Quên và nhớ với thơ

11:12 09/01/2009
TRẦN NINH HỒLTS: Trần Ninh Hồ tên thật là Trần Hữu Hỷ. Lính Đông Bộ 1971 - 1976, 1977 - Trưởng ban Văn thơ báo Văn Nghệ. Nguyên chủ nhiệm Bảo tàng Văn học Việt …Bình quân cứ độ dăm năm, nhà thơ Trần Ninh Hồ lại có một "đợt" xuất bản thơ. Anh là cây bút sung sức trong suốt mấy thập niên vừa qua của nền thơ hiện đại Việt Nam, từ cuộc chiến tranh chống Mỹ cho suốt đến những ngày hôm nay...Nhà văn Võ Thị Xuân Hà đã có cuộc trao đổi với nhà thơ Trần Ninh Hồ trong một cách nhìn riêng biệt.


Lữ thứ với con người - góc nhìn thời đại và nghĩa rộng bao hàm của nó?
* Vị trí của tuyệt đại đa số các nhà thơ và nghệ sĩ trong cuộc đời này là ở đâu nhỉ? Nói một cách khác là thiên chức, thiên lương (chứ không phải là chức năng, nhiệm vụ) của họ? Đó là điều mà tôi thường suy ngẫm. Nếu cần phải kêu gọi, hiệu triệu, thì đấy là công việc của những người đứng đầu một tổ chức lớn, một quốc gia. Nếu cần phải giảng giải, răn dạy, thì là việc của các nhà giáo và các nhà truyền giáo (hoà thượng, linh mục, giáo chủ). Nếu cần phải áp đặt, thì đấy là việc của pháp luật... Còn nhà thơ và nghệ sĩ, có lẽ việc của họ là sẻ chia, tâm sự, gợi mở. Đôi khi cũng phải thét lên, nhưng có lẽ không nhiều lắm!
Lữ thứ với con người là theo cái hàm ý ấy. "Kẻ chốn chương đài, người lữ thứ/ Lấy ai mà giải nỗi hàn, ôn" (Bà Huyện Thanh Quan). Lấy "Người lữ thứ" mà chia sẻ nỗi hàn, ôn (lạnh, nóng) của kiếp người, chứ chia sẻ chi với "kẻ chốn chương đài", nơi lầu hồng gác tía!
Vội vã hay thư thả cũng là đi giữa dòng đời này thôi. "Lữ thứ" ở đây là một cách đi, một động từ. Bạn hỏi thì phải nói, chứ với thơ, có lẽ cũng chả nên quá rạch ròi. Phải thế không?

*
Còn Cho người tôi thương nhớ, hẳn là một bản tình ca về trái tim con người?
*
Vâng, tôi cũng ước thế. Nhưng liệu nó có xứng là như thế không nhỉ? Trái tim con người ư? Một biểu tượng tuyệt vời của thế giới xúc cảm. Nhưng kể cả khi nó - trái tim - được là một biểu tượng truyền đời, tôi cũng không dám lạm dụng! Cụ thể là trong cả một tập thơ có tới 169 bài thơ tình, dày tới hơn hai trăm trang in trong Cho người tôi thương nhớ, cũng chỉ có một bài (Ca dao trên tuyết) là tôi dùng đến chữ "tim"! Duy nhất một chữ "tim"!
"Rất có thể ban đầu chỉ là sự đặt tên/ Người ta gọi cái này là trái tim, cái kia là khối óc.../ Thế rồi không hiểu sao, bằng đủ mọi lý luận trên đời, người ta bảo cái này là sản phẩm của trái tim, cái kia là sản phẩm của khối óc/ Cứ như là tim, óc ở... ngoài ta!"
Bài "Tim và óc" trong tập Thơ gửi cho Thơ - Trần Ninh Hồ - 1999.
)Khi viết, nhất là khi viết thơ, tôi rất sợ những hình ảnh, những biểu tượng quen thuộc, đã đành. Nhưng nhân đây, tôi cũng xin được phép huỷ bỏ trong tôi những khái niệm có tính bày vẽ kinh viện, khi người ta cứ thích vân vi chia ra thơ-hướng-nội, thơ-hướng-ngoại, thơ-trí-tuệ, thơ-xúc-cảm... Làm gì mà lắm loại thơ như thế! "Tức cảnh sinh tình" thôi. Chia một tia chớp ra làm nhiều khúc làm gì! Mà có chia được không chứ? Trong tiếng ta có chữ "nghĩ" thiên về duy-lý. Có chữ "cảm" nghiêng về duy-cảm. Nhưng lại có chữ "ngẫm". Tôi thích cái chữ "ngẫm" này lắm, vì dường như nó bao hàm cả "nghĩ" và "cảm".
Bạn thử "ngẫm" cùng tôi xem, có đúng thế không nhỉ?

