Hòa hợp trong văn chương, văn hóa

09:40 15/06/2018

TÔ NHUẬN VỸ

Có những nội dung, định hướng trên tạp chí bây giờ đã bình thường, nhưng vào thời gian cách nay hai ba chục năm là quá chừng rối rắm, phức tạp. Như Hòa hợp trong văn chương, văn hóa.

Nhà văn Hoàng Khởi Phong và nhà văn Tô Nhuận Vỹ

Có một thực tế không thể chối cãi sau 30/4/1975: nhiều văn nghệ sĩ, nhà văn hóa miền Nam bỏ ra nước ngoài. Và, tự nhiên hình thành hai mảng văn chương, văn hóa “bên này” và “bên kia”. Có chuyện… lạ: thời kỳ Tạp chí Sông Hương (TCSH) mới ra đời, ở cả hai phía, có nhiều suy nghĩ RẤT GIỐNG NHAU: của ta thì chỉ có tốt và tốt hơn nữa và của địch thì chỉ có xấu hơn nữa!

Nhưng, TCSH tin rằng, ở cả hai “phía”, có những tác giả không đồng tình với tư duy “nổ bom” đó. Chúng tôi đã “gặp” những người bạn như Thụy Khuê. Chị đã viết: “…Ở khía cạnh này, văn học hải ngoại có những nét bảo thủ giống văn học chính thống trong nước: Ta đọc ta thôi. Người Việt hải ngoại không đọc hay không thích đọc những tác phẩm trong nước, nhất là những tác phẩm trong đó, người viết sử dụng những cấm kỵ như Mỹ, ngụy… hoặc có ý chê bai, miệt thị quân đội miền Nam… hoặc xưng tụng Bác, Đảng… Đó là bệnh chứng (syndrome) của chiến tranh, của lịch sử, khó có thể vượt qua. Mai Thảo, Túy Hồng tuyên bố: không đọc “họ”. Thế thì sao họ có thể đọc “ta”? Và họ và ta đều là người Việt. Chỉ khi nào người Việt vượt lên trên lịch sử, chịu khó đọc “nhau”… Đọc trong tinh thần đứng trên hệ lụy lịch sử, với tâm thức bình thản, gạn đục, khơi trong, tìm hiểu những hận thù, mê chấp của một thế hệ chiến tranh, giam cầm, tù hãm trong những cắt đứt giữa đất, đoạn giao giữa người. Đòi hỏi một nền văn học Việt Nam toàn diện thế kỷ XX thông qua các giai đoạn chiến tranh, trước tiên là thực hiện việc “đọc nhau”. Chấp nhận sự thái quá của nhau và như một tất yếu lịch sử và từ đó tìm ra chân giá trị của văn học và tư tưởng - nếu có - của mỗi tác giả của một thế kỷ mà lịch sử hung hãn đã dày xéo tác phẩm, ngộ độc văn chương” (Thụy Khuê - Thử tìm một lối tiếp cận…).

Chúng tôi cho rằng, nếu là văn chương, văn hóa thực sự vì con người, vì sự hưng thịnh của một đất nước Việt Nam đầy kiêu hãnh, thì sẽ có tiếng nói chung, sẽ ngồi lại đầm ấm với nhau. Và TCSH đã đúng khi đưa bàn tay Hòa hợp ra và đã lần lần có sự bắt tay của không ít người tâm huyết ở cả hai “phía”, như Thụy Khuê. Nhưng cũng phải nói ngay rằng, để duy trì sự đồng tâm này, TCSH đã không ít lần bị chụp những cái mũ… sắt nặng nề.

