Ruđenxơ nhút nhát

15:31 29/08/2008
OTTO STEIGER (THỤY SĨ)Ai cũng biết rằng cái tên Ruđenxơ tượng trưng cho sức mạnh và lòng dũng cảm, vậy mà nhân vật của chúng ta lại là một người nhút nhát. Có thể nói là từ lúc lọt lòng: mặc cho bác sĩ hầm hừ doạ nạt và bà đỡ cố công thúc đẩy, mãi ông chẳng chịu ra cho. Điều này để lại dấu vết trên diện mạo của ông. Khi rốt cuộc ông cũng được sinh ra và nhìn thấy thế gian buồn khổ này, trông ông xấu xí quá lắm, còn cái đầu thì rõ là chiếc bắp cải chứ không ngoa.

Thủa thiếu thời, vì nhút nhát, ông đã phải chịu nhiều đau khổ, ấy vậy nhưng nó cũng đem lại cho ông một vài lợi thế. Chẳng hạn khi ông phạm lỗi, người lớn chẳng bao giờ ngờ vực đến ông. Và ông cũng không hề phản đối việc bạn bè phải chịu phạt thay mình. Không, không phải tại đớn hèn. Có điều ông quá nhút nhát đến nỗi chẳng dám đứng ra thú nhận.
Dù vậy, ông cũng leo lên được chức phó quản đốc phân xưởng của một nhà máy dệt. Cũng nên nói thêm rằng ông như vậy là nhờ ơn người cha ngoan đạo của mình. Cha ông luôn răn dạy con trai rằng lòng tin chân chính có sức mạnh dời núi lấp sông. Điều giáo huấn này của cha Ruđenxơ đã hấp thụ, như người ta nói, từ thủa còn bú mẹ. Dần dần đối với ông nó trở thành một chân lý hiển nhiên chẳng khác gì hết đêm sẽ lại đến ngày vậy. Hồi đầu, khi mới bắt đầu vận dụng lời dạy sáng suốt của người cha, Ruđenxơ chỉ tin vào những việc đơn giản. Những việc này tự nó vẫn trở thành hiện thực, bởi thế chưa lần nào ông nghi ngờ tính đúng đắn tuyệt đối của chân lý cha dạy.
Một tối, đang dạo chơi trong công viên ông trông thấy một cô gái ngồi sụt sùi khóc, cô đơn trên ghế. Khi đó Ruđenxơ 24 tuổi. Do nhút nhát ông chưa hề có kinh nghiệm giao tiếp với đàn bà. ông ngồi xuống cạnh cô gái một cách cả tin và ngờ nghệch. Họ nhanh chóng bắt chuyện với nhau. Cô gái kể rằng cô bị bạn trai ruồng bỏ, giờ đây trơ trọi trên thế gian này và chỉ còn nước trẫm mình nữa mà thôi.
Ruđenxơ thấy mến và thương hại cô gái tội nghiệp. Ông hết lòng khuyên can cô gái chớ dại dột liều mình. Trò chuyện hồi lâu ông đã hướng được sự chú ý của cô vào sức mạnh thần kỳ của niềm tin. Thậm chí ông đã thuyết phục được cô tin rằng mọi điều sẽ trở nên tốt đẹp hơn.
Họ ngồi bên nhau rất lâu. Trời về khuya trở lạnh, và đôi bạn trẻ sát lại gần nhau. Thoắt cái đã qúa nửa đêm, cô gái đột nhiên nức nở khóc, ôm chầm lấy cổ ông, miệng thì thầm rằng cô đã bị thuyết phục, rằng bây giờ cô tin chắc rằng ông sẽ cưới cô và điều này chẳng còn lâu la gì nữa.