Cho người tôi thương nhớ, có người bảo cái đầu đề tập thơ này hơi... quê, và cải lương nữa! Nhưng biết làm thế nào, khi thật lòng tôi chỉ muốn viết rồi gửi cho những người như thế. Tôi có thể chọn một đầu đề "mô-đéc" hơn, ví dụ như "cho người phe nước mắt", vì nhớ thương thì hẳn là nhiều nước mắt, nhưng những chữ đó có phải của tôi đâu. Của một ông Tây nào đấy chứ! Mà tôi thì lại thuộc "phe" dùng chữ làm thơ, chứ không dùng thơ để nói... chữ, khoe chữ! "Bắt chước cái hiện đại/ Quên phắt cái hiện thời/ Làm sao thơ còn mãi/ Khi mãi còn chơi chơi" (Trần Ninh Hồ)
Lại còn có người bảo: thơ tình gì mà dùng đến "hai mươi khúc đề từ" cho một tập? Người ta chê thế cũng phải, vì thông thường mỗi một tập chỉ nên có một đề từ. Nhưng đây là thơ tình yêu, cái loại "tình" này nó chi phối rất nhiều... tình khác! Có khi nó là Giây lát (trang 12), có lúc nó lại là Vô biên (trang 13). Xin bạn đừng cho tôi là tín đồ của Freud. Vì thế ở loại thơ này mới có cái sự "thẩm định" trái khoáy đến mức:
"Có những câu thơ chỉ viết tặng em thôi/ Nhà phê bình đọc xong bảo là thơ... chiến trận!/ Lại có những câu thơ viết ngay trong lửa đạn/ Tới tay em, em lại bảo thơ tình!" (trang 11).
Thế đấy! Có lúc nào bạn định bỏ văn xuôi để sang (hay lên?) làm phê bình thẩm định thơ chưa?

*
Trong một bài thơ anh viết: "Riêng cái chết của nhà thơ không phải lúc nào cũng quá buồn đâu nhé/ Ấy là khi nhà thơ đã tự né mình đi cho ánh sáng tràn vào/ Đầy trang sách. Không một dòng khuất lấp/ Bởi cái bóng - nhà - thơ - thế - tục đã che đi!" (Bài Tiễn biệt nhà thơ). Có phải đây là một trong những Tuyên ngôn Thơ của Trần Ninh Hồ?
* Gọi là Tuyên ngôn Thơ hay tuyên ngôn gì thì cũng khí... to tát! Khi viết những dòng ấy, tôi chỉ nghĩ một cách đơn giản là hình như sau cái chết, con người bình đẳng hơn? Lúc ấy làm gì có thơ-tổng-thống hay thơ-móc-cống! Thậm chí không còn có cả thơ mới hay nữa, mà chỉ có hay hoặc dở, đáng thờ hay không đáng thờ (Nguyễn Huy Lượng), đáng nhớ hay không đáng nhớ (với thế gian) thôi.
Trong tập Thơ gửi cho Thơ in 1999 gồm 100 bài viết về nghiệp thơ, tôi cũng thường viết nhiều những đoạn thơ như bạn vừa trích. Cũng như gần đây tôi viết:
"Nơi nào anh cũng có mặt/ Sách, báo tên anh trang đầu/ Vậy mà đời sao tệ bạc/ Không ai chịu nhớ anh lâu" (Nghịch lý).
Hay là:
"Cả thế gian bao la có thể/ Vào sống nhờ trong một câu thơ/ Nhưng khi một câu thơ lâm nạn/ Cả thế gian bao la không chỗ nương nhờ" (Nghịch lý 2, tưởng niệm Cao Bá Quát Thánh Thán)…
Cũng chỉ là những "Tuyên ngôn... vặt" thôi!

