NGUYỄN NHÃ TIÊN
Chưa bao giờ tôi được lội bộ đùa chơi với cỏ thỏa thích như bao lần khai hội Festival ở Huế. Đêm, giữa cái triều biển người nối đuôi nhau từ khắp các ngả đường hướng về khu Đại Nội, tôi và em mồ hôi nhễ nhại, hai đôi chân rã rời, đến nỗi em phải tháo giày cầm tay, bước đi xiêu lệch.
Khúc sông quê. Ảnh: Nguyễn Văn Dũng
Vậy mà cứ ham hố bước, cả hai luyên thuyên nói cười, ngớ ngẩn, tưởng như cỏ trên công viên ven bờ sông Hương biết nâng mình bay bổng, tưởng như những con đường Lê Lợi dài ra, Trần Hưng Đạo cũng dài ra, và cầu Phú Xuân thì thăm thẳm bến bờ. Dường như đêm Festival Huế có một hấp lực đến độ làm người ta dễ quên đi sự hiện hữu để hò reo đuổi bắt cùng những giấc mơ. Cũng có thể là Huế có một quyền lực siêu nhiên ban phát cho ta một thứ men tình yêu diệu kỳ. Thứ men tỏa ra từ những linh hồn, giác hồn cây lá, từ hoa bướm, thổ nhưỡng, dòng sông... Tất cả hòa quyện nhau thành một thứ diệu lực có khả năng nuôi dưỡng sức vóc cho những bàn chân lứa đôi lãng mạn bước tới tận... chân trời.
Hầu như đêm khai mạc Festival nào ở Huế cũng giàu có những chương trình. Trống hội Thăng Long, nghệ sĩ các nước tham gia chào khán giả bằng các vũ điệu và âm nhạc đặc trưng của từng dân tộc. Làm sao có thể chia thân ra để một đêm vừa trong vườn Nội Phủ, vừa trong Duyệt Thị Đường, lại vừa ở Thái Bình Lâu, hoặc còn nhiều sân khấu khác tưng bừng giữa hoàng cung. Làm sao để tai mắt ta có dịp no say các màn quảng diễn nghệ thuật từ bốn phương hội tụ về Huế. Không thể chia thân đi khắp mọi nơi, nên tôi và em bỗng tìm ra một thú vui: lội bộ lòng vòng cùng Festival Huế. Lội bộ và mặc tình cho ý tưởng la đà với sông nước và cỏ xanh, với bao nhiêu là dát vàng dát bạc như loài ngọc khoáng ánh lên trên nền trời cơ hồ nói với ta về những giấc mơ không hồi kết thúc. Cầu Trường Tiền chưa bao giờ lộng lẫy sắc màu như đêm nay. Có vẻ như người nghệ sĩ thiết kế tạo nên những sắc màu hàm ý muốn biến hóa một chiếc cầu thực nối hai bờ Nam - Bắc sông Hương thành một chiếc cầu hư ảo, một chiếc cầu bảy màu. Một chiếc cầu siêu thực trong thơ: “Làm gì Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp/ Tôi bước hoài đếm không xiết mênh mông” (NNT).
Đi trong đêm Festival Huế rồi em cũng thành... mênh mông nốt. Lúc thì như giọt sương trên cỏ, khi thì em rêu xanh như cổ tích hiện về. Lẽ ra tôi phải cầm chặt tay em tung tăng theo dọc con đường bờ sông, và tin đó như một thực tại máu xương - đêm nay em và Huế là có thực. Vậy mà, không biết vì lơ đễnh, hay vì tin vào một thứ ảnh ảo huyền nhiệm nào đó đã làm nên cơn say hoan lạc dẫn tôi đi lớ ngớ ngược xuôi, xóa nhòa biên giới mọi con đường. Hình như em cũng thế, mặc tình nghễnh ngãng nô đùa với cỏ, rồi chạy ào xuống bờ sông, săm soi cái rừng chong chóng được xếp bằng giấy cắm đầy dọc theo bờ. Lũ chong chóng cũng ngộ nghĩnh như bầy trẻ thơ dại, cánh xoay tròn hồn nhiên cùng cơ man những gió và gió. Nghệ thuật sắp đặt nào đó sẽ chết nếu như thiếu đi giống loài gió thổi hoang dại như thế, nếu như thiếu đi một dòng sông Hương đầy ắp huyền thoại biết hớp hồn người như thế, nếu như thiếu đi một tình yêu cao cả biết đốt cháy mình tận hiến cho cái đẹp như thế. Tôi không rõ lắm, có phải vì tình yêu mà sinh ra lễ hội hay không, nhưng chắc rằng, từ lễ hội, sẽ có vô vàn những tình yêu được sinh khai. Và chính nó mới là phần linh hồn hằng cửu nuôi sống lễ hội, tươi xanh và ngát hương trong mọi tâm thức con người.
