Mở khóa kéo

08:57 25/09/2012

LGT: Etgar Keret sinh ngày 20/8/1967 tại Ramat Gan, Israel. Nhà văn nổi tiếng với truyện ngắn và kịch bản phim, có ảnh hưởng lớn tới lớp nhà văn trẻ hiện nay ở Israel.

Ảnh: internet

Keret thành danh với tập truyện thứ hai, Ga’aguai le-Kissinger (1994; Nhớ Kissinger), gồm 50 truyện cực ngắn. Từ 1999, truyện của ông bắt đầu được dịch và đăng trên báo chí tiếng Anh. Có hơn 40 phim ngắn được dựng từ truyện của ông. Tác phẩm của ông đã được dịch ra hơn 30 thứ tiếng. Truyện của Etgar Keret thường giản dị, dùng ngôn ngữ thường đàm, nhưng đan xen những diễn biến hằng ngày với sự việc kỳ quái trong con mắt thản nhiên của nhân vật. Tuy vậy, ông lại tuyên bố không gởi gắm một thông điệp nào trong truyện cả. Mấy tập truyện khác của ông là Hakaytana Shel Kneller (1998; Những trại viên hạnh phúc của Kneller), Anihu (2002), và Pitom Defikah Ba-delet (2010; Đột nhiên, một tiếng gõ cửa). Truyện sau đây được dịch từ Suddenly, a Knock on the Door (2012), bản tiếng Anh của Pitom Defikah Ba-delet.  


ETGAR KERET

Mở khóa kéo


Nó bắt đầu với một nụ hôn. Nó hầu như luôn luôn bắt đầu với một nụ hôn. Ella và Tsiki đang trên giường, trần truồng, chỉ có lưỡi của họ chạm nhau thì cô cảm thấy có cái gì cứa vào cô. “Anh làm em đau hả?” Tsiki hỏi, và khi cô lắc đầu, hắn nói thêm rất lẹ. “Em chảy máu kìa.” Và quả thế, miệng cô chảy ra máu. “Anh xin lỗi,” hắn nói và bắt đầu tìm kiếm điên cuồng trong nhà bếp, kéo một khay làm nước đá thỏi từ tủ đông ra và đập xuống mặt bàn bếp. “Này, cầm lấy,” hắn nói, trao cho cô vài thỏi nước đá với bàn tay run rẩy. “Ép vào môi đi. Cầm máu được đấy.” Tsiki luôn giỏi giang trong những chuyện thế này. Trong quân đội hắn từng là nhân viên cứu thương. Hắn cũng là hướng dẫn viên du lịch có tay nghề. “Anh xin lỗi,” hắn nói tiếp, trông tái xanh hơn, “Chắc anh cắn phải em rồi. Em biết đó, trong cơn mê cuồng.” “Hông ó ì âu,” cô mỉm cười với hắn, thỏi nước đá dính vào môi dưới của cô. “Âu ó chiện gì.” Dĩ nhiên đó là một lời dối trá. Bởi vì có chiện ì ó đã xảy ra. Đâu phải ngày nào người sống chung với bạn cũng làm bạn chảy máu, rồi nói trớ đi với bạn và bảo rằng hắn đã cắn nhầm phải bạn trong khi bạn cảm thấy rõ có cái gì đó cứa vào bạn.

Họ không hôn nhau nữa suốt mấy ngày sau đó, vì vết rách của cô. Môi là bộ phận rất nhạy cảm của cơ thể. Và sau đó khi có thể hôn nhau, họ phải rất cẩn thận. Cô thấy rõ là hắn đang che giấu điều gì đó. Và quả thế, đêm nọ, thừa lúc hắn ngủ với cái miệng há rộng, cô nhẹ nhàng luồn ngón tay vào dưới lưỡi của hắn - và tìm thấy cái đó. Nó là một cái khóa kéo. Một khóa kéo nhỏ xíu. Nhưng khi cô kéo nó, toàn bộ Tsiki của cô mở ra như một con hàu, và bên trong đó là Jurgen. Không như Tsiki, Jurgen có chòm râu dê, mớ tóc mai tỉa tót tỉ mỉ và một con cu không cắt bì. Ella ngắm anh ta trong giấc ngủ. Một cách rất, rất lặng lẽ, cô gấp lớp vỏ Tsiki lại và giấu nó trong ngăn đựng chén trong nhà bếp, sau thùng rác, nơi họ cất những túi để đựng rác.