Một tháng sau họ cưới nhau thật. Ngay trong đêm tân hôn cô gái thú nhận với ông rằng cô mong muốn có con tưởng phát điên phát rồ. Ruđenxơ trầm tĩnh, nhưng ông cũng đang chứa chan niềm vui chờ đợi như cô, trả lời rằng nếu họ vững tin và điều đó thì tất cả sẽ trở thành hiện thực.
Vợ ông ôm hôn chồng và reo lên sung sướng:
- Dĩ nhiên, anh yêu quý của em. Chúng mình hãy cùng tin rằng chỉ bốn tháng nữa thôi là chú nhóc của chúng mình sẽ ra đời. Em không chờ lâu hơn được nữa đâu, em đến chết vì chờ đợi mất.
Ruđenxơ thấy điều này hơi quá táo bạo, ông bày tỏ cho vợ sự nghi ngờ của mình. Nhưng cô vợ đang hân hoan với kế hoạch được thảo ra, cô rất tin tưởng và tuyên bố rằng nếu họ đem lòng tin mà khiến được đứa trẻ ra đời chỉ cần bốn tháng thì đó chính là cách tốt nhất làm cho hàng xóm láng giềng tin vào chân lý sống của họ. Luận cứ này đã hoàn toàn thuyết phục được Ruđenxơ. Họ hăng hái bắt tay vào việc, và kết quả chẳng phải chờ lâu - đúng bốn tháng sau cô vợ đã tặng ông một đứa con trai mập mạp.
Đứa bé lớn nhanh như thổi, trong tình thương yêu và sự chiều chuộng của bố mẹ. Nó cao ngồng lên, thậm chí hơi lòng khòng nữa, còn ăn thì khoẻ bằng ba đứa khác. Khách đến nhà chơi không ngớt lời khen ngợi chú bé có thân hình rắn chắc và đôi khi nói thêm:
- Mà sao nó chẳng giống bố chút nào?.
- Lẽ tự nhiên, - mỗi bận như thế Ruđenxơ lại liếc trộm vợ và trả lời, - một khi thời hạn quá cấp tốc như thế thì chẳng có gì đáng phải ngạc nhiên.
Dĩ nhiên Ruđenxơ cố giáo dục con theo cách của mình. Khi thằng bé đã lớn ông bắt đầu kể cho con nghe về sức mạnh diệu kỳ của nó. Thằng con không chịu tin. Điều này làm cho Ruđenxơ khổ tâm, khổ tâm hơn nhiều so với những lần ông phải đấu tranh với tính nhút nhát để thú nhận lỗi lầm. Khi ông trở thành phó quản đốc phân xưởng đứa con tròn 15 tuổi. Nhân dịp ấy ông lại nói với thằng con một lần nữa. Ông kể cho nó nghe rằng ngay từ đầu ông đã tin tưởng chắc chắn rằng mình sẽ được nhận chức này... và, thấy chưa, niềm tin của ông đã biến thành hiện thực.
- Bố có thể kể cho con nghe nhiều ví dụ kỳ diệu khác từ cuộc đời mình - ông thêm – nhưng bây giờ chỉ ví dụ ấy thôi cũng đã đủ rồi.
Toàn những chuyện nhảm nhí - thằng con đáp lại và nhổ kẹo cao su xuống thảm. Ruđenxơ buồn lắm nhưng vẫn tin là sẽ có dịp chứng tỏ cho con trai thấy sức mạnh thần kỳ của niềm tin.
Một thời gian dài bố mẹ mong cho con học hành đến nơi đến chốn nhưng té ra nó chẳng có chút năng khiếu nào về việc đèn sách. Ông bố xoay sang cho nó học nghề thợ nguội, song cả việc đó cũng không thành. Rốt cuộc ông cho nó đến làm việc tại nhà máy của mình. Chỗ này thì chàng trai ưa thích và những cô thợ dệt trẻ trung có vai trò không nhỏ trong chuyện ấy. Thằng con đã trưởng thành. Mới 20 tuổi nhưng nó đã râu ria