*
Anh được biết đến như một nhà thơ ào ạt đi trong trào lưu Thơ đương đại, vừa rất hào hoa trong ngôn cách, lại vừa dịu nhẹ trong tiết tấu; hầu như không gây sốc cho độc giả yêu thơ, nhưng lại nằm sâu trong ký ức họ. Vậy thế mạnh tiềm ẩn trong Trần Ninh Hồ là ở sự hào hoa trong ngôn cách, hay sự dịu nhẹ trong tiết tấu? Hoặc là một bí ẩn thiên bẩm nào đó?
* Cảm ơn bạn có lời khen tặng. Nhưng trong đôi lời khen tặng đó, tôi thích nhất câu: "hầu như không gây sốc cho độc giả yêu thơ". Gây sốc được cho bạn đọc không phải dễ, không phải ai muốn cũng được. Với tính nết tôi, tôi không làm được điều đó, đã đành! Mà thực tình tôi cũng không muốn làm điều đó. Đấy có lẽ thuộc bản tính của những nhà ấn tượng chủ nghĩa. Mà sốc, hình như là một trạng thái nguy hiểm, đang khiến nhiều nhà y học phải đau đầu nghiên cứu cách chữa chạy, chống sốc!
Thế mạnh của tôi là "một bí ẩn thiên bẩm nào đó" ư? Vâng, có chứ. Đấy chính là khi xác định được vị thế của thi ca, nghệ thuật là sẻ chia, tâm sự, gợi mở... như tôi đã nói ở phần trên. Mà đã tâm sự với người ta thì trước tiên phải thực thà. Bạn có thể chịu được một người bảo: rất muốn tâm sự (sự từ trong tâm) với Võ Thị Xuân Hà. Mà lại cứ nói dối từ đầu đến cuối, dù là lời nói có hoa mỹ, cách nói có cách tân đến mấy đi nữa?
Ai đó đã từng ví cảm hứng sáng tạo "như đột nhiên ta bước tới Cửa Trời, và nhào vô Lòng Mẹ". Cao rộng thế mà cũng gần gũi thế đấy.

*
Nhưng có một điều, nhiều bạn viết cho rằng độc giả yêu thơ Trần Ninh Hồ dường như không thuộc nằm lòng bài thơ nào, mà họ chỉ biết đến một tổng thể các bài thơ rất có duyên của anh. Theo anh nhận định này có quá cực đoan?
* Kể ra như thế thì cũng... đau! Thấy người ta đọc xuôi, rồi đọc ngược Truyện Kiều dài đến 3254 câu thơ của cụ Nguyễn Du; lại thấy người ta ngân nga hết bài này sang bài khác của bác Nguyễn Bính; người ta véo von hát bài kia sang bài nọ của một số những nhà thơ được phổ nhạc nào đó... thì lại càng sốt ruột. Biết làm sao khi cái tạng mình, cái số mình chỉ được vào hạng thoang thoảng nhớ?
Hay là đành tự an ủi theo lối hơi nguỵ biện một chút, ví như khối anh yêu say đắm hẳn hoi mà lại rất đau khổ khi không nhớ được mặt người yêu vì "thấy em như thấy mặt trời/ chói chang khó ngó trao lời khó trao". Không nhớ cho nên mới phải lòng... mặt. "Gặp rồi lại nhớ là mình với ta"! (Xuân Diệu).
Hay là đành lôi mấy cây cổ thụ như Chế Lan Viên với chùm thơ "Tàu đến", "Tàu đi", "Cành phong lan biển"; Trần Mai Ninh với "Nhớ máu", "Tổ quốc"... hay đến đứt ruột mà không sao thuộc.