Cuộc sống với Jurgen không dễ dàng gì. Chuyện tình dục thì kỳ quái, nhưng anh ta uống rượu rất dữ, và khi uống, anh ta quậy um sùm và vướng vào đủ thứ tình trạng khó gỡ. Và hơn hết, anh ta thích làm cho cô cảm thấy có lỗi vì cô là lý do khiến anh ta rời châu Âu và đến sống ở đây. Mỗi khi có chuyện tồi tệ xảy ra ở đất nước này, dù trong cuộc đời thật hay trên ti vi, anh ta đều nói với cô, “Coi cái đất nước của em đi đến đâu kìa. “Tiếng Hebrew của anh ta thật tệ, và cụm từ “của em” trong giọng anh ta luôn nghe có vẻ rất kết án. Cha mẹ cô không thích anh ta. Mẹ cô, vốn thật sự rất thương Tsiki, đã gọi Jurgen là thằng ngoại bang. Cha cô luôn hỏi han anh ta về công việc và Jurgen thường cười nửa miệng và nói, “Công việc cũng giống như ria mép thôi, bác Shviro ạ. Nó lỗi mốt từ lâu lắm rồi.” Điều này chẳng ai thấy buồn cười cả, cha của Ella lại càng không, ông té ra cũng nuôi ria mép.

Sau cùng, Jurgen bỏ đi. Anh ta trở lại Dusseldorf chơi nhạc và sống bằng phúc lợi. Anh ta chẳng bao giờ có thể thành công trong nghề ca sĩ ở đất nước này, anh ta bảo vậy, bởi vì mọi người không thích giọng phát âm của anh ta. Dân ở đây bị thiên kiến. Họ không ưa người Đức. Ella nghĩ rằng ngay cả ở Đức thứ nhạc kỳ quái và ca từ bình dân của anh ta chẳng giúp anh ta thành công lắm. Anh ta thậm chí còn viết một bài về cô. Nó được đặt tựa “Nữ thần” và cả bài chỉ nói chuyện làm tình trên đê chắn sóng và chuyện, khi cô đạt đỉnh điểm thì nó “giống con sóng vỡ tung trên tảng đá” ra sao - một câu trích trong bài là vậy.

Sáu tháng sau khi Jurgen bỏ đi, cô cần tìm một túi đựng rác và thấy lớp vỏ Tsiki. Cô nghĩ, có lẽ mở khóa kéo của hắn là một sai lầm. Có thể lắm. Với những chuyện như vậy thì thật khó nói chắc. Cũng tối đó, khi đang đánh răng, cô hồi tưởng lại nụ hôn đó, và cảm giác đau khi bị cứa. Cô súc miệng với rất nhiều nước và nhìn vào gương. Cô vẫn còn mang vết sẹo, và khi nhìn kỹ vào nó, cô thấy một khóa kéo nhỏ xíu bên dưới lưỡi của mình. Ella sờ mó nó với vẻ lưỡng lự, và cố tưởng tượng chính mình bên trong thì ra sao. Nó khiến cô đầy hy vọng, nhưng cũng gây chút ưu tư - chủ yếu là về đôi bàn tay bị tàn nhang và một nước da khô. Có thể cô có một hình xăm đóa hồng, cô nghĩ vậy. Cô vẫn luôn muốn có một hình xăm, nhưng chẳng bao giờ có gan làm vậy. Cô nghĩ việc đó hẳn là đau lắm.

Phạm Viêm Phương dịch
(SH283/09-12)







 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Dazai Osamu (1909 - 1948) tác gia kiệt xuất, đại diện cho “trường phái vô lại”, đó là một nhóm các nhà văn có khuynh hướng nổi loạn và tự hủy, trong nền văn học cận - hiện đại Nhật Bản. Phần lớn những tác phẩm của ông đều mang tính chất tự thuật với văn phong u mặc, diễn tả tâm trạng bế tắc trong thời kỳ hậu chiến và bi kịch cá nhân, đồng thời cũng dí dỏm, hài hước một cách cay đắng.

  • Han Kang được trao giải Nobel Văn học năm 2024 do có “văn xuôi đầy chất thơ mãnh liệt đối mặt với những tổn thương lịch sử và phơi bày sự mong manh của đời người”.


  • XERGÂY ĐÔVLATÔP

  • SHERWOOD ANDERSON

  • WILLIAM SOMERSET MAUGHAM

    William Somerset Maugham là tiểu thuyết gia người Anh. Ông sinh năm 1874 tại Paris, Pháp, và là con của một cố vấn pháp luật trong tòa đại sứ Anh tại Paris.

  • Okamoto Kanoko (1889 - 1939) nhà thơ Tanka và là nhà nghiên cứu Phật giáo. Sinh ra trong một gia đình giàu có tại Tokyo, sau khi tốt nghiệp trường nữ sinh Atomi, bà theo học nữ tác gia Yosano Akiko và đã công bố một số bài thơ Tanka.