xồm xoàm, mặc áo đỏ và có thói quen gác chân lên sau mỗi bữa ăn. Nhưng ngay cả lúc này Ru-den vẫn không bỏ lỡ cơ hội để đem niềm tin của mình truyền lại cho con. Thường thì ông bố rụt rè đưa ra một ví dụ mới, thằng con vẫn lặng thinh xem vô tuyến truyền hình, miệng không ngừng nhai kẹo cao su. Nhưng rồi, sốt ruột vì sự nhẫn nại của bố, nó nhấc một chân khỏi mặt bằng, đạp cho Ruđenxơ một cái và mắt vẫn không rời màn ảnh, quát:
- Câm!
Một buổi tối, khi Ruđenxơ lại bắt đầu bài thuyết giáo của mình (ông ngồi tận mép ghế để tránh cú đạp của thằng con), nó đột ngột quay lại, bộ dạng nom thật gớm ghiếc hỏi:
- Này, cái gì ông tin cũng trở thành hiện thực chứ?
Tuyệt đối đúng như vậy! - Ruđenxơ hân hoan trả lời.
- Thế thì hãy tin rằng ông là một chiếc xe máy đi xem chỗ nào, tôi đang cần đấy.
Thoạt tiên Ruđenxơ cảm thấy bị sỉ nhục, thậm chí bàng hoàng, khi nghe những lời nói của con trai. Nhưng rồi một ý nghĩa loé lên trong óc ông. Vậy là thời điểm ông dày công chờ đợi đã đến. Bây giờ là lúc để ông chứng minh bằng thực tế cho thằng con thấy lòng tin có thể dem lại cho con người những gì. Ông lặng lẽ đứng dậy đi về. phòng mình. Đến ngưỡng cửa ông quay lại hỏi:
- Xe đạp máy à?
- Không, một chiếc xe máy thực thụ - thằng con đáp.
Ruđenxơ ngồi xuống giường, nhắm mắt lại. Sau đó ông vận hết lòng tin của mình vào cuộc. Ông hiểu rằng kết quả cuộc thí nghiệm này sẽ quyết định tất cả, bởi thế ông đã gắng tin với nỗ lực chưa từng có trong đời. Vậy mà không có kết quả. Hồi lâu sau vẫn không có kết quả. Thế rồi đột nhiên ông cảm thấy chân mình biến thành một bánh xe, còn tay thì biến thành tay lái. Khi mở mắt ra ông thấy mình thực sự đã biến thành một chiếc xe máy, một chiếc xe máy có chiếc yên dành cho người lái màu xanh sáng và cả ghế dành cho bạn gái phía sau.
Ruđenxơ sững sờ. Sự biến hoá kỳ diệu đã làm cho giây phút đó trở nên hạnh phúc nhất đời ông. Ông muốn kêu lên "xong rồi! " nhưng lẽ dĩ nhiên, lúc này ông không còn nói được nữa mà chỉ húc bánh xe vào cánh cửa.
Tiếng động làm vợ ông hoảng hốt chạy tới. Khi trông thấy ông dưới lớp sơn và ánh kim loại sáng loáng bà ta vung tay kêu lên:
- Ôi Ruđenxơ, thật là đẹp mặt!
Riêng thằng con trai khi trông thấy bố trong vai trò mới chỉ nói:
- Khổ lắm! - Nó sờ nắn động cơ, yên, tay lái rồi thêm: - Nào, ta làm vài vòng chơi chứ bố!
Nó dắt xe ra đường và dựng trước nhà. Bà mẹ theo sau. Thằng con đạp cần khởi động. Lúc này ai cũng thấy có sự cố gắng hết sức của Ruđenxơ: cả thùng nhiên liệu cũng đã đầy xăng. Thằng con nhảy lên yên đi thử một vòng, khi trở lại nó đặt xe cạnh nhà rồi lại gần mẹ, nói:
- Một ông bố thế này thì con thích nhất trên đời.
Đứng trước cửa Ruđenxơ vẫn lâng lâng, vui sướng. Nhưng dần dần ông bình tĩnh lại. Gần sáng trời đổ mưa. Ông thoáng lo ngại cho những bộ phận bằng kim loại của mình. Nhưng thằng con đã cẩn thận trùm kín ông bằng vải bạt.
Mới đầu Ruđenxơ dự định cứ là xe máy cho đến khi thằng con trai cầu xin ông trở lại làm người. Nhưng khi hôm sau thằng con cưỡi ông đến cửa hàng, khi ông nghe thấy ngài quản đốc phân xưởng hỏi han về ông và thằng con đẻ của ông chỉ lơ đãng nhún vai để đáp lại thì ông bỗng thấy khát khao được mang lại lốt làm người. Ông quyết định ngay lập tức tin rằng mình sẽ lại là người.
Một lần nữa ông vận hết niềm tin của mình vào việc. Ông đứng dưới mái lán kim loại cùng đám xe đạp, và đau khổ tập trung niềm tin xưa cũ của mình. Nhưng chẳng có gì thay đổi - đôi chân vẫn là bánh xe, đôi tay vẫn là tay lái. Ông sợ hãi điên cuồng. Đến lúc này ông cố gắng tin tưởng bằng tất cả niềm khát khao cháy bỏng rằng ông là người, tin tưởng không ngừng không nghỉ. Ban ngày thằng con dẫn bạn bè đến giảng giải cho chúng nghe những ưu điểm của chiếc xe máy mới. Sau đó nó cưỡi lên bố và chồm đi. Dọc đường về, ngay cả lúc len lỏi giữa dòng xe cộ. Ruđenxơ vẫn không nguôi hy vọng sẽ tìm lại được sức mạnh của niềm tin ngày trước.
Nhưng vô ích. Quá rõ là lòng tin của ông vẫn chưa đủ mạnh. Không thể có cách giải thích nào khác.
Như vậy ông vẫn phải là chiếc xe máy. Thoạt tiên những người thân thích thảy đều mừng rỡ và cứ ngày nghỉ là cả gia đình kéo ra ngoại ô. Nhưng đến cuối tháng, gia đình trở nên túng bấn do thiếu khoản tiền lương của ông. Bà vợ bắt đầu nổi giận. Buổi tối, bà lại gần ông, lúc đó đang dựng bên chiếc máy giặt dưới mái lều và sa sả nhiếc móc ông. Bà yêu cầu ông phải thôi ngay cái trò ngu ngốc ấy. Bà nói rằng bà thừa biết ông làm vậy để làm gì, rằng ngần ấy tuổi đầu đáng lẽ ông phải biết xấu hổ khi xử sự như thế.
Đêm đó lại một lần nữa Ruđenxơ cố trở về với lốt cũ. Nhưng lại một lần nữa uổng công. Rồi bà vợ dĩ nhiên cũng phải hiểu rằng việc làm của ông không phải cố tình. Ít nhất thì bà cũng thôi nhiếc móc ông. Trái lại, đêm đêm, khi con trai trở về sau những cuộc phi điên dại trên lưng bố, bà thường ra ngoài lều, đứng bên chiếc máy giặt và trò chuyện đôi ba giờ với Ruđenxơ như trước vẫn làm.
Tuy nhiên tình trạng túng thiếu vẫn ngày càng trầm trọng. Cuối cùng hai mẹ con đành phải nghiến răng bán đứng Ruđenxơ. Họ làm một tờ thông báo. Đã tìm được kẻ muốn mua. Bà vợ cố lo cho ông được rơi vào một tay người phúc hậu. Có một ngài gầy gò mua chiếc xe, trả bằng tiền mặt và hứa sẽ giữ gìn cẩn thận.
NGÔ TỰ LẬP dịch từ tiếng Nga

