Mỗi số phận chứa một phần lịch sử

09:17 21/06/2018

ĐẶNG NHẬT MINH   

Anh Trần Đăng Nghi trên tôi 7 tuổi, thuộc thế hệ các dì các cậu tôi ở Huế. Tôi biết anh qua dì tôi, bác sĩ Nguyễn Ngọc Toản và ông anh họ tôi là kỹ sư Lê Đình Cát, những người bạn chí thân của anh từ thuở cắp sách đi học ở Huế cho đến khi đã về già. 

Chân dung Trần Đăng Nghi lúc 25 tuổi - Ảnh: baothuathienhue

Ở Hà Nội, hồi anh còn ở trên phố Phan Chu Trinh gần nhà tôi ở phố Hàn Thuyên thỉnh thoảng tôi có dịp qua lại gặp anh và mỗi lần như thế tôi đều có cảm giác như gặp người thân trong gia đình. Nhưng từ khi anh chuyển sang ở khu đô thị Long Biên bên kia sông Hồng sau một lần tai biến thì tôi không còn dịp gặp anh nữa, trừ một lần duy nhất và cũng là lần cuối cùng trước khi anh chuyển hẳn vào Thành phố Hồ Chí Minh để ở với con trai. Lần ấy anh gọi điện trước cho tôi rồi đi xe buýt từ Long Biên sang nhà tôi chỉ để yêu cầu tôi ký vào cuốn Hồi ký điện ảnh của tôi mà anh đã mua từ hiệu sách. Tôi ân hận vì chưa kịp tặng anh sách nay lại để anh phải lặn lội sang nhà tôi để lấy chữ ký. Nhưng anh không trách gì tôi trái lại rất vui khi gặp tôi và cho biết anh thích cuốn hồi ký đó, đọc đi đọc lại nó nhiều lần. Không biết duyên cớ nào mà sau khi anh Nghi mất đúng một tuần tôi nhận được thư của chị Đạm Thư vợ anh từ Thành phố Hồ Chí Minh gửi ra yêu cầu tôi viết lời tựa cho cuốn Hồi ký của anh sắp xuất bản, kèm theo bản thảo cuốn Hồi ký đó. Tôi không nghĩ đây là một sự tình cờ ngẫu nhiên mà như có một sự sắp xếp vô hình nào đó rất đỗi linh thiêng khiến tôi không dám từ chối và dĩ nhiên tôi liền đọc ngay những dòng hồi ức nóng hổi của anh do chị Đạm Thư ghi lại. Thật may mắn cho chúng ta trước khi đi xa anh đã kịp kể để chị Thư ghi lại những gì đã đến với cuộc đời sôi động của anh, nếu không chúng ta không hay biết gì về anh cả, ngay đến cả chị Thư vợ anh từng nói với tôi chị cũng không biết hết về anh, bởi anh là người không hay nói về mình. Anh chỉ lặng lẽ sống và làm việc với phẩm giá và nhân cách được hun đúc từ thuở thiếu thời khi tham gia vào đội Sói con của Hướng đạo sinh ở Huế. Rồi anh đến với cách mạng, tham gia Việt Minh, hoạt động bí mật trong nội thành như một lẽ tự nhiên của một người thanh niên “thời loạn” biết chọn cho mình một chỗ đứng. Cả cuộc đời anh là một chuỗi những sự lựa chọn và sự lựa chọn nào cũng hết sức chính xác. Một trong những sự lựa chọn đó là năm 1956 anh quyết định trở về nước sau 6 năm du học ở Paris, khi ra trường có một công việc làm với mức lương mà nhiều người phải mơ ước. Nhiều bạn bè can ngăn nhưng anh đã quyết không gì thay đổi. Anh nói với họ:

- Tôi mà ở lại thì sau mấy năm làm việc lại như mọi người làm công ăn lương kha khá, mua sắm xe ô tô, rồi mua nhà trả dần, lấy vợ sinh con, an phận thủ thường.