Ờ, lại còn mấy ông bậc thi hào, thi bá ở nước ngoài. Họ làm gì có lục bát, song thất, ngữ ngôn... để cho mình dễ thuộc?
Thế thì đành chỉ dừng ở mức nhớ. Nhớ tứ, nhớ tình, nhớ cái ý tưởng, cái tình huống nào đó rất đặc sắc, rất... thơ của các vị ấy chăng? ừ, không làm người ta thuộc được thì gắng mà làm người ta nhớ. Tất nhiên là nhớ cái hay chứ đừng bắt họ nhớ cái... không hiểu được và cũng không cảm nổi, nhớ cái... nhảm theo kiểu "Cố làm lạ câu thơ/ Lại tưởng là thơ lạ...". Thơ vốn "Không cần trò biến hoá/ Theo lối Tôn Ngộ Không/ Trước những câu thơ hay/ Vòng kim-cô tự gãy" (Trần Ninh Hồ).
Và chắc bạn đọc cũng không cần thuộc một cách cực đoan để lấy đó làm sung sướng như nhà thơ nọ: "Nghe phò đọc thuộc thơ ta/ Sướng hơn được giải gọi là Nô-ben!"... Được biết tác giả hai câu thơ này cũng là chỗ quen thân của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Toàn là những người đứng đắn cả mà không chịu bảo nhau. Chết thật!

*
Anh có thuộc típ người "ăn không ngon ngủ không yên" nếu như mỗi ngày không nghĩ ra được một bài thơ hay chí ít... một câu thơ?
* Cứ bình quân, lữ thứ với cuộc đời, 5 năm được một tập, tới nay tôi đã có gần chục tập thơ. Cũng không đếm có bao nhiêu bài, vì với văn chương, con số có lẽ không nói được gì nhiều. Hiện không ít người mắc bệnh... viết! Cứ mỗi ngày không vài chục trang com-pu-tơ hay không vài câu thơ vần điệu thì "ăn không ngon". Khổ thế!

*
Vẫn thấy anh kỳ cạch đạp xe hàng chiều để đến những chốn "quan -trường- bia- nhậu-chữ". Vậy cái bụng- chữ của anh liệu sắp tới sẽ cho ra đời những đứa con tinh thần ra sao?
* Đây là lúc tôi đang chuẩn bị trong đầu kế hoạch sưu tầm, biên soạn, nói đơn giản là nhặt nhạnh lại trên hàng ngàn trang báo đủ các kiểu viết, xem có gì đáng in thành sách.
Chốn "quan-trường-bia-nhậu-chữ"? Ô, những chốn ấy là nơi kích thích sức sáng tạo của nhiều tạng thơ. Nhưng hiện nay tôi chưa có tác phẩm mới nào đang phôi thai cả.
Trưa hôm kia tôi vừa bị một ông bạn viết nhã nhặn mời ra khỏi nhà vì cái tội trà rượu hơi lâu khiến ông cáu:
"Ám quá! Mọi hôm cứ nắng ra ba hàng gạch là đã xong một hai bài lục bát. Vậy mà hôm nay, ngọ rồi vẫn chưa được dòng nào. Ám quá!".
Tôi đành tợp nốt chén rượu rồi lủi thủi đi. Thương thay Nàng Thơ! Thương thay Tôi! Nhưng đến ám làm vỡ "kế hoạch sáng tác" của người ta, đuổi là phải!

* Còn những kỷ niệm đẹp trong đời thơ Trần Ninh Hồ?
* Những kỷ niệm đẹp trong đời thơ của tôi ư? Nhiều lắm. Những kỷ niệm thật cũng có, mà những kỷ niệm...  tưởng tượng ra cũng có.