(nguồn: TCSH số 162 - 08 - 2002)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • O.HENRY

    Rất lâu trước khi bụng dạ lờ đờ của anh nhà quê cảm nhận được hơi xuân thì tay thị dân ấy đã biết rằng bà chúa xanh màu cỏ ấy đã lên ngôi.

  • LTS: Trong 24 bài trong tập Cỏ dại của nhà văn Lỗ Tấn do GS. Trần Đình Sử dịch, Sông Hương số tháng 10 năm 2011 đã giới thiệu đến bạn đọc 3 bài “Sau khi chết”, “Sự giã từ của cái bóng” và “Sự run rẩy trên đường đồi bại”. Kỳ này Sông Hương xin giới thiệu tiếp với bạn đọc 4 bài chọn lọc từ Cỏ dại.

  • VILIAM KHÂYNÊXEN (Đan Mạch)

    Khi Lêô tỉnh giấc, trong tai anh vẫn còn vang lên những lời của ông giáo sĩ giảng đạo.

  • LGT: Nhà văn, nhà nghiên cứu sử học và văn hóa Mỹ Jon Holmes sinh ra tại tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng công nghệ Texas nơi ông từng tham gia phong trào nhân quyền và phản chiến, Jon Holmes chuyển đến New York làm việc cho một tạp chí nhiếp ảnh và phụ trách một chương trình sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sĩ hiện đại cho một đại công ty ở Bos- ton.

  • KNUT HAMSUN (*)

    Do tôi viết. Viết vào ngày hôm nay cho trái tim vơi nhẹ đi. Tôi đã mất chỗ làm ở tiệm cà phê cùng những ngày sung sướng của tôi. Tất thảy mọi thứ, tôi đã mất hết. Và tiệm cà phê ấy là tiệm cà phê Mắcximilăng.

  • HENRY JAMES 
         (Tiếp theo Sông Hương số 290 tháng 4/2013)

    Một buổi sáng (tôi cho là ở gần La Spezia) Harold đang vẽ bên gốc cây, không xa quán trọ, tôi ngồi cạnh, lớn tiếng đọc Shelley(18) - người có thể chứng tỏ được trìu mến hơn bất cứ ai.

  • ELENA PUCILLO TRUONG

    Nỗi khắc khoải đã kéo dài từ bao lâu?
    Có lẽ một năm. Quá nhiều. Lấy cớ đi vào toilette, hai tay tôi nắm chặt chiếc bồn rửa mặt trong nhà hàng như muốn bẻ làm đôi. Bao nhiêu bức bối đang dồn vào trong... bao nhiêu đau đớn... đau đến nỗi tôi không dám ngẩng mặt nhìn bóng mình trong gương.

  • Henry James (1843 - 1916), nhà văn Mỹ viết tiểu thuyết, truyện ngắn, phê bình văn học; đặc biệt yêu văn học và nghệ thuật Pháp. Ông định cư ở Londres, Anh từ 1876. Tác phẩm: 112 truyện ngắn (1864 - 1910), Toàn tập (1990 - 2009), nội dung thể hiện ở nhiều chủ đề như: ý thức, tâm lý, mơ mộng, tình cảm, vẻ đẹp, chân lý nghệ thuật.

  • FRANÇOIS CHENG
    (Trích từ tác phẩm Khi những linh hồn lang thang trở về)

    Dưới gầm trời này, dưới cái gầm trời rất thấp này, tất cả đều có thăng có trầm, tất cả đều bị biến đổi. Tác phẩm về Những đột biến đã chỉ rõ điều đó, tổ tiên chúng ta đã nói: “Cứ năm năm thì có chuyển biến nhỏ, cứ năm trăm năm thì có đại đột biến”.

  • L.T.S: Sherwood Anderson (1876 - 1941) là nhà văn lớn của Mỹ. Ông có nhiều tư tưởng tiến bộ, và thường tỏ thiện cảm với những lực lượng vô sản cách mạng Mỹ, đặc biệt là trong những năm 1931 - 1935. Truyện ngắn "Những ngọn đèn chưa thắp" (Unlighted Lamps) của ông dưới đây được liệt vào một trong những chuyện ngắn xuất sắc trong nền văn học Mỹ từ trước đến nay. Câu chuyện về bi kịch nội tâm của những con người không phá vỡ nổi bức tường ngăn cách giữa những tình thân và cho đến khi nhắm mắt vẫn chưa kịp thắp lên ngọn lửa thông cảm.