  • Nhà văn Mỹ Sarah Orne Jewett sinh năm 1849 và mất năm 1909. Bà là nhà tiểu thuyết, nhà thơ và nhà văn viết truyện ngắn (Short Story Writer). Bang Maine là không gian chính trong tác phẩm của bà. Văn chương của bà sớm đề cập đến các vấn đề sinh thái và các vấn đề xã hội khác, có tính vùng miền.
                        Trần Ngọc Hồ Trường dịch và giới thiệu

  • C. J. MCCARTHY

    Cormac McCarthy là nhà văn người Mỹ, ông nổi tiếng với phong cách viết bạo liệt và u ám. McCarthy chuyên viết tiểu thuyết và được giới hàn lâm đánh giá cao ở ngay tiểu thuyết đầu tiên, The Orchard Keeper (1965), nhưng ông không thành công với độc giả đại chúng.


  • FERNANDO SORRENTINO

  • Jon Fosse là kịch gia đương đại, nổi danh với tặng thưởng Nobel văn chương 2023. Số lượng truyện ngắn đã xuất bản không nhiều, Jon Fosse vẫn ghi dấu với một phong cách độc đáo. Người em gái nhỏ (Søster) xuất bản năm 2000, bản dịch Anh ngữ in trong tập Scenes from a childhood (Damion Searls dịch) năm 2018.

  • JOSEPHIN JOHNSON
                       (Mỹ)

    Gnark ngồi trong buồng ngủ, mắt nhìn những tấm giấy phủ tường. Một cảm giác là lạ xâm chiếm lòng anh.

  • SRI DAORUANG

    Nhà văn Sri Daoruang tên thật là Wanna Sawasdsri, sinh năm 1943, quê quán ở Phitsanulok, Bắc Bangkok, Thái Lan. Bà là tác giả của tuyển tập Quỷ truyện Dân gian (Tales of the Demon Folk, 1984).

  • HENRI TROYAT

    LTS. Henri Troyat tên thật là Lev Tarassov sinh năm 1911 tại Moskva. Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp. Giải thưởng văn học đầu tiên với tác phẩm "Faux jours" (1935). Ông đã xuất bản trên 20 tác phẩm tiểu thuyết và truyện ngắn. Những tác phẩm được dư luận đặc biệt chú ý như bộ ba tiểu thuyết "Tant que la terre durera" (1947), "Le sac et la cendre" (1948) và "Etrangers sur la terre" (1950) hoặc như "La lumière des Justes"... Ông còn viết cả kịch bản văn học. Truyện ngắn "Cơn choáng" (Le vertige) lấy từ tập "La Fosse Commune" xuất bản năm 1986.

  • Yamakawa Masao (1930 - 1965), tên thật là Yamakawa Yoshimi, ông sinh ở Tokyo, tốt nghiệp Đại học tư thục Keo (khoa Pháp văn). Yamakawa Masao từng làm biên tập cho Tạp chí văn học Mita Bungaku. Sau đó ông viết và công bố các truyện ngắn như: Cái chết mỗi ngày, Năm ấy, Công viên ven biển… với phong cách tinh tế, miêu tả sự phi lý của cái chết và tuổi trẻ thời kỳ hậu chiến. Ông qua đời năm 34 tuổi do tai nạn giao thông.

  • Nhà văn Ấn Độ (người Hindi), Krishna Baldev Vaid sinh năm 1927. Ông học đại học tại Punjab và Harvard; dạy học tại nhiều trường đại học ở Ấn Độ và Mỹ. Ông viết tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn, phê bình và dịch thuật văn học. Tác phẩm của ông được dịch ra nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Đức, Ý, Ba Lan, Nga, Nhật và các tiếng khác ở Ấn Độ.

  • HÁCH XUYÊN THỨ LANG
                          (Nhật)

    Phải dấu việc này không cho anh ấy biết. Lãng Tử nghĩ vậy và nắm chặt bao nhỏ trong tay, tần ngần rảo bước trên cầu. Đêm tối không người với dòng sông lặng lẽ trôi giữa một màn đen kịt, và rồi nó sẽ mang đi điều bí mật của ta.

  • DHUMKETU

    Dhumketu là bút danh của Gaurishankar Govardhauram, là nhà văn Ấn Độ (1892 - 1965), thường được xem như là một trong những người khai sáng loại hình truyện ngắn. Tác phẩm của ông thường có bút pháp gây xúc động, lãng mạn hoặc miêu tả đậm nét những cảm xúc của con người.