*
Kỷ niệm tưởng tượng?
* Đúng vậy! Đôi khi chúng ta đi qua hiện thực mà vẫn không nắm bắt được sự thật của nó. Hoặc nắm bắt quá tinh xảo, đi trước cả hiện thực. Và thế là nhà thơ tưởng tượng ra theo cách của mình, trong một tầng ngữ nghĩa nào đó.
Nhưng tôi chưa nói hết.
Lại có những kỷ niệm gắn với nhiều người rất nổi tiếng, do nhiều năm được phục dịch quanh quẩn ở các cơ quan trung ương Chính phủ, trung ương Hội Nhà văn. Các vị ấy nay phần lớn đã quy tiên. Vị nào còn thì do tuổi tác, lẫn lắm. Kể lại bây giờ không ai tin, lại còn mang tiếng là tự đánh bóng mình, thấy người sang bắt quàng làm... bạn.
Còn kỷ niệm với những độc giả và bạn văn cùng lứa, những độc giả và bạn văn còn duyên dáng xinh tươi thì... vợ tôi người Hà , chưa già, lại thật thà và hay cả nghĩ lắm.
Vậy nên xin khất nhé.

Võ Thị Xuân Hà thực hiện
(nguồn: TCSH Số 238 - 12- 2008)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Vậy mà, đã hơn 50 năm, từ những năm tháng trẻ tuổi… Huế, ngày ấy đã xa. Đã là kỷ niệm. Đã mất đi nhưng vẫn không ngừng sinh nở. Như những câu thơ, một thời…

  • Việt Đức - Võ Quê - Phạm Xuân Phụng - Nguyễn Thiền Nghi - Nguyễn Văn Vũ - Lê Phùng - Thùy Phương - Trần Băng Khuê

  • Trại sáng tác văn học với chủ đề “Vinh Xuân - Mùa biển gọi” do Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế phối hợp với UBND xã Vinh Xuân tổ chức, diễn ra trong thời gian từ ngày 3/5 đến ngày 10/5/2024, gồm 14 nhà văn, nhà thơ và 1 nhạc sĩ khách mời, đã cho ra đời 58 tác phẩm.

  • DƯƠNG PHƯỚC THU

    Ngày 18/9/1945, tại số 43 đường Trần Hưng Đạo, thành phố Thuận Hóa, Liên đoàn Văn hóa cứu quốc Thừa Thiên - tiền thân của Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế ngày nay được thành lập.

  • CHU SƠN

    Cuối năm 1963 tôi từ Hội An ra Huế để nhận lại tập thơ Quê Nhà và giấy phép xuất bản tại nha thông tin Trung Việt.

  • TRẦN DZẠ LỮ

    Gần một đời người làm thơ, sống giữa Sài Gòn với bao nhiêu thăng trầm dâu bể, có những ngày đói rách, lang thang. Bạn bè thì nhiều, có kẻ nhớ người quên sống khắp cùng đất nước, nơi đâu cũng để lại trong tôi ít nhiều kỷ niệm.

  • (SHO) Những người tôi gặp ở Huế trẻ hay già thường ngưỡng mộ anh là Thầy, một vị Thầy của môn âm nhạc, của tiếng, của lời, thân hay sơ mỗi người đều như chịu ít nhiều ân huệ của anh.  Nhưng thoạt mơ hồ tôi hiểu danh hiệu ấy khác hơn khi được ngồi với anh, bên bàn cơm, khi vui ca, khi đi dạo, khi nghe anh hát, khi thấy anh ngồi yên giữa bạn bè, anh hiện ra là vị Thầy bên trên âm nhạc... 

  • Mặc dù được các bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng GS-TS Trần Văn Khê đã vĩnh viễn ra đi vào lúc 2 giờ 55 phút ngày 24.6. Ông thọ 94 tuổi.

  • LTS: Ngày 17-7-1988 nhà thơ THANH TỊNH đã qua đời tại Hà Nội sau một cơn bệnh nặng, thọ 77 tuổi. Tưởng niệm nhà thơ, người anh người đồng nghiệp đáng kính của anh em văn nghệ sĩ Bình Trị Thiên, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của anh Hoàng Trung Thông và đoạn trích trong Điếu văn đọc tại lễ tưởng niệm nhà thơ tại trụ sở Hội văn nghệ B.T.T ngày 19-7-1988.