  • Elena Pucillo Truong là người Ý, Tiến sĩ Ngôn ngữ và Văn học nước ngoài (Đại học Milano Italia). Cô dạy tiếng Pháp và Văn minh Pháp tại Milano từ năm 1982 và gần đây có dạy tiếng Ý tại Nhạc Viện, tại phòng lãnh sự danh dự Ý và tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM.

  • LGT: Etgar Keret sinh ngày 20/8/1967 tại Ramat Gan, Israel. Nhà văn nổi tiếng với truyện ngắn và kịch bản phim, có ảnh hưởng lớn tới lớp nhà văn trẻ hiện nay ở Israel.

  • L.T.S: Narayan là nhà văn miền Nam Ấn Độ, sáng tác bằng tiếng Anh. Sinh 10/10 năm 1906 tại làng Madras (mất 13/5/2001), từng sống ở thành phố Mysore cổ kính của quê hương ông.

  • Ferit Edgu sinh năm 1936, từng sống sáu năm ở Paris học chuyên ngành gốm. Trong nhiều năm ông là người viết kịch bản quảng cáo và rồi điều hành một nhà xuất bản. Sự vô lý của cuộc đời, những ám ảnh dục tính, sự sa đọa và sự bất hòa của người trí thức là những chủ đề của ông.

  • HEINRICH BÖLL (CHLB Đức)

    (Heinrich Böll sinh 1917, mất 7-85 - giải thưởng Nôbel văn học 1972)

  • Ngoài các tác phẩm lớn về Việt Nam như Vạn Xuân, Lãn Ông, mấy năm gần đây, nữ văn sĩ Pháp Yveline Feray đã cho ra đời những tập truyện thần thoại và dân gian của các nước châu Á như Việt Nam, Trung Hoa, Campuchia, Tây Tạng. Vào cuối năm 2010, bà đã cho xuất bản tập “Chuyện kể của bà ngoại Ấn Độ”.

  • AKUTAHAVA RIUNÔXKÊ (Nhật Bản)

    Hôm ấy một mình Đức Phật đi dạo ven bờ đầm trên Niết bàn.
    Cả đầm toàn là sen trắng trong như ngọc, và nhị sen vàng tỏa ra xung quanh một mùi thơm ngọt, ngạt ngào.

  • L.T.S: LANGSTON HUGHES (1902 - 1967), nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch và dịch giả người Mỹ da đen, sinh ở Joplin, bang Missouri. Ông đã xuất bản 35 tác phẩm. Thơ của ông đã được dịch sang tiếng Việt. Những tác phẩm của ông phần lớn tập trung chủ đề đấu tranh cho quyền bình đẳng giữa người da đen và da trắng tại nước Mỹ. Truyện sau đây dịch trong tập truyện "The ways of white Folks".

  • Hình ảnh rồng Việt Nam từ xa xưa đã sớm đi vào nghệ thuật với nhiều loại hình khác nhau. Trong lịch sử nghệ thuật điêu khắc, nhiều công trình điêu khắc lấy con rồng làm đề tài đã trở thành những tác phẩm có giá trị văn hóa, trong đó không ít công trình điêu khắc đá được xem như là những tác phẩm mang dấu ấn phong cách nghệ thuật của một thời kỳ.

  • Nhà văn Phillip Van Doren Stern sinh ra tại Wyalusing, bang Pennsylvania và lớn lên tại Brooklyn, New York. The Greatest Gift là truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông. Phillip Van Doren Stern đã từng gửi câu truyện này đi nhiều báo và tạp chí nhưng không nơi nào nhận đăng. Cuối cùng ông cho in truyện lên 200 tấm thiệp năm mới và phát cho bạn bè.