Nhiều năm sau khi được Nhà xuất bản Lê Trần, California xuất bản, tôi mới có cuốn TRĂM HOA VẪN NỞ TRÊN QUÊ HƯƠNG, dày gần 800 trang khổ lớn. Với tôi, đây là một tập hợp tư liệu văn học quý của văn chương, văn hóa Việt Nam, tuy có đủ nóng lạnh của cả “hai phía”. Trong tập sách đồ sộ này, rất nhiều tác giả, tác phẩm tiêu biểu cho thái độ dấn thân, tự tin dấn thân của TCSH: Hoàng Ngọc Hiến, Nguyên Ngọc, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Trần Dần, Hoàng Cầm, Trần Độ, Nguyễn Đình Thi, Lại Nguyên Ân, Lữ Phương, Phạm Xuân Nguyên, Trần Vàng Sao… Tập thể đông đảo người sưu tập, biên tập, viết bài… của tập sách này đã nhiệt tâm cổ vũ, hoan nghênh các tác giả mà TCSH tôn trọng đó, đã đủ nói rằng, Hòa hợp là có thực, một khi thần cốt sau này, khi lớp trẻ sung sức và mạnh mẽ như Hồ Đăng Thanh Ngọc chèo lái Sông Hương đã cùng Nguyễn Đức Tùng (Canada) khởi xướng đăng loạt bài về Văn học miền Nam trước đây và cùng nhóm thơ Tân Hình thức của Khế Iêm đẩy mạnh hoạt động theo hướng này thì TCSH đã tiến một bước dài với định hướng này. Tôi nhớ lại Doãn Quốc Sĩ đã trả lời Nguyễn Mạnh Trinh trên Hợp lưu 35 khi được hỏi “trong văn chương anh có nghĩ có biên giới giữa người cầm bút Việt Nam ở trong nước và ở hải ngoại? Hoặc giữa người ở miền Nam và ở miền Bắc?”:

- Văn chương Việt Nam là văn chương Việt Nam! Đơn thuần vậy thôi! Những người Việt miền Bắc, người Việt miền Nam, người Việt quốc nội, người Việt hải ngoại phản ảnh những gì xảy ra qua lăng kính cá tính văn chương của từng người. Cả nền văn chương Việt Nam nói chung do đó mà có được sắc thái lung linh phong phú. Tôi hiểu biên giới trong câu trên là như vậy.

Cũng không khác quan niệm của chúng tôi. Tôi nhớ đến Trần Vũ. Sau khi gởi cho tôi đọc truyện Giáo sĩ sâu sắc và độc đáo của mình, từ Paris anh gửi tiếp cho tôi truyện vừa Miền vĩnh phúc của Vũ Quỳnh Hương (ở San Jose, Hoa Kỳ). Vũ viết “Để anh hiểu thêm về văn học di dân. Chính những tác giả sống ngay trong xã hội Hoa Kỳ mới có thể viết được như thế”.

Vũ Quỳnh Hương vẽ lên mặt trái của xã hội Hoa Kỳ mà trong đó giá trị gia đình truyền thống bị phá vỡ một cách thê thảm. Tác phẩm viết về những người già sống những ngày cuối đời ở một viện dưỡng lão thật cô đơn, khắc khoải vì khao khát một chút hơi thở của người thân. Tôi xúc động khi đọc truyện này và thấy ngay ở Việt Nam đã xuất hiện không ít kẻ lắm tiền hoặc chạy theo đồng tiền mà bỏ bê con cái phải nuôi nấng, cha mẹ già phải phụng thờ và chúng tôi cũng đang chuẩn bị cảnh báo về tình trạng này. Qua nhiều lần liên hệ, chúng tôi đã gặp nhau nơi tấm lòng nhà văn với số phận con người, tôi viết lời giới thiệu và đăng Miền vĩnh phúc trên TCSH số Xuân 2007. Sau khi nhận được tờ tạp chí đăng nguyên văn truyện của mình, Vũ Quỳnh Hương gửi thư cho tôi:

“…Tôi cầm tờ báo trên tay với một sự ngạc nhiên dễ chịu. Lần trước tôi về Việt Nam (cũng khá lâu rồi) chỉ thấy báo in đẹp là những tờ báo in hình tài tử màu mè, không thấy một tờ báo văn học đứng đắn nào đẹp từ hình thức đến nội dung như Sông Hương bây giờ. Có lẽ nhiều năm qua tình hình báo chí cả nước có tiến triển, hay vì Huế là cái nôi của văn học miền Nam nên mới cưu mang sinh sản ra một tờ báo bề thế như Sông Hương?” (Thư ngày 30/5/2007).

Tôi không thể không nói tới Hoàng Khởi Phong.
 

Từ trái qua: nhà văn Trương Hồng Sơn, nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình, nhà văn Tô Nhuận Vỹ, bác sĩ Tôn Thất Chiểu; