Kỷ niệm 95 năm ngày sinh Maiacôpxki

14:23 12/11/2014

LTS: "Maiacôpxki là lá cờ đầu của thơ ca tháng Mười. Và làm thơ ca ngợi cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, ông luôn luôn đặt ra những câu hỏi lớn về viễn cảnh của cuộc cách mạng, về tương lai của nhân loại.

Trong một bài thơ gởi Trung ương Đảng viết năm 1922, ông xem quả đất chỉ là một chấm tròn và trên "chấm tròn - quả đất" ông nhìn thấy "lòng khòng" một dấu hỏi khổng lồ. Ngày nay "dấu hỏi khổng lồ" này đương trở thành ám ảnh của cả loài người". (Trích phát biểu của anh Hoàng Ngọc Hiến trong dịp nhận giải thưởng dịch thuật của Hội nhà văn Việt Nam, ngày 6-2-1988).

Thế nhưng, trong sáng tác của Maiacôpxki, thơ tình là một mảng quan trọng và phức tạp hơn thơ chính trị của ông nhiều. Bản trường ca "Tôi yêu" anh Hoàng Ngọc Hiến vừa gởi cho chúng tôi giới thiệu dưới đây, là bản dịch đầu tiên được giới thiệu ở Việt Nam, là một thí dụ.

"Tôi yêu" mang những nét tiểu sử của tác giả, đồng thời là lịch sử trái tim của nhà thơ. Đứa trẻ lớn lên, cao to như hộ pháp, nó vẫn không mang nổi trái tim đồ sộ của nó - TRÁI TIM CỦA TÌNH YÊU, THƠ CA VÀ CUỘC SỐNG. Trong bản trường ca, đề tài tình yêu có một vang hưởng sâu rộng, không nằm trong khuôn khổ chật hẹp của những chuyện yêu đương, tình ái đầy rẩy trong văn chương:

Trong thế giới cỏn con
buồng ấm
của chúng ta

lũ trữ tình tóc xoắn mọc lên để ngợi ca chăn gối

Tôi

tôi đã học yêu
trong ngục Butưrki

(Vì hoạt động cách mạng, Maiacôpxki, năm 17 tuổi bị tống giam vào ngục Butưrki, một nhà ngục ở Mạc Tư Khoa)
Dưới đây là 7 trong 10 tiểu đoạn của bản trường ca của ông.



Tôi yêu
           Trích


THƯỜNG TÌNH

Người ta sinh ra ai chẳng yêu
Nhưng lo làm ăn,
lo kiếm chác,
ngày một ngày hai.
tim khô cằn xơ xác.
Thân thể phủ trái tim,
áo sơ mi đắp lên thân thể.
Thế nhưng chưa đủ!
Một thằng ngu!
còn vẽ vời đeo đôi măng-sét (1)
còn trang lên ngực một lớp hồ
Tuổi già sộc đến mới sực nhớ
Bà vội xoa với trát
Ông xoay như cối theo sách Muy-ler (2)
Nhưng muộn rồi
Da giẻ răn reo
Tình ra hoa
tình nở hoa
và tình khô héo



TUỔI THIẾU NIÊN

Tuổi thiếu niên mê man bài vở.
Họ đem ngữ pháp dạy lũ trẻ ngu ngơ
Tôi
học lớp năm thì họ đuổi (3)
Tống cổ vào các ngục Mạc Tư Khoa.
Trong thế giới cỏn con
buồng ấm
của chúng ta,
lũ trữ tình tóc xoắn mọc lên để ngợi ca chăn gối.
Tìm được cái gì ở những chó bông thi sĩ ấy?! (4).
Tôi,
tôi đã học yêu
trong ngục Butưrki (5)
Tôi đâu biết nhớ nhung rừng đẹp Bu-lôn (6)
Tôi đâu biết thú thở dài ngắm nhìn cảnh biển?!
Tôi mê
"Cửa hàng cho thuê đồ mai táng"
qua lỗ nhòm xà-lim 103 (7)
Những kẻ hàng ngày thấy mặt trời
hay nói phách
"Những tia nắng này là cái thá gì?"
Bấy giờ, tôi ước
vệt nắng vàng
rung rinh trên vách,
sẵn sàng đánh đổi mọi thứ trên đời.



KHÔN LỚN

Người lớn biết xoay xở, làm ăn
Túi người lớn, bạc tiền rủng rỉnh
Muốn ái tình?
Thì đấy!
Trăm đồng rúp là bao
Tôi lớn lên,
Không nhà không cửa,
thọc hai tay
vào túi rách sờn
tôi đi lang thang, mở to đôi mắt
Đêm,
Các người lấy áo đẹp mặc vào
Thả hồn nghỉ ngơi, bên thê thiếp, bên người gái góa
Mạc Tư Khoa bóp nghẹt tôi trong vòng ôm
những đại lộ, Xađôvai chạy dài vô tận (8)
Nhân tình của các người đi về đều đặn.
tim các người đập và đồng hồ tích tắc

Làm quảng trường Khổ nạn, tôi nằm, tôi nắm bắt
Mạch đập man dại trái tim những thủ đô
Phanh áo ra
cơ hồ tim lộ cả ra ngoài
Tôi mở rộng lòng tôi với vũng nước, với cả mặt trời
Hãy vào đây với những niềm say đắm!
Chứa chan tình, nào hãy lại đây!
Từ nay tôi chịu, không làm chủ trái tim được nữa
Tim kẻ khác, nhà ở đâu tôi biết,
Tim nằm trong ngực, ai chả rõ điều này!
Nhưng ở tôi
giải phẫu học loạn rồi.
Cả người tôi là tim

Chỗ nào cũng réo
Ôi, bao mùa xuân,
hẵng chỉ tính mùa xuân,
Hai mươi năm nay lò lửa này thiêu ngốn!
Tình xuân chứa chất, chỉ mang thôi không nổi.
Quả không mang nổi.
Không nói thơ
mà nói thực tình.



TÔI KÊU GỌI

Tôi nâng trái tim lên làm như lực sĩ.
tay vác, tôi bước đi như người diễn võ
Như khu phố gọi cử tri đi họp mít-tinh,
như làng xóm
đổ ngủ liêu
gọi đi chữa cháy -
tôi kêu gọi:
"Ới, nó đây!
Xem đây!
Cầm lấy!"
Tướng hộ pháp này mà hết
hẳn các bà các cô
dù lấm bụi,
lội bùn,
đạp tuyết,
cũng chạy ù,
né tránh tôi, bắn tóe tựa pháo hoa
"Cánh ta cỡ nhỏ thôi,
món tăng-gô thì hợp"
Tôi không sao mang được -
mà tôi vẫn cứ mang
Tôi muốn vứt -
và tôi biết
tôi không nỡ vứt!
Ôm chẳng nổi bộ sườn cong doãi mất.
Sức ép căng, vỡ lòng ngực mất thôi



EM

Nàng đến
nàng sõi sàng,
nghe gầm, trong hình dáng,
nhác nhìn,
nàng đoán đây chỉ là đứa trẻ con
Nàng cầm
chiếm trái tim
cũng lấy chơi thôi -
giống như cô gái nhỏ ham chơi thích bóng.
Và các bà, các cô
mỗi người một tiếng
- Như thấy chuyện thần kỳ -
bàn tán xôn xao:
"Yêu một tay như vậy?
Khéo nó húc lộn nhào!
Hẳn cô ả làm nghề dạy thú.
Hẳn là dân "Bách thú chuyển ngành!"
Còn tôi, tôi hân hoan.
Ách nặng -
Không còn nữa!
Tôi nhảy tâng tâng,
quýnh quýt lên mừng rỡ,
như người da đỏ vui đám cưới nhẩy mừng
Vui đến là vui
lòng tôi nhẹ tênh tênh
.


TÔI CŨNG VẬY THÔI

Thuyền thì cũng xăm xăm về bến
Tầu thì cũng bon chạy về ga
Tôi cũng vậy thôi
- Tôi yêu cơ mà!
Càng háo hức càng mãi miết về em hơn nữa.
Lão kỵ sĩ keo kiệt của Puskin (9)
Xuống hầm sâu, lúi húi, ngắm bạc tiền
Tôi cũng trở về em, em yêu quý
Đấy trái tim tôi,
tôi ngắm của tôi.
Thiên hạ trở về nhà mừng rỡ
Tha hồ kỳ cọ, tắm rửa, cạo râu
tôi về em
vui mừng chẳng kém,
tôi về em
chẳng về nhà đó sao?!
Sống trên đất lại trở về lòng đất
Rồi chúng ta trở về đích cuối cùng.
Tôi cũng vậy, hướng về em, sức nào cưỡng được,
Vừa xa nhau
đã gặp lại nhìn nhau
.
                    (1922)

HOÀNG NGỌC HIẾN dịch
(SH31/06-88)

----------------------------
(1) Măng-sét – Cổ tay áo bằng vải cứng để đính vào ống tay áo.
(2) Ông xoay như cối theo sách Muyler - tập những bài thể dục theo cuốn sách của Muyler "Hệ thống của tôi"; cuốn này khá phổ cập ở Nga trong những năm đầu thế kỷ này.
(3) Tôi học lớp 5 thì họ đuổi: Tác giả đang học lớp bốn thì thôi học để hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, sau đó "bị can án" và không được thu nhận vào bất kỳ trường công nào.
(4) Tìm được cái gì ở những chó bông thi sĩ ấy?! - Tác giả muốn nói đến loại thi sĩ lãng mạn rẻ tiền say sưa làm thơ tình; thơ của họ cốt hợp với khẩu vị của các bà, các cô giới thượng lưu nhàn hạ nuôi "chó bông" để tiêu khiển; để làm ra vẻ là nghệ sĩ, họ để đầu tóc bù xù như lông những "con chó bông" ấy.
(5) Ngục Butưrki - Một nhà ngục ở Mạc Tư Khoa; cuối năm 1909, đầu năm 1910, Maiakôpxki bị giam ở đây khoảng nửa năm; bọn cai ngục cho Maiakôpxki là phần tử ngang bướng, nguy hiểm đem giam riêng trong buồng xà lim số 103.
(6) Rừng đẹp Bulôn - Một khu rừng - công viên rất đẹp ở ngoại ô Pa-ri.
(7) Qua Lỗ nhòm xà lim 103 – Xem chú thích (5)
(8) Những đại lộ Xađôvai chạy dài vô tận - Xađôvai là một đại lộ ở Mạc Tư Khoa, chạy bao quanh thành phố.
(9) Lão kỵ sĩ keo kiệt của Puskin - tác giả muốn nói đến nhân vật chính trong vở "Lão kỵ sĩ keo kiệt của Puskin"








 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • KURT HEYNICKE(Nhà thơ biểu hiện Đức sinh năm 1891)LGT: Kurt Heynicke là nhà thơ biểu hiện nổi tiếng của nước Đức. Ông được giải thưởng thơ “Kleist” vào năm 1913.Bài thơ Vườn thống khổ (Gethsemane), được trích từ Mensch heitsdammerung, do Kurt Pinthus thực hịên, được tái bản nhiều lần. Chúng tôi xin giới thiệu bài thơ đó với bản dịch của dịch giả thơ phương Tây nổi tiếng, Diễm Châu.

  • ROBERTO JUARROZ(Nhà thơ Achentina 1925 – 1995)LGT: Roberto Juarroz là nhà thơ hiện đại Achentina được thế giới biết đến nhiều hơn cả, có lẽ chỉ sau Jorge – Luis Borges. Ông sinh ngày 5/10/1925 tại Coronel Dorrego thuộc Buenos Aires, và mất ngày 31.3.1995 cũng tại thủ đô Achentina, sau một cuộc đời lưu vong vì chế độ độc tài của quốc gia ông. Ông là tác giả của 15 tập thơ cùng mang tên duy nhất Thơ thẳng đứng (Poesía vertical) chỉ khác nhau ở số thứ tự I đến XV. Ông còn là giáo sự đại học Buenos Aires, chuyên viên truyền thông (thư viện) của Liên Hiệp Quốc đồng giám đốc tạp chí thơ (Poesía), nhà phê bình văn chương ở tạp chí Gaceta (Tucumán), nhà phê bình điện ảnh và kịch ở tạp chí Esto.

  • TOMAS TRANSTROMER (Thụy Điển)LGT: Tomas Transtromer (1931-) là một trong những nhà thơ hiện đại Thụy Điển nổi tiếng thế giới, từ những năm 50 của thế kỷ XX, ông nhận được các giải thưởng lớn: Pétrarque (Đức) năm 1981, Neustadt Internationl (Hoa Kỳ) năm 1990, giải Bắc Âu (Viện Hàm lâm Thụy Điển) năm 1991, giải Hort Bienek (Đức) 1992. Toàn tập thơ ông được xuất bản năm 1996. Thơ ông được dịch ra 43 thứ tiếng. Ông thường sử dụng thể tự do hoặc thơ văn xuôi với ngôn từ thơ trong sáng nhưng sức mạnh ở chỗ nó hòa quyện được những phúng dụ bác học và những mô tả chính xác về thế giới vũ trụ bật dậy những cảm xúc.

  • OCTAVIO PAZ  (Nobel 1990)Tặng Roman Jakobson      LGT: Octavio Paz (1914-1998), nhà thơ Mêhicô nổi tiếng, giải thưởng Miguel de Cervantes 1981, giải T. Eliot 1987, giải Nobel 1990. Tác giả của 5 tập thơ, sau này in lại trong Obra poética (Tác phẩm thơ 1938 - 1988), 23 tập tiểu luận về văn học nghệ thuật. SH xin giới thiệu một bài thơ “tuyên ngôn thơ” của ông, NÓI: LÀM qua bản dịch của dịch giả Dương Tường.

  • HAROLD PINTER (Nobel 2005)LGT: Harold Pinter, nhà văn Anh, giải thưởng Nobel 2005, được vinh danh với những vở kịch, những kịch bản phim, ông còn là nhà thơ nổi tiếng. Bài diễn văn đọc trong buổi lễ nhận giải Nobel của ông, quyết liệt trong sự chống Mỹ làm Tổng thống Bush rầu lòng. Bài thơ “Thói đồi bại” được giới thiệu dưới đây, vừa mới công bố cách đây ít lâu trên The Guardian ngày 26 - 01 - 2006.

  • LGT: Harold Pinter, sinh năm 1930 tại London , Anh quốc. Ông là một kịch tác gia, nhưng cũng là nhà thơ, đạo diễn, diễn viên, nhà hoạt động chính trị (ông đặc biệt chống lại sự lạm dụng quyền lực trong quan hệ quốc tế, như chống lại việc NATO đánh bom , Mỹ tấn công ).

  • SAM HAMIL LGT: Sam Hamil, nhà thơ Mỹ, nổi tiếng với website chống chiến tranh của Mĩ ở , tập hợp 13.000 bài thơ của 12.000 nhà thơ Mỹ và thế giới, đồng thời chủ biên tập thơ “Những nhà thơ chống chiến tranh” (Poets against The War, NXB Nation Books, 2003), thuộc loại best-seller (bán chạy nhất) ở Mỹ.

  • Nhà thơ, dịch giả Diễm Châu, sinh năm 1937 tại Hải Phòng. Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài gòn, sau đó tu nghiệp tại Hoa Kỳ về truyền thông. Trước 1975, ông làm Tổng thư ký Tạp chí Trình Bầy. Định cư tại Strasbourg, Pháp từ 1983 cho đến ngày tạ thế. Ông đã vĩnh viễn ra đi vào sáng ngày 28 tháng 12 năm 2006.

  • SEAN LUNDELGT: Sean Lunde là một nhân viên của Trung tâm William Joiner. Hiện anh là sinh viên của Đại học Massachusetts Boston, Hoa Kỳ. Đã từng là cựu chiến binh Mỹ tham gia cuộc chiến tranh tại , do vậy Sean Lunde hiểu rõ được thế nào là một cuộc chiến tranh phi nghĩa và các hậu quả xã hội của nó.

  • ANNE-MARIE LÉVYAnne-Marie Lévy là người Pháp gốc Na-Uy, hiện giảng dạy tiếng Phạn và văn hoá Ấn Độ ở Đại học Bordeaux III. Sau Hiệp định Genève năm 1954, bà cùng chồng làm việc ở Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội trong nhiều năm. Trở về Pháp bà theo dõi cuộc chiến ở Việt và viết sách bằng tiếng Na-Uy để giới thiệu Việt cho độc giả Bắc Âu.Bài thơ này được làm theo thể haiku của Nhật Bản. Thể haiku gồm nhiều đoạn, mỗi đoạn có ba câu lần lượt 5 âm tiết, 7 âm tiết rồi lại 5 âm tiết (5-7-5). Bài dịch ra tiếng Việt tuân thủ qui tắc của haiku.

  • EILEEN HEANEYLGT: Eileen Heaney là một họa sĩ sống ở Boston, Mỹ. Năm 1997 bà cùng với chồng là ông James Hullett – Triết gia, giáo sư đại học và là giám đốc một nhà xuất bản sách triết - về Việt Nam để nhận bé Frankie từ trại trẻ mồ côi Hội An, Đà Nẵng làm con nuôi.

  • MYLÈNE CATELLGT: Mylène Catel sinh năm 1966, tại Normandie (Pháp).Thạc sỹ Anh văn và Tiến sỹ Pháp văn.Hiện sống ở Hoa Kỳ - nơi bà giảng dạy văn chương tại Đại học Michigan.Bà đã xuất bản hai tập thơ: "Le Jongleur Fou" (1995), Paris, Editions Caractères; "JC" (1996), Paris, ditions Caractères.

  • YVES BONNEFOYYves Bonnefoy sinh năm 1923, tại Tours (Pháp).Ông là nhà thơ, nhà văn, nhà dịch thuật và là nhà biên khảo, phê bình văn học nghệ thuật nổi tiếng của nước Pháp, với gần 50 tác phẩm có giá trị về đủ thể loại. Nghĩ về văn học, nghệ thuật, ông quan niệm “đó là cuộc chiến đấu không ngừng để chống lại sự cám dỗ mang tính giáo điều và tư tưởng duy khái niệm”. Vì vậy, thơ Yves Bonnefoy là tiếng nói đa thanh, luôn va đập và sinh thành, luôn giao động giữa hiện thực và siêu thực, giữa vô lý và hợp lý để nói lên mối liên hệ giữa con người và thế giới đang vận động, bất ổn. Như cách thể, để chống lại sự sáo mòn, bảo thủ do  sự già nua, hoài nghi và vô cảm của con người.                                                                                        HỒ THẾ HÀ

  • TANG HẰNG XƯƠNG (Trung Quốc)LTS: Sinh năm 1941. Đã xuất bản 6 tập thơ. Thơ Tang Hằng Xương có những từ ngữ, hình ảnh, ý tưởng... rất kỳ lạ và táo bạo; đã được dịch ra các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hàn và gần đây là tiếng Việt (báo Văn nghệ, Tạp chí Văn học nước ngoài - H.D.dịch và giới thiệu). Những bài thơ dưới đây lấy từ tập thơ Nhớ cha mẹ (Tang Hằng Xương - Hoài thân thi tập) in lần thứ nhất 1999, in lần thứ hai 2001. (Tang Hằng Xương mồ côi mẹ năm mười hai tuổi).

  • LTS: Vlađimir Maiakôvxki là “lá cờ đầu của thơ ca Tháng Mười Nga”. Nhân kỷ niệm 85 năm Cách mạng tháng Mười Nga, chúng tôi mời nhà phê bình - giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, một chuyên gia về Maiakôvxki, viết bài về tiếng thơ của Maia trong cuộc sống và thế giới ngày hôm nay. Nhà phê bình đã gửi cho chúng tôi bản dịch một bài thơ của Maia và trình bày mấy ý kiến hết sức ngắn gọn.

  • Margaret Atwoods là một trong số nhà thơ viết bằng tiếng Anh hàng đầu ở . Sinh năm 1939. Bà đã xuất bản trên 10 tập thơ, trên 10 tiểu thuyết, một số sách phê bình và sách cho trẻ em, đã nhận nhiều giải thưởng và bằng cấp danh dự. Gần nhất là Giải Pulitzer 2001 về tiểu thuyết. Thơ M.Atwoods đầy tinh thần phản kháng, trầAn trụi và khốc liệt khi cần vạch trần sự thật về thân phận người đàn bà ở khắp nơi trên thế giới, một mặt lại vỗ về nâng giấc che chở đối với người mình yêu. Quả là một nữ tính của thế kỷ. HOÀNG HƯNG chuyển ngữ từ nguyên bản.

  • LANGSTON HUGHESLGT: Langston Hughes (1902-1967) là một trong những cây viết chủ lực của  phong trào văn học nghệ thuật của người Mỹ gốc Phi - châu trong thập niên 1920, mệnh danh là phong trào Phục Hưng Harlem (Harlem Renaissance)- một nỗ lực nhằm cổ động lòng tự hào về màu da và văn hóa da đen.

  • LTS: Robert Creeley sinh năm 1926, có một cuộc đời nhiều biến động. Hai lần bỏ học đại học giữa chừng, hai lần ly hôn, hai lần sang làm việc ở các nước thế giới thứ ba (năm 1944 lái xe cứu thương trong lực lượng American Field Service ở Ấn Độ và Miến Điện.

  • ...Thế nhưng trên đôi tai hoá đáSự im lặng vẫn thét gàoVang dội trong năm tháng với những thanh âm thịnh nộ...

  • LTS: Werner Lambersy thuộc thế hệ những nhà thơ trẻ đương đại của Pháp. Thơ ông là sự kết hợp thần tình giữa lối tư duy luận lý sắc sảo cùng khả năng trực cảm cực kỳ tinh tế. Điều đó khiến cho thơ W.Lambersy làm hiện hình được bản chất đời sống ở những nơi chốn mong manh nhất. Dưới con mắt nhà thơ, cái đẹp luôn biến ảo, không dừng lại, lần theo dấu vết của chúng, bạn sẽ khám phá thấy những chân lý hoàn toàn bất ngờ. Những bài thơ dưới đây, chúng tôi rút ra từ một tập thơ xuất bản năm 1998 của W.Lambersy do trung tâm sách quốc gia của Pháp đỡ đầu và ấn hành.