Mai Văn Hoan - người đi tìm ảo ảnh

16:58 11/09/2008
HOÀNG VŨ THUẬT           Chưa ai để ý đến đâu           Cây đứng khép mình lặng lẽ...                                        (Cây lặng im)


Tôi cảm thấy Mai Văn Hoan đang nói về mình và thơ của mình. Mai Văn Hoan làm thơ khá lâu, từ những năm bảy mươi đã có thơ xuất hiện trên báo chí. Anh viết khá nhiều nhưng đăng tải lại dè dặt. Đúng hơn, trong những năm chiến tranh chống Mỹ, tạng thơ Mai Văn Hoan chưa phù hợp lắm nên hơi khó in. Mai Văn Hoan vẫn lặng lẽ viết như cây lặng im cần mẫn kết một vòm xanh cho tới bây giờ.
Viết về anh, tôi như người tình chọn cây làm nơi hò hẹn để bàn chuyện thơ.
Thật ra, thơ Mai Văn Hoan đã đi vào độc giả bằng nguồn “xuất bản” khác. Từ trong vở, trong sổ tay của học sinh, sinh viên... thơ cứ thế được nhân lên thành số lượng lớn, vượt qua những vùng đất tác giả chưa từng đặt chân tới. Điều ấy tự nói: thơ có nhiều cách đến với người đọc. Công chúng sẵn sàng đón nhận mỗi khi thơ làm được bổn phận của mình.
Đọc những tập thơ Ảo ảnh, Giai điệu thời gian, Hồi âm, Trăng mùa đông, Giếng tiên, Lục bát thơ... của Mai Văn Hoan, tôi mới có điều kiện tổng hợp, khái quát về thơ anh. Thơ Mai Văn Hoan thuộc dạng có nhiều ý kiến, nhận định không giống nhau. Làm thơ “mỗi người một vẻ”. Thơ Mai Văn Hoan cho tôi một thiện cảm, ví như Prísvin khi quan sát thiên nhiên buổi sáng mùa xuân, ông nhận ra một cái gì đó, một cái gì không nhìn thấy, nhưng không hề đứng yên.
Thơ Mai Văn Hoan là vậy, bình thản, không trau chuốt, tạo hình câu chữ, nhưng đọc toàn bài là một một mạch dính kết vững chắc, tạo nên tứ thơ khoẻ khoắn, năng động. Mai Văn Hoan không tàng hình bút pháp, anh bày hết ra sự thật hàng ngày:
Anh muốn biết ở tôi điều bí mật
Nhưng đời tôi có bí mật được đâu!

Bài thơ kết thúc một cách tự tin, trong sáng:
Có thể bây giờ nàng không yêu tôi nữa
Có thể nàng rồi sẽ thuộc về anh

Ở ngoài đời cuộc tình tôi tan vỡ
Nhưng trong tôi nó mãi mãi nguyên lành
! 
                                                        (Điều bí mật)
Anh tự phá vỡ mình không phải bằng kĩ thuật mà bằng cái chìa khoá đặc biệt, mở từng cánh cửa đời sống:
Chỉ cần một que diêm
Thế là thành ngọn lửa

Cớ sao em lần lữa?
Điếu thuốc vẫn còn nguyên!
                                       
(Điếu thuốc và que diêm)
Nút ấn quan trọng ấy là bản chất của sự vật, làm nên chất liệu cung cấp cho nguồn năng lượng cảm hứng. Đối tượng chính thơ Mai Văn Hoan là tình yêu. “Em” trở thành nhân vật trung tâm của mọi cảm xúc. Nhân vật “em” là một “ảo ảnh” suốt đời thi sĩ kiếm tìm:
Vâng, dẫu chỉ là ảo ảnh
Nhưng đời tôi nếu vắng em