Trong cái quyết định này của anh tôi thấy có gì giống với quyết định của cha tôi Giáo sư Đặng Văn Ngữ năm 1949 khi rời Tokyo về nước tham gia kháng chiến chống Pháp. Trong con người anh tôi nhận ra rất nhều điểm tương đồng với cha tôi. Cũng người Huế, cũng du học ở nước ngoài rồi theo tiếng gọi của trái tim, từ giã mọi tiện nghi vật chất, đem kiến thức học được để về nước làm những gì có ích cho nhân dân mình… Cũng trải qua biết bao trần ai, nghi kỵ với những dấu hỏi luôn lơ lửng trên đầu những người trở về từ những nước không phải phe ta. Nhưng rồi họ vẫn vượt lên tất cả để góp phần cống hiến vào sự nghiệp chung.

Đọc xong hồi ký của anh Trần Đăng Nghi tôi bỗng nhớ mấy câu thơ của nhà thơ Nga Eptusenco do nhà thơ Bằng Việt, dịch ra tiếng Việt:

Chẳng có ai tẻ nhạt ở trên đời
Mỗi số phận chứa một phần lịch sử
Mỗi số phận rất riêng, dù rất nhỏ
Chẳng hành tinh nào đã sánh nổi đâu!
… …
Dẫu anh sống chỉ một đời lặng lẽ
Quen với cái lặng thinh không tô vẽ cho mình
Thì lại chính cái lặng thinh nhường ấy
Biến anh thành đáng nhớ với xung quanh!
Quy luật thiên nhiên thẳng thừng khắc nghiệt,
Mỗi con người ra đi - một thế giới mất đi,
Ta hay nhớ bề ngoài từng đặc điểm trần gian,
xương thịt!
Nhưng thực chất sâu xa, ta nắm bắt được gì?
Cho đến anh em, ruột thịt, bạn bè
Đến cả cha mẹ mình, cả người yêu duy nhất,
Chúng ta tưởng biết kỹ càng, sâu sắc,
Nhưng thử hỏi thực tình, ta đã biết gì đâu…


Thật vậy. Mỗi số phận đều chứa một phần lịch sử và mỗi con người ra đi là một thế giới mất đi. Cuộc đời của Trần Đăng Nghi chứa đựng một phần lịch sử của một thế hệ trí thức Việt Nam từng đồng hành với dân tộc mình qua bao thăng trầm của nó. Thế giới của Trần Đăng Nghi là một thế giới đầy ắp trách nhiệm, lòng yêu thương con người và triết lý sống mình vì mọi người. Thực tình ta sẽ chẳng biết gì về anh nếu không có những trang hồi ký này do anh tự thuật lại.

Tôi là thế hệ đàn em nên không có nhiều kỷ niệm với anh như các dì các cậu tôi. Kỷ niệm sâu sắc mà tôi còn giữ cho đến nay là lần anh kể cho nghe câu chuyện sau:

Đầu giờ học ngày 8 tháng 5 năm 1954, ngay sau ngày Pháp thất thủ ở Điện Biên Phủ, tại Đại học Paris, nơi anh Nghi đang theo học, giáo sư bước vào giảng đường đề nghị tất cả sinh viên đứng dậy mặc niệm cho những người lính Pháp đã tử trận. Cả lớp đứng dậy, riêng anh Nghi vẫn ngồi im. Khi mọi người ngồi xuống, giáo sư gọi anh đứng lên hỏi lý do tại sao anh vẫn ngồi. Anh Nghi đáp: Nếu ông nói để mặc niệm cho tất cả những người đã ngã xuống ở Điện Biên Phủ thì tôi sẽ đứng dậy. Giáo sư bị bất ngờ, lặng đi một lát rồi nói: Vous avez raison (Anh có lý). Câu chuyện đó đối với tôi như một biểu hiện của nhân cách và lòng tự trọng.