Dường như đêm Festival Huế, đêm của cuộc hội ngộ Đông - Tây kỳ vĩ, của rừng người khắp mọi nơi hội tụ về cùng Huế thức không ngủ. Thức mộng mị hay là thức chung nhau một giọng nói phúng dụ, mang âm sắc của tất thảy huyền thoại để mọi niềm cảm xúc trào dâng thành một thứ ngôn ngữ chung. Chính những khoảnh khắc vi diệu ấy, mỗi thực thể đơn lẻ bị phân tán trong sức cộng hưởng âm vang của hạnh phúc. Tôi đã đọc được thứ hạnh phúc mang mầu sắc lễ hội ấy (cũng có khi là tôn giáo, xứ sở, lý tưởng) vào một sớm mai tinh mơ tại sân ga Đà Nẵng, đã hiện lên trong từng ánh mắt của hàng trăm nam nữ trai trẻ háo hức bước lên tàu đi Huế cho kịp đêm khai mạc Festival. Và, giờ đây tôi đang đọc trong bao la mắt em sự hoan ca của niềm hạnh phúc đó. Đấy cũng có thể nói là thứ lửa dẫn đường cho mọi cuộc lãng du hoan lạc cùng những giấc mơ phía chân trời. Đi mà nhẹ như gió, đi mà quên đôi bàn chân trụi trần trên cỏ, quên luôn vóc dáng mình liêu xiêu đẫm ướt mồ hôi. Mất hút giữa Huế rồi, tan giữa lòng Huế rồi mà vẫn còn đi tiếp.
Không phải ai cũng được giáp mặt hết thảy những sân khấu trong Đại Nội để được thưởng thức hầu hết các chương trình biểu diễn nghệ thuật. Để no say con mắt xem “đám cưới ngày xưa”, hoặc một phiên chợ quê nào đó, hoặc một phố ẩm thực ở đâu đó. Dòng sông người trên các đường phố cứ trôi đi cùng với nhịp điệu thời gian, tưởng chừng như chạm tay vào được. Có vẻ như hơi thở của những tâm hồn đang ca múa kia, tất cả lẫn vào gió thổi, vào hoa đèn, hòa quyện vào những đôi mắt làm nên một thứ ánh sáng đầy ắp sự huyền hoặc. Hình như có những bước chân lạc ngõ lạc đường nhưng lại chẳng hề hay biết mình bước lạc chút nào. Những con đường thần thoại hoang đường đê mê từng bước bàn chân cứ như thế trôi về... vô tận! Mọi ý niệm về thời gian tuồng như không có mắt nơi này.
Bước đi một cách phiêu bồng như thế đó, nên cứ lòng vòng đêm Festival Huế, nhiều khi lui tới chỉ một con đường, chỉ loanh quanh một vạt cỏ, vậy mà cứ thấy là lạ, cứ thấy Huế đẹp ra, vừa mơ hồ lại vừa bí ẩn. Con mắt tôi có nhầm chăng mà sao đi giữa Huế thấy em đẹp gấp nghìn lần, thơ dại gấp nghìn lần. Có cảm giác như em và tôi thần kinh đều căng ra như những sợi dây đàn, chỉ cần một chiếc lá rơi vô tình, hay một sợi tóc bay qua vô tình chạm vào là dễ dàng gióng lên xao xuyến bao cung bậc. Hình như tôi đã đọc đâu đó nói đến ý niệm này: trước mọi chấn động vô bờ, tư tưởng sẽ lặng câm. Không biết có phải thế không, nhưng quả là lúc này đây, những âm thanh tự nội liên hồi động vọng, liên hồi thành sóng vỗ trong tôi. Và em cũng vậy, lúc thì dào dạt chừng như đua với cỏ mà hồn nhiên, khi thì con mắt lãng mạn thôi thúc như muốn vói tay ôm vào lòng giống loài ngọc khoáng bồng bềnh trên sông.
Ngày mai, ngày kia, rồi chúng ta sẽ chia tay Huế như bao lần chia tay khác. Và thời gian lại ra đi cùng cái nhịp điệu chuyển dịch lở bồi muôn thuở. Có điều thời gian sẽ khó mà tước đoạt của chúng ta một khi Huế đã tan vào, thấm vào tâm hồn như một thực thể máu xương xanh tươi cùng ký ức. Biết vun đắp ký ức cũng là cách biết gìn giữ Huế. Cho dù là vun đắp một “Khúc tưởng niệm” như tên gọi một vở vũ kịch của nữ biên đạo Ea Sola từng góp mặt cùng Festival Huế. Chính người nghệ sĩ tài hoa này đã gieo vào ký ức nhân loại từ cánh đồng Việt Nam qua những vở vũ kịch “Hạn hán và cơn mưa”, hoặc “Ngày xửa ngày xưa”. Huế rồi sẽ vun đắp cho tôi đêm nay, đêm có em hồn nhiên tháo giày cầm tay lội bộ, rượt đuổi cùng dòng sông Hương như chạy ngược về một thời tuổi thơ xa lắc. Đó là một tiết mục không hề có trong các chương trình lễ hội Festival Huế ngợp đầy ánh sáng, mà chỉ là cọng cỏ cành sương thấm đẫm vào tâm hồn tôi thơm lừng cỏ dại Huế ơi!
