ĐẶNG NHẬT MINH
Anh Trần Đăng Nghi trên tôi 7 tuổi, thuộc thế hệ các dì các cậu tôi ở Huế. Tôi biết anh qua dì tôi, bác sĩ Nguyễn Ngọc Toản và ông anh họ tôi là kỹ sư Lê Đình Cát, những người bạn chí thân của anh từ thuở cắp sách đi học ở Huế cho đến khi đã về già.
Chân dung Trần Đăng Nghi lúc 25 tuổi - Ảnh: baothuathienhue
Ở Hà Nội, hồi anh còn ở trên phố Phan Chu Trinh gần nhà tôi ở phố Hàn Thuyên thỉnh thoảng tôi có dịp qua lại gặp anh và mỗi lần như thế tôi đều có cảm giác như gặp người thân trong gia đình. Nhưng từ khi anh chuyển sang ở khu đô thị Long Biên bên kia sông Hồng sau một lần tai biến thì tôi không còn dịp gặp anh nữa, trừ một lần duy nhất và cũng là lần cuối cùng trước khi anh chuyển hẳn vào Thành phố Hồ Chí Minh để ở với con trai. Lần ấy anh gọi điện trước cho tôi rồi đi xe buýt từ Long Biên sang nhà tôi chỉ để yêu cầu tôi ký vào cuốn Hồi ký điện ảnh của tôi mà anh đã mua từ hiệu sách. Tôi ân hận vì chưa kịp tặng anh sách nay lại để anh phải lặn lội sang nhà tôi để lấy chữ ký. Nhưng anh không trách gì tôi trái lại rất vui khi gặp tôi và cho biết anh thích cuốn hồi ký đó, đọc đi đọc lại nó nhiều lần. Không biết duyên cớ nào mà sau khi anh Nghi mất đúng một tuần tôi nhận được thư của chị Đạm Thư vợ anh từ Thành phố Hồ Chí Minh gửi ra yêu cầu tôi viết lời tựa cho cuốn Hồi ký của anh sắp xuất bản, kèm theo bản thảo cuốn Hồi ký đó. Tôi không nghĩ đây là một sự tình cờ ngẫu nhiên mà như có một sự sắp xếp vô hình nào đó rất đỗi linh thiêng khiến tôi không dám từ chối và dĩ nhiên tôi liền đọc ngay những dòng hồi ức nóng hổi của anh do chị Đạm Thư ghi lại. Thật may mắn cho chúng ta trước khi đi xa anh đã kịp kể để chị Thư ghi lại những gì đã đến với cuộc đời sôi động của anh, nếu không chúng ta không hay biết gì về anh cả, ngay đến cả chị Thư vợ anh từng nói với tôi chị cũng không biết hết về anh, bởi anh là người không hay nói về mình. Anh chỉ lặng lẽ sống và làm việc với phẩm giá và nhân cách được hun đúc từ thuở thiếu thời khi tham gia vào đội Sói con của Hướng đạo sinh ở Huế. Rồi anh đến với cách mạng, tham gia Việt Minh, hoạt động bí mật trong nội thành như một lẽ tự nhiên của một người thanh niên “thời loạn” biết chọn cho mình một chỗ đứng. Cả cuộc đời anh là một chuỗi những sự lựa chọn và sự lựa chọn nào cũng hết sức chính xác. Một trong những sự lựa chọn đó là năm 1956 anh quyết định trở về nước sau 6 năm du học ở Paris, khi ra trường có một công việc làm với mức lương mà nhiều người phải mơ ước. Nhiều bạn bè can ngăn nhưng anh đã quyết không gì thay đổi. Anh nói với họ:
- Tôi mà ở lại thì sau mấy năm làm việc lại như mọi người làm công ăn lương kha khá, mua sắm xe ô tô, rồi mua nhà trả dần, lấy vợ sinh con, an phận thủ thường.