  • DƯƠNG THỊ NHỤN

    Tôi biết nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua chị Dung là hàng xóm cũ của tôi những năm 90 của thế kỉ trước. Chị Dung là cháu ruột lại gần nhà ông ở phố Điện Biên Phủ nên rất thân thiết với ông. Tôi chỉ nghe chuyện và đọc truyện của nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua chị Dung.

  • LGT: Thúc Tề và Trần Kim Xuyến là hai nhà báo có nhiều đóng góp cho cách mạng Việt Nam. Một vấn đề đặt ra là: trong hai nhà báo liệt sĩ nói trên, ai mới đúng là “Nhà báo liệt sĩ đầu tiên của báo chí cách mạng Việt Nam?”. Nhiều ý kiến công nhận nhà báo Trần Kim Xuyến là nhà báo liệt sĩ đầu tiên, trong khi các tư liệu lại cho chúng ta thấy Thúc Tề mới đúng là nhà báo liệt sĩ đầu tiên.

  • TÔ NHUẬN VỸ

    Trong số bạn bè thân tình của tôi, Ngô Minh rất “lạ”. Lạ đầu tiên là… nhỏ thó. Người thấp bé, tròn vo, tròn vo từ mấy chục năm ni luôn, chừ lại suốt ngày (e cả suốt đêm) ngồi máy tính viết bài.

  • Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác giả của những tác phẩm nổi tiếng như: Nhằm thẳng quân thù mà bắnThuyền trưởngRừng xưa xanh lá ;Kiếp chóNhững người rách việc; Chuyện kể năm 2000... đã qua đời vào lúc 6 giờ sáng ngày 18.12. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934 tại Thủy Nguyên, Hải Phòng. Ông bước vào sáng tác văn chương từ năm 20 tuổi và đã có một bút lực dồi dào để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị.

  • Nguyễn Hữu Đang sinh năm 1913 , quê  làng Trà Vi, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Ông tham gia Hội Sinh viên thị xã Thái Bình thuộc Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và bị Pháp bắt vào cuối năm 1930 và bị giam hai tháng rưỡi tại thị xã Thái Bình.

  • Thi sĩ Kiên Giang là tác giả những bài thơ nổi tiếng Hoa trắng thôi cài lên áo tím, Tiền và lá, Ngủ bên chân mẹ… Ông cũng là soạn giả của những vở cải lương quen thuộc như Áo cưới trước cổng chùa, Người vợ không bao giờ cưới, Lưu Bình - Dương Lễ, Trương Chi - Mỵ Nương và hàng trăm bản vọng cổ. Như người bạn văn tâm giao Sơn Nam và thi sĩ đàn anh Nguyễn Bính, Kiên Giang cả một đời phiêu bạt sống rày đây mai đó, cho đến khi trái tim đột ngột ngừng đập”...

  • Ở tuổi 89, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý - tác giả của ca khúc nổi tiếng "Dư âm" sống nghèo túng, bệnh tật và cô đơn trong căn nhà nhỏ giữa lòng Sài Gòn.

  • NGÔ ĐÌNH HẢI

    Nhà văn Trần Áng Sơn sinh ngày 12/7/1937 tại Hải Phòng, lớn lên ở Huế, trưởng thành ở Sài Gòn, mất ngày: 18/5/ 2014.

  • QUANG VIÊN

    Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là vị tướng tài năng và đức độ. “Ông là một danh tướng, một nhà chính trị và nhà quân sự lỗi lạc” - Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt thốt lên khi nhớ về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh như vậy. Trong cuộc sống tình cảm gia đình, cũng như ứng xử với văn hóa văn nghệ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng hết sức chí tình, có những việc làm rất đáng khâm phục. Nhà thơ Tố Hữu đã viết về ông rất hay: “Sáng trong như ngọc một con người”…