Buồn cười thay cái người sinh viên bướng bỉnh ngày ấy, 60 năm sau lại được nước Pháp tặng thưởng Huân chương Cành cọ Hàn lâm về công lao giảng dạy tiếng Pháp ở Việt Nam, một công việc mà anh say sưa làm trong những năm cuối đời sau khi đã nghỉ hưu ở nhà máy cao su Sao Vàng. Nước Pháp vẫn là nước Pháp, quê hương của những tư tưởng Tự do - Bình đẳng - Bác ái mà Trần Đăng Nghi đã hấp thu được từ trên ghế nhà trường. Có thể nói con người Trần Đăng Nghi được hun đúc bởi những nguyên tắc sống của một hướng đạo sinh luôn trung thực, căm ghét sự giả dối, được hun đúc bởi lòng yêu nước truyền thống của cha ông, cùng những tư tưởng cao cả của Cách mạng Pháp, ngoài ra không có gì khác. Anh mãi mãi là một người như bạn bè thường nói vui: một “Bôn sê vích” ngoài đảng, một “bạch vệ”… nhưng là người luôn trung thành với những lẽ sống mà mình đã chọn, thủy chung với bạn bè và cả người tình nữa… như chị Đạm Thư vợ anh từng nhận xét. Những người như thế ngày càng hiếm trên cõi đời này, họ lần lượt ra đi để lại những khoảng trống không gì bù lấp được.

Đ.N.M  
(TCSH352&SDB29/06-2018)




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • BỬU Ý

    Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí) từng sống mấy năm ở Huế khi còn rất trẻ: từ 1928 đến 1930. Đó là hai năm học cuối cùng cấp tiểu học ở nội trú tại trường Pellerin (còn gọi là trường Bình Linh, thành lập năm 1904, do các sư huynh dòng La San điều hành), trường ở rất gần nhà ga tàu lửa Huế. Thời gian này, cậu học trò 17, 18 tuổi chăm lo học hành, ở trong trường, sinh hoạt trong tầm kiểm soát nghiêm ngặt của các sư huynh.

  • LÊ QUANG KẾT
                   

    Giai điệu và lời hát đưa tôi về ngày tháng cũ - dấu chân một thuở “phượng hồng”: “Đường về Thành nội chiều sương mây bay/ Em đến quê anh đã bao ngày/ Đường về Thành nội chiều sương nắng mới ơ ơ ơ/ Hoa nở hương nồng bay khắp trời/ Em đi vô Thành nội nghe rộn lòng yêu thương/ Anh qua bao cánh rừng núi đồi về sông Hương/ Về quê mình lòng mừng vui không nói nên lời…” (Nguyễn Phước Quỳnh Đệ).

  • VŨ THU TRANG

    Đến nay, có thể nói trong các thi sĩ tiền chiến, tác giả “Lỡ bước sang ngang” là nhà thơ sải bước chân rong ruổi khắp chân trời góc bể nhất, mang tâm trạng u hoài đa cảm của kẻ lưu lạc.

  • TRẦN PHƯƠNG TRÀ

    Đầu năm 1942, cuốn “Thi nhân Việt Nam 1932-1941” của Hoài Thanh - Hoài Chân ra đời đánh dấu một sự kiện đặc biệt của phong trào Thơ mới. Đến nay, cuốn sách xuất bản đúng 70 năm. Cũng trong thời gian này, ngày 4.2-2012, tại Hà Nội, Xuân Tâm nhà thơ cuối cùng trong “Thi nhân Việt Nam” đã từ giã cõi đời ở tuổi 97.

  • HUYỀN TÔN NỮ HUỆ - TÂM
                                      Đoản văn

    Về Huế, tôi và cô bạn ngày xưa sau ba tám năm gặp lại, rủ nhau ăn những món đặc sản Huế. Lần này, y như những bợm nhậu, hai đứa quyết không no nê thì không về!

  • LƯƠNG AN - NGUYỄN TRỌNG HUẤN - LÊ ĐÌNH THỤY - HUỲNH HỮU TUỆ

  • BÙI KIM CHI

    Nghe tin Đồng Khánh tổ chức kỷ niệm 95 năm ngày thành lập trường, tôi bồi hồi xúc động đến rơi nước mắt... Con đường Lê Lợi - con đường áo lụa, con đường tình của tuổi học trò đang vờn quanh tôi.

  • KIM THOA

    Sao anh không về chơi Thôn Vỹ
    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên        
          
                       (Hàn Mạc Tử)

  • NGUYỄN VĂN UÔNG

    Hôm nay có một người du khách
    Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên         
     

    (Xóm Ngự Viên - Nguyễn Bính)

  • HOÀNG THỊ NHƯ HUY

    Tôi biết Vân Cù từ tấm bé qua bóng hình người đàn bà gầy đen, gánh đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, rảo khắp các xóm nhỏ ở Thành Nội, với giọng rao kéo dài: “Bún…bún…ún!” mà mẹ đã bao lần gọi mua những con bún trắng dẻo mềm.