Trong cái quyết định này của anh tôi thấy có gì giống với quyết định của cha tôi Giáo sư Đặng Văn Ngữ năm 1949 khi rời Tokyo về nước tham gia kháng chiến chống Pháp. Trong con người anh tôi nhận ra rất nhều điểm tương đồng với cha tôi. Cũng người Huế, cũng du học ở nước ngoài rồi theo tiếng gọi của trái tim, từ giã mọi tiện nghi vật chất, đem kiến thức học được để về nước làm những gì có ích cho nhân dân mình… Cũng trải qua biết bao trần ai, nghi kỵ với những dấu hỏi luôn lơ lửng trên đầu những người trở về từ những nước không phải phe ta. Nhưng rồi họ vẫn vượt lên tất cả để góp phần cống hiến vào sự nghiệp chung.
Đọc xong hồi ký của anh Trần Đăng Nghi tôi bỗng nhớ mấy câu thơ của nhà thơ Nga Eptusenco do nhà thơ Bằng Việt, dịch ra tiếng Việt:
Chẳng có ai tẻ nhạt ở trên đời
Mỗi số phận chứa một phần lịch sử
Mỗi số phận rất riêng, dù rất nhỏ
Chẳng hành tinh nào đã sánh nổi đâu!
… …
Dẫu anh sống chỉ một đời lặng lẽ
Quen với cái lặng thinh không tô vẽ cho mình
Thì lại chính cái lặng thinh nhường ấy
Biến anh thành đáng nhớ với xung quanh!
Quy luật thiên nhiên thẳng thừng khắc nghiệt,
Mỗi con người ra đi - một thế giới mất đi,
Ta hay nhớ bề ngoài từng đặc điểm trần gian,
xương thịt!
Nhưng thực chất sâu xa, ta nắm bắt được gì?
Cho đến anh em, ruột thịt, bạn bè
Đến cả cha mẹ mình, cả người yêu duy nhất,
Chúng ta tưởng biết kỹ càng, sâu sắc,
Nhưng thử hỏi thực tình, ta đã biết gì đâu…
Thật vậy. Mỗi số phận đều chứa một phần lịch sử và mỗi con người ra đi là một thế giới mất đi. Cuộc đời của Trần Đăng Nghi chứa đựng một phần lịch sử của một thế hệ trí thức Việt Nam từng đồng hành với dân tộc mình qua bao thăng trầm của nó. Thế giới của Trần Đăng Nghi là một thế giới đầy ắp trách nhiệm, lòng yêu thương con người và triết lý sống mình vì mọi người. Thực tình ta sẽ chẳng biết gì về anh nếu không có những trang hồi ký này do anh tự thuật lại.
Tôi là thế hệ đàn em nên không có nhiều kỷ niệm với anh như các dì các cậu tôi. Kỷ niệm sâu sắc mà tôi còn giữ cho đến nay là lần anh kể cho nghe câu chuyện sau:
Đầu giờ học ngày 8 tháng 5 năm 1954, ngay sau ngày Pháp thất thủ ở Điện Biên Phủ, tại Đại học Paris, nơi anh Nghi đang theo học, giáo sư bước vào giảng đường đề nghị tất cả sinh viên đứng dậy mặc niệm cho những người lính Pháp đã tử trận. Cả lớp đứng dậy, riêng anh Nghi vẫn ngồi im. Khi mọi người ngồi xuống, giáo sư gọi anh đứng lên hỏi lý do tại sao anh vẫn ngồi. Anh Nghi đáp: Nếu ông nói để mặc niệm cho tất cả những người đã ngã xuống ở Điện Biên Phủ thì tôi sẽ đứng dậy. Giáo sư bị bất ngờ, lặng đi một lát rồi nói: Vous avez raison (Anh có lý). Câu chuyện đó đối với tôi như một biểu hiện của nhân cách và lòng tự trọng.