Trái đất trở nên giá lạnh
Mặt trời thành một quầng đen
!            
                                                       (Ảo ảnh)
Ra thế, nếu thiếu đi nỗi khát khao, thiếu một sự mong đợi dù chỉ để mong đợi thì con người không thể sống nổi. Con người phải sống với những tiện nghi, đồ đạc quanh mình: dãy ghế đá và chiếc bàn bằng đá, những bản nhạc xập xình, căn phòng chật... nhưng cao hơn, con người còn sống cả những gì ngoài nó. Mục đích thơ Mai Văn Hoan xuất phát từ đó chăng?
Đi tới mục đích này, anh không bận tâm nhập cuộc hay không nhập cuộc. Dĩ nhiên người viết văn không thể quay lưng lại cuộc đời, phải đi, phải sống và phải viết. Có điều, giữa những tâm điểm bề bộn của đời sống, anh biết lọc lấy cho mình nguồn cảm xúc, làm chủ nó để viết những bài thơ theo cách của mình.
Quan niệm thẩm mỹ của anh không đơn điệu. Cái đẹp hoà nhập vào mọi trạng thái của tâm hồn:
Khi thì đắm chìm trong hoài niệm:
Chân lặng lẽ giẫm lên con đường cũ
Con đường xưa ta từng bước sóng đôi
Khuya đưa tiễn, chia tay nhau trước ngõ
Chiếc hôn dài còn nồng ấm trên môi
                                                           (Thăm lại vườn xưa)
Lúc đơn côi vò xé với lòng mình:
Hoa chong chóng bay theo chiều gió thổi
Xác sò nằm trên bãi vắng chơ vơ
...
                                                          (Chuyện vỏ ốc, vỏ sò)
Có khi dứt khoát, mạnh mẽ:
Nên bây giờ tôi quyết định chia tay
Dẫu điều đó có làm em đau khổ
Tôi sẵn sàng chịu bao lời phẫn nộ
Để cứu em thoát địa ngục đời tôi.

                                                          (Tự thú)
Thất vọng đấy, để rồi tiếp tục hy vọng:
Anh cảm thấy thịt da mình trẻ lại                                        
Sương dần tan dưới bảy sắc cầu vồng
                                                            
(Bài thơ buổi sáng)     
Mai Văn Hoan viết về tình yêu với mong muốn thức dậy sức sống trong con người, hướng con người đi đến cốt cách cao thượng, xoá dần những thói ích kỷ, tầm thường. Dẫu đất trời có mưa chiều, nắng sớm thì thơ vẫn phải là đôi cánh bướm chập chờn say!
Không chỉ dừng lại ở chuyện tình, thơ Mai Văn Hoan còn đề cập đến những vấn đề xã hội một cách tinh tế, không quyết liệt, ào ạt theo kiểu một số tác giả khác.
Ấy là anh phát hiện “vầng trăng se giá” giữa mùa đông khắc nghiệt:
Đã đến tuần có trăng
Mà mây giăng mờ mịt
Mà mưa, mưa rả rích

Mà gió thốc lạnh lùng...
Vầng trăng mùa đông khác thường mới quý giá làm sao!
Như quả chín hiếm hoi
Treo trên cây tháng chạp

                                               (Trăng mùa đông)
Ấy là phiên toà đặc biệt trong đó tình huống xảy ra thật bất ngờ, ngoài luật lệ thông thường: bị can và chánh án hôn nhau!
Ấy là cuộc đụng độ với con Tô Xám, khi nhà thơ đứng chờ người yêu trước ngõ:
Này Tô Xám xin mày đừng sủa nữa
Im đi Tô, cho tao được yên nào!
Mày cứ gào làm chi cho rát cổ
Cái mõm mày sao cứ chõ vào tao?
                                                (Nói với Tô Xám)  
Thể hiện một cách tự nhiên, bằng sự rung động tự nhiên trong những hoàn cảnh khác biệt, hình thức thơ theo đó mà linh hoạt, đa dạng một cách tự nhiên: khi trang nghiêm, trầm buồn; khi sôi động, hài hước. Có khi anh cố ý để cho câu thơ thừa lời. Lại có cả những câu thơ lấy đà, dẫn dắt, làm đệm cho câu sau. Lối viết như thế có người không đồng tình, nhưng tôi nghĩ: nhờ vậy mà thơ anh không lẫn với thơ của người khác.
Thơ Mai Văn Hoan phản chiếu con người của anh. Điều đó thể hiện rất rõ qua trò ú tim. Anh cất công đi tìm một hư ảo. Và ngỡ rằng tìm được thật, nhưng rồi khi tới nơi đã lại tan biến từ bao giờ:
Số phận tôi thường trớ trêu như vậy
Hạnh phúc với tôi như kẻ trốn, người tìm
Như dòng chữ em viết trên cát ấy