  • LÊ QUANG KẾT                
                      Tùy bút

    Hình như văn chương viết về quê hương bao giờ cũng nặng lòng và giàu cảm xúc - dù rằng người viết chưa hẳn là tác giả ưu tú.

  • TỪ SƠN… Huế đã nuôi trọn thời ấu thơ và một phần tuổi niên thiếu của tôi. Từ nơi đây , cách mạng đã đưa tôi đi khắp mọi miền của đất nước. Hà Nội, chiến khu Việt Bắc, dọc Trường Sơn rồi chiến trường Nam Bộ. Năm tháng qua đi.. Huế bao giờ cũng là bình minh, là kỷ niệm trong sáng của đời tôi.

  • LÊ QUANG KẾT

    Quê tôi có con sông nhỏ hiền hòa nằm phía bắc thành phố - sông Bồ. Người sông Bồ lâu nay tự nhủ lòng điều giản dị: Bồ giang chỉ là phụ lưu của Hương giang - dòng sông lớn của tao nhân mặc khách và thi ca nhạc họa; hình như thế làm sông Bồ dường như càng bé và dung dị hơn bên cạnh dòng Hương huyền thoại ngạt ngào trong tâm tưởng của bao người.

  • HUY PHƯƠNG

    Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
    Mà mưa trắng đất, trắng trời Thừa Thiên         
                          
                                              (Tố Hữu)

  • PHAN THUẬN AN

    Huế là thành phố của những dòng sông. Trong phạm vi của thành phố thơ mộng này, đi đến bất cứ đâu, đứng ở bất kỳ chỗ nào, người ta cũng thấy sông, thấy nước. Nước là huyết mạch của cuộc sống con người. Sông là cội nguồn của sự phát triển văn hoá. Với sông với nước của mình, Huế đã phát triển theo nguyên tắc địa lý thông thường như bao thành phố xưa nay trên thế giới.

  • MAI KIM NGỌC

    Tôi về thăm Huế sau hơn ba thập niên xa cách.Thật vậy, tôi xa Huế không những từ 75, mà từ còn trước nữa. Tốt nghiệp trung học, tôi vào Sài Gòn học tiếp đại học và không trở về, cho đến năm nay.

  • HOÀNG HUẾ

    …Trong lòng chúng tôi, Huế muôn đời vẫn vĩnh viễn đẹp, vĩnh viễn thơ. Hơn nữa, Huế còn là mảnh đất của tổ tiên, mảnh đất của trái tim chúng tôi…

  • QUẾ HƯƠNG

    Năm tháng trước, về thăm Huế sau cơn đại hồng thủy, Huế ngập trong bùn và mùi xú uế. Lũ đã rút. Còn lại... dòng-sông-nước-mắt! Người ta tổng kết những thiệt hại hữu hình ước tính phải mươi năm sau bộ mặt kinh tế Thừa Thiên - Huế mới trở lại như ngày trước lũ. Còn nỗi đau vô hình... mãi mãi trĩu nặng trái tim Huế đa cảm.

  • THU TRANG

    Độ hai ba năm thôi, tôi không ghé về Huế, đầu năm 1999 này mới có dịp trở lại, thật tôi đã có cảm tưởng là có khá nhiều đổi mới.

  • TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ

    Có lẽ bởi một nỗi nhớ về Huế, nhớ về cội nguồn - nơi mình đã được sinh ra và được nuôi dưỡng trong những tháng năm dài khốn khó của đất nước, lại được nuôi dưỡng trong điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt. Khi đã mưa thì mưa cho đến thúi trời thúi đất: “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi/ Mà mưa xối xả trắng trời Trị Thiên…” (Tố Hữu). Và khi đã nắng thì nắng cho nẻ đầu, nẻ óc, nắng cho đến khi gió Lào nổi lên thổi cháy khô trời thì mới thôi.