Buồn cười thay cái người sinh viên bướng bỉnh ngày ấy, 60 năm sau lại được nước Pháp tặng thưởng Huân chương Cành cọ Hàn lâm về công lao giảng dạy tiếng Pháp ở Việt Nam, một công việc mà anh say sưa làm trong những năm cuối đời sau khi đã nghỉ hưu ở nhà máy cao su Sao Vàng. Nước Pháp vẫn là nước Pháp, quê hương của những tư tưởng Tự do - Bình đẳng - Bác ái mà Trần Đăng Nghi đã hấp thu được từ trên ghế nhà trường. Có thể nói con người Trần Đăng Nghi được hun đúc bởi những nguyên tắc sống của một hướng đạo sinh luôn trung thực, căm ghét sự giả dối, được hun đúc bởi lòng yêu nước truyền thống của cha ông, cùng những tư tưởng cao cả của Cách mạng Pháp, ngoài ra không có gì khác. Anh mãi mãi là một người như bạn bè thường nói vui: một “Bôn sê vích” ngoài đảng, một “bạch vệ”… nhưng là người luôn trung thành với những lẽ sống mà mình đã chọn, thủy chung với bạn bè và cả người tình nữa… như chị Đạm Thư vợ anh từng nhận xét. Những người như thế ngày càng hiếm trên cõi đời này, họ lần lượt ra đi để lại những khoảng trống không gì bù lấp được.
Đ.N.M
(TCSH352&SDB29/06-2018)
50 năm ngày mất Giáo sư Đặng Văn Ngữ
ĐẶNG NHẬT MINH
Nhân 110 năm ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC (1907 - 2017)
TRẦN VIẾT NGẠC
NGUYỄN HOÀNG THẢO
Trước khi có chợ, bên ngoài cửa Ðông Ba (cửa Chánh Đông) dưới thời vua Gia Long có một cái chợ lớn mang tên “Qui Giả thị” - chợ của những người trở về.
NGUYỄN KỲ
Cuộc vận động tranh cử và “đấu tranh nghị trường” trong thời kỳ 1936 - 1939 do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo là một bộ phận đặc biệt trong cuộc đấu tranh vì quyền dân sinh dân chủ ở Việt Nam.
DÃ LAN NGUYỄN ĐỨC DỤ
Thú thật với độc giả, một trong những điều vui thú nhất của tôi - cho tới nay tôi vẫn say mê - là sưu tầm khảo cứu về Phổ trạng (tức là lai lịch, nguồn gốc...) của các nhân vật lịch sử như Ngô Quyền, Nguyễn Xý, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Phạm Ngũ Lão, Phạm Sư Mạnh...
LÂM QUANG MINH
Tôi không có vinh dự như nhiều anh chị em cán bộ, dũng sĩ từ miền Nam ra Bắc công tác, học tập hay chữa bệnh, được trực tiếp gặp Bác Hồ, được Bác ân cần động viên dạy bảo, được cùng ngồi ăn cơm với Bác, được Bác chia bánh chia kẹo... như người cha, người ông đối với các con cháu đi xa về.
THANH HẢI
Hồi ký
Tháng 10 năm 1962, tôi được vinh dự đi trong đoàn đại biểu mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc. Lần đó một vinh dự lớn nhất của chúng tôi là được gặp Hồ Chủ Tịch.
Giáo sư Bửu Ý, tên đầy đủ là Nguyễn Phước Bửu Ý, sinh năm 1937 tại Huế. Ông vừa là nhà giáo, nhà văn, vừa là dịch giả của các tiểu thuyết nổi tiếng như Nhật kí của Anna Frank, Đứa con đi hoang trở về, Bọn làm bạc giả của André Gide, Con lừa và tôi của Juan Ramón Jiménez; Thư gửi con tin của Antoine de Saint-Exupéry… đăng trên các tạp chí Mai, Văn, Diễn đàn, Phố Văn (trước 1975).
I. Nhớ hơn bốn mươi năm về trước, vào khoảng đầu mùa đông năm 1974 - mùa dỡ củ dong riềng - tôi đi chợ Chũ (Lục Ngạn), mua được tập truyện Khúc sông. Trên lối mòn đường rừng, bước thấp bước cao, tôi vừa đi vừa tranh thủ đọc. Ngày ấy, tôi chỉ biết tên tác giả là Nguyễn Thiều Nam, nào có biết đẳng cấp của ông trong làng văn ra sao!
Sinh thời, cha tôi – họa sỹ Trịnh Hữu Ngọc, hầu như không bao giờ nhắc đến những năm học vẽ ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (MTĐD).
HỒ QUỐC HÙNG
(Thân mến tặng các bạn lớp Văn K9 - Đại học Tổng hợp Huế)
Ai cũng có kho ký ức riêng cho chính mình như một thứ tài sản vô hình. Ký ức lại có những vùng tối, vùng sáng và lúc nào đó bất chợt hiện lên, kết nối quá khứ với hiện tại, làm cho cuộc sống thêm ý vị.
TRẦN VĂN KHÊ
Hồi ký
Có những bài thơ không bao giờ được in ra thành tập.
Có những bài thơ chỉ còn ghi lại trong trí nhớ của tác giả và của đôi người may mắn đã được đọc qua một đôi lần.
Ngắm nhìn vẻ đẹp tinh khiết của cô nữ sinh Đồng Khánh dưới vành nón Huế, trong chiếc áo dài trắng tinh khôi, không ai nghĩ chỉ ít năm sau ngày chụp bức ảnh chân dung ấy, chị chính là nạn nhân của một chế độ lao tù tàn bạo và nghiệt ngã.
Trong quy hoạch một đô thị văn minh, vỉa hè là khoảng công cộng dành cho người đi bộ. Còn theo kiến trúc, vỉa hè là đường diềm, trang trí cho phố phường tạo ra sự hài hòa giữa đường và nhà mặt phố. Người Pháp đã làm những điều đó ở Hà Nội từ cuối thế kỷ 19.
TRẦN PHƯƠNG TRÀ
Hồi những năm 1950, làng Trúc Lâm quê tôi thuộc vùng du kích ven thành phố Huế.
QUẾ HƯƠNG
Ngày 15/7/2017 tới đây, ngôi trường hồng diễm lệ nằm cạnh trường Quốc Học, từng mang tên vị vua yểu mệnh Đồng Khánh chạm ngưỡng trăm năm.
THÁI KIM LAN
Trong những hình ảnh về ngày Tết mà tôi còn giữ được thời thơ ấu, thì Tết đối với tôi là Tết Bà, mà tôi gọi là Tết Mệ Nội chứ không phải Tết Mạ. Bởi vì mỗi khi Tết đến, cả đại gia đình chúng tôi đều kéo nhau lên nhà Từ đường “ăn Tết", có nghĩa quây quần chung quanh vị phu nhân trưởng tộc của dòng họ là bà nội tôi.
TRẦN VIẾT NGẠC
Báo Xuân xưa nay luôn là số báo đẹp nhất, phong phú nhất trong một năm. Bài vở số Xuân được tòa soạn đặt bài trước cho các cây bút thân quen, nổi tiếng từ mấy tháng trước.
NGUYÊN HƯƠNG
Trong đời, người ta ai cũng nên phải lòng một vùng đất. Cảm giác đó thật đặc biệt, giống như khi ta một mình đi đêm về sáng, bỗng gặp đóa hoa cô đơn thức sớm nở ngoài thềm, thấy thương.
BÙI KIM CHI
Tôi đã rất xúc động. Lòng rưng rưng bồi hồi khi tình cờ nghe được bài hát “Quê hương tuổi thơ tôi” của Từ Huy trong VCD họp mặt Đồng Hương Sịa lần đầu tiên ở Little Sài Gòn, Nam Cali…