Sóng xoá đi khi tôi mới thoáng nhìn.
Thơ ca đích thực sẽ không mệt mỏi trong sự khám phá. Hướng cảm xúc về những gì ngoài nó, chính đấy là yếu tố lãng mạn của thơ. Lượng  tin cuộc sống rất cần thiết, nhà thơ phải bay qua lượng tin để bắt lấy ý nghĩa nhân bản lâu dài. Điều ấy trở thành nguyên tắc cội rễ của thơ.
                                                                            H.V.T

(nguồn: TCSH số 228 - 02 - 2008)

 

 

 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Vậy mà, đã hơn 50 năm, từ những năm tháng trẻ tuổi… Huế, ngày ấy đã xa. Đã là kỷ niệm. Đã mất đi nhưng vẫn không ngừng sinh nở. Như những câu thơ, một thời…

  • Việt Đức - Võ Quê - Phạm Xuân Phụng - Nguyễn Thiền Nghi - Nguyễn Văn Vũ - Lê Phùng - Thùy Phương - Trần Băng Khuê

  • Trại sáng tác văn học với chủ đề “Vinh Xuân - Mùa biển gọi” do Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế phối hợp với UBND xã Vinh Xuân tổ chức, diễn ra trong thời gian từ ngày 3/5 đến ngày 10/5/2024, gồm 14 nhà văn, nhà thơ và 1 nhạc sĩ khách mời, đã cho ra đời 58 tác phẩm.

  • DƯƠNG PHƯỚC THU

    Ngày 18/9/1945, tại số 43 đường Trần Hưng Đạo, thành phố Thuận Hóa, Liên đoàn Văn hóa cứu quốc Thừa Thiên - tiền thân của Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế ngày nay được thành lập.

  • CHU SƠN

    Cuối năm 1963 tôi từ Hội An ra Huế để nhận lại tập thơ Quê Nhà và giấy phép xuất bản tại nha thông tin Trung Việt.

  • TRẦN DZẠ LỮ

    Gần một đời người làm thơ, sống giữa Sài Gòn với bao nhiêu thăng trầm dâu bể, có những ngày đói rách, lang thang. Bạn bè thì nhiều, có kẻ nhớ người quên sống khắp cùng đất nước, nơi đâu cũng để lại trong tôi ít nhiều kỷ niệm.

  • (SHO) Những người tôi gặp ở Huế trẻ hay già thường ngưỡng mộ anh là Thầy, một vị Thầy của môn âm nhạc, của tiếng, của lời, thân hay sơ mỗi người đều như chịu ít nhiều ân huệ của anh.  Nhưng thoạt mơ hồ tôi hiểu danh hiệu ấy khác hơn khi được ngồi với anh, bên bàn cơm, khi vui ca, khi đi dạo, khi nghe anh hát, khi thấy anh ngồi yên giữa bạn bè, anh hiện ra là vị Thầy bên trên âm nhạc... 

  • Mặc dù được các bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng GS-TS Trần Văn Khê đã vĩnh viễn ra đi vào lúc 2 giờ 55 phút ngày 24.6. Ông thọ 94 tuổi.

  • LTS: Ngày 17-7-1988 nhà thơ THANH TỊNH đã qua đời tại Hà Nội sau một cơn bệnh nặng, thọ 77 tuổi. Tưởng niệm nhà thơ, người anh người đồng nghiệp đáng kính của anh em văn nghệ sĩ Bình Trị Thiên, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của anh Hoàng Trung Thông và đoạn trích trong Điếu văn đọc tại lễ tưởng niệm nhà thơ tại trụ sở Hội văn nghệ B.T.T ngày 19-7-1988.