N.N.T
(SHSDB39/12-2020)
Sau khi hoàn tất bản thảo tập thơ Độc Hành thì nhà thơ Hải Bằng cũng “độc hành” về chốn vĩnh hằng vào ngày 7 tháng 7 năm 1998.
CÁT LÂM
Bình đẳng giới, nữ quyền, những vấn đề tưởng như mới mẻ ở nước ta nhưng thực chất vấn đề này đã được luận bàn từ những năm đầu của thế kỷ XX.
NGUYỄN QUANG HÀ
Ghi chép
Trước, và ngay cả khi vừa giải phóng, vào lúc gần tối, nếu có một người khách nào đón đường gọi xe thồ, xe xích lô xin về làng Thế Lại, thì sẽ bị chủ xe lắc đầu ngay. Bởi chủ xe sợ một điều này: có đi mà không có về. Hoặc ít nhất là cũng về hai tay trắng.
NGUYỄN QUANG HÀ
Trong kháng chiến chống Mỹ, huyện Quảng Điền ở mãi dưới sâu, phải mượn địa bàn của xã Phong Sơn huyện Phong Điền làm chiến khu.
NGUYỄN QUANG HÀ
Ngoảnh đi ngoảnh lại, vừa mới đó, vậy mà đã 100 số Sông Hương trình làng.
PHẠM HỮU THU
Ghi chép
Ngót nửa thế kỷ trôi qua, từ những chàng trai, cô gái giờ họ đã là những ông, những bà.
NGUYỄN QUANG HÀ
Hồi ký
NGUYỄN QUANG HÀ
Năm 1947 có hai chiến sĩ được cử về công tác tại chiến khu Ba Lòng. Đó là Trần Quốc Tiến, quê Quảng Trị và Hải Bằng, quê Thừa Thiên.
BẠCH DIỆP
Bút ký
Tôi từng là đứa con nít mê chuyện cổ tích và trò chơi bán đồ hàng. Khi bọn trẻ cùng lứa đánh khăng tập trận, chạy băng vườn cải mụ Tép, vượt rào bứt dưa hấu nhà ông Phường, phá nát ụ rơm cậu Dưỡng, thì tôi vẫn ngồi yên nghe ngoại kể chuyện. Chỉ có trò họp chợ, chơi mua bán với các dì mới rứt tôi ra khỏi ngoại.
NGUYỄN QUANG HÀ
Hồi ký
Mùa mưa 1968 là mùa mưa nghiệt ngã nhất. Sau trận càn lớn chưa từng có lên miền tây Thừa Thiên, địch tiếp tục phong tỏa miền núi bằng biệt kích.
NGUYỄN KHẮC PHÊ
Ghi chép
Từ mùa xuân năm ấy đến nay vừa tròn 30 năm, chẳng phải vì con số tròn ba thập kỷ mà tôi nhắc lại chuyện cũ. Chỉ vì từ mùa xuân năm ấy, cuộc đời tôi có một bước ngoặt mới và nhờ có mùa xuân năm ấy, cuốn sách đầu tay của tôi đã ra đời.
HỒ THANH THOAN
Đã gần 34 năm nay chúng ta không còn nghe đến tên Đoàn kịch nói Bình Trị Thiên nữa, chuyện đã trở về dĩ vãng của một thời vàng son.
CHÂU PHÙ
Thảo Am Nguyễn Khoa Vy (1881 - 1968) sinh ra trong một gia đình danh gia vọng tộc ở Huế, tinh thông Nho học và chữ Pháp. Cụ cùng Ưng Bình Thúc Giạ Thị thành lập Hương Bình thi xã và giữ vai trò phó soái của thi xã này.
LỆ HẰNG
Bút ký dự thi
"Bánh lọc em ơi! Bánh mới hấp xong, nóng hổi luôn nì, lấy giùm chị ít chục hí?”
NGUYỄN KHẮC PHÊ
Mấy năm trước, trong dịp cùng lên thăm vườn An Hiên của bà Nguyễn Đình Chi, nhà văn Nguyễn Đắc Xuân đã giới thiệu cho tôi biết cụ Sa Giang Đào Thái Hanh (thân phụ của bà Nguyễn Đình Chi, tức bà Đào Thị Xuân Yến) có tập thơ "Ái Châu danh thắng" (trong "Mộng Châu thi tập") được các danh nho đương thời đánh giá rất cao.
NGUYỄN QUANG HÀ
Bút ký
BẠCH DIỆP
Bút ký dự thi
Tôi uống chậm, từng ngụm nhỏ.
VIỆT HÙNG
Ký
Tuổi hai mươi tràn trề hoài bão lớn và tuổi hai mươi... Ở thời đại nào cũng được coi là lứa tuổi hồn nhiên trong sáng, ấp ủ bầu nhiệt huyết, khát khao làm được cái gì có ích cho đời.
HỒ ĐĂNG THANH NGỌC
Ghi chép
Trời bỗng nhiên mưa, những cơn mưa cuối cùng của mùa mưa rét đậm. Với tôi, hình như mưa bao giờ cũng là cánh cửa mở cho những vũ khúc hoài niệm ùa về.
LỆ HẰNG
Bút ký dự thi
“Thấu Huế rồi.”