong sự chống Mỹ làm Tổng thống Bush rầu lòng. Bài thơ “Thói đồi bại” được giới thiệu dưới đây, vừa mới công bố cách đây ít lâu trên The Guardian ngày 26 - 01 - 2006.

  • LGT: Harold Pinter, sinh năm 1930 tại London , Anh quốc. Ông là một kịch tác gia, nhưng cũng là nhà thơ, đạo diễn, diễn viên, nhà hoạt động chính trị (ông đặc biệt chống lại sự lạm dụng quyền lực trong quan hệ quốc tế, như chống lại việc NATO đánh bom , Mỹ tấn công ).

  • SAM HAMIL LGT: Sam Hamil, nhà thơ Mỹ, nổi tiếng với website chống chiến tranh của Mĩ ở , tập hợp 13.000 bài thơ của 12.000 nhà thơ Mỹ và thế giới, đồng thời chủ biên tập thơ “Những nhà thơ chống chiến tranh” (Poets against The War, NXB Nation Books, 2003), thuộc loại best-seller (bán chạy nhất) ở Mỹ.

  • Nhà thơ, dịch giả Diễm Châu, sinh năm 1937 tại Hải Phòng. Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài gòn, sau đó tu nghiệp tại Hoa Kỳ về truyền thông. Trước 1975, ông làm Tổng thư ký Tạp chí Trình Bầy. Định cư tại Strasbourg, Pháp từ 1983 cho đến ngày tạ thế. Ông đã vĩnh viễn ra đi vào sáng ngày 28 tháng 12 năm 2006.

  • SEAN LUNDELGT: Sean Lunde là một nhân viên của Trung tâm William Joiner. Hiện anh là sinh viên của Đại học Massachusetts Boston, Hoa Kỳ. Đã từng là cựu chiến binh Mỹ tham gia cuộc chiến tranh tại , do vậy Sean Lunde hiểu rõ được thế nào là một cuộc chiến tranh phi nghĩa và các hậu quả xã hội của nó.

  • ANNE-MARIE LÉVYAnne-Marie Lévy là người Pháp gốc Na-Uy, hiện giảng dạy tiếng Phạn và văn hoá Ấn Độ ở Đại học Bordeaux III. Sau Hiệp định Genève năm 1954, bà cùng chồng làm việc ở Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội trong nhiều năm. Trở về Pháp bà theo dõi cuộc chiến ở Việt và viết sách bằng tiếng Na-Uy để giới thiệu Việt cho độc giả Bắc Âu.Bài thơ này được làm theo thể haiku của Nhật Bản. Thể haiku gồm nhiều đoạn, mỗi đoạn có ba câu lần lượt 5 âm tiết, 7 âm tiết rồi lại 5 âm tiết (5-7-5). Bài dịch ra tiếng Việt tuân thủ qui tắc của haiku.

  • EILEEN HEANEYLGT: Eileen Heaney là một họa sĩ sống ở Boston, Mỹ. Năm 1997 bà cùng với chồng là ông James Hullett – Triết gia, giáo sư đại học và là giám đốc một nhà xuất bản sách triết - về Việt Nam để nhận bé Frankie từ trại trẻ mồ côi Hội An, Đà Nẵng làm con nuôi.

  • MYLÈNE CATELLGT: Mylène Catel sinh năm 1966, tại Normandie (Pháp).Thạc sỹ Anh văn và Tiến sỹ Pháp văn.Hiện sống ở Hoa Kỳ - nơi bà giảng dạy văn chương tại Đại học Michigan.Bà đã xuất bản hai tập thơ: "Le Jongleur Fou" (1995), Paris, Editions Caractères; "JC" (1996), Paris, ditions Caractères.