  • DƯƠNG THỊ NHỤN

    Tôi biết nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua chị Dung là hàng xóm cũ của tôi những năm 90 của thế kỉ trước. Chị Dung là cháu ruột lại gần nhà ông ở phố Điện Biên Phủ nên rất thân thiết với ông. Tôi chỉ nghe chuyện và đọc truyện của nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua chị Dung.

  • LGT: Thúc Tề và Trần Kim Xuyến là hai nhà báo có nhiều đóng góp cho cách mạng Việt Nam. Một vấn đề đặt ra là: trong hai nhà báo liệt sĩ nói trên, ai mới đúng là “Nhà báo liệt sĩ đầu tiên của báo chí cách mạng Việt Nam?”. Nhiều ý kiến công nhận nhà báo Trần Kim Xuyến là nhà báo liệt sĩ đầu tiên, trong khi các tư liệu lại cho chúng ta thấy Thúc Tề mới đúng là nhà báo liệt sĩ đầu tiên.

  • TÔ NHUẬN VỸ

    Trong số bạn bè thân tình của tôi, Ngô Minh rất “lạ”. Lạ đầu tiên là… nhỏ thó. Người thấp bé, tròn vo, tròn vo từ mấy chục năm ni luôn, chừ lại suốt ngày (e cả suốt đêm) ngồi máy tính viết bài.

  • Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác giả của những tác phẩm nổi tiếng như: Nhằm thẳng quân thù mà bắnThuyền trưởngRừng xưa xanh lá ;Kiếp chóNhững người rách việc; Chuyện kể năm 2000... đã qua đời vào lúc 6 giờ sáng ngày 18.12. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934 tại Thủy Nguyên, Hải Phòng. Ông bước vào sáng tác văn chương từ năm 20 tuổi và đã có một bút lực dồi dào để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị.

  • Nguyễn Hữu Đang sinh năm 1913 , quê  làng Trà Vi, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Ông tham gia Hội Sinh viên thị xã Thái Bình thuộc Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và bị Pháp bắt vào cuối năm 1930 và bị giam hai tháng rưỡi tại thị xã Thái Bình.

  • Thi sĩ Kiên Giang là tác giả những bài thơ nổi tiếng Hoa trắng thôi cài lên áo tím, Tiền và lá, Ngủ bên chân mẹ… Ông cũng là soạn giả của những vở cải lương quen thuộc như Áo cưới trước cổng chùa, Người vợ không bao giờ cưới, Lưu Bình - Dương Lễ, Trương Chi - Mỵ Nương và hàng trăm bản vọng cổ. Như người bạn văn tâm giao Sơn Nam và thi sĩ đàn anh Nguyễn Bính, Kiên Giang cả một đời phiêu bạt sống rày đây mai đó, cho đến khi trái tim đột ngột ngừng đập”...

  • Ở tuổi 89, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý - tác giả của ca khúc nổi tiếng "Dư âm" sống nghèo túng, bệnh tật và cô đơn trong căn nhà nhỏ giữa lòng Sài Gòn.

  • NGÔ ĐÌNH HẢI

    Nhà văn Trần Áng Sơn sinh ngày 12/7/1937 tại Hải Phòng, lớn lên ở Huế, trưởng thành ở Sài Gòn, mất ngày: 18/5/ 2014.

  • QUANG VIÊN

    Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là vị tướng tài năng và đức độ. “Ông là một danh tướng, một nhà chính trị và nhà quân sự lỗi lạc” - Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt thốt lên khi nhớ về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh như vậy. Trong cuộc sống tình cảm gia đình, cũng như ứng xử với văn hóa văn nghệ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng hết sức chí tình, có những việc làm rất đáng khâm phục. Nhà thơ Tố Hữu đã viết về ông rất hay: “Sáng trong như ngọc một con người”…