  • YVES BONNEFOYYves Bonnefoy sinh năm 1923, tại Tours (Pháp).Ông là nhà thơ, nhà văn, nhà dịch thuật và là nhà biên khảo, phê bình văn học nghệ thuật nổi tiếng của nước Pháp, với gần 50 tác phẩm có giá trị về đủ thể loại. Nghĩ về văn học, nghệ thuật, ông quan niệm “đó là cuộc chiến đấu không ngừng để chống lại sự cám dỗ mang tính giáo điều và tư tưởng duy khái niệm”. Vì vậy, thơ Yves Bonnefoy là tiếng nói đa thanh, luôn va đập và sinh thành, luôn giao động giữa hiện thực và siêu thực, giữa vô lý và hợp lý để nói lên mối liên hệ giữa con người và thế giới đang vận động, bất ổn. Như cách thể, để chống lại sự sáo mòn, bảo thủ do  sự già nua, hoài nghi và vô cảm của con người.                                                                                        HỒ THẾ HÀ

  • TANG HẰNG XƯƠNG (Trung Quốc)LTS: Sinh năm 1941. Đã xuất bản 6 tập thơ. Thơ Tang Hằng Xương có những từ ngữ, hình ảnh, ý tưởng... rất kỳ lạ và táo bạo; đã được dịch ra các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hàn và gần đây là tiếng Việt (báo Văn nghệ, Tạp chí Văn học nước ngoài - H.D.dịch và giới thiệu). Những bài thơ dưới đây lấy từ tập thơ Nhớ cha mẹ (Tang Hằng Xương - Hoài thân thi tập) in lần thứ nhất 1999, in lần thứ hai 2001. (Tang Hằng Xương mồ côi mẹ năm mười hai tuổi).

  • LTS: Vlađimir Maiakôvxki là “lá cờ đầu của thơ ca Tháng Mười Nga”. Nhân kỷ niệm 85 năm Cách mạng tháng Mười Nga, chúng tôi mời nhà phê bình - giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, một chuyên gia về Maiakôvxki, viết bài về tiếng thơ của Maia trong cuộc sống và thế giới ngày hôm nay. Nhà phê bình đã gửi cho chúng tôi bản dịch một bài thơ của Maia và trình bày mấy ý kiến hết sức ngắn gọn.

  • Margaret Atwoods là một trong số nhà thơ viết bằng tiếng Anh hàng đầu ở . Sinh năm 1939. Bà đã xuất bản trên 10 tập thơ, trên 10 tiểu thuyết, một số sách phê bình và sách cho trẻ em, đã nhận nhiều giải thưởng và bằng cấp danh dự. Gần nhất là Giải Pulitzer 2001 về tiểu thuyết. Thơ M.Atwoods đầy tinh thần phản kháng, trầAn trụi và khốc liệt khi cần vạch trần sự thật về thân phận người đàn bà ở khắp nơi trên thế giới, một mặt lại vỗ về nâng giấc che chở đối với người mình yêu. Quả là một nữ tính của thế kỷ. HOÀNG HƯNG chuyển ngữ từ nguyên bản.

  • LANGSTON HUGHESLGT: Langston Hughes (1902-1967) là một trong những cây viết chủ lực của  phong trào văn học nghệ thuật của người Mỹ gốc Phi - châu trong thập niên 1920, mệnh danh là phong trào Phục Hưng Harlem (Harlem Renaissance)- một nỗ lực nhằm cổ động lòng tự hào về màu da và văn hóa da đen.

  • LTS: Robert Creeley sinh năm 1926, có một cuộc đời nhiều biến động. Hai lần bỏ học đại học giữa chừng, hai lần ly hôn, hai lần sang làm việc ở các nước thế giới thứ ba (năm 1944 lái xe cứu thương trong lực lượng American Field Service ở Ấn Độ và Miến Điện.

  • ...Thế nhưng trên đôi tai hoá đáSự im lặng vẫn thét gàoVang dội trong năm tháng với những thanh âm thịnh nộ...

  • LTS: Werner Lambersy thuộc thế hệ những nhà thơ trẻ đương đại của Pháp. Thơ ông là sự kết hợp thần tình giữa lối tư duy luận lý sắc sảo cùng khả năng trực cảm cực kỳ tinh tế. Điều đó khiến cho thơ W.Lambersy làm hiện hình được bản chất đời sống ở những nơi chốn mong manh nhất. Dưới con mắt nhà thơ, cái đẹp luôn biến ảo, không dừng lại, lần theo dấu vết của chúng, bạn sẽ khám phá thấy những chân lý hoàn toàn bất ngờ. Những bài thơ dưới đây, chúng tôi rút ra từ một tập thơ xuất bản năm 1998 của W.Lambersy do trung tâm sách quốc gia của Pháp đỡ đầu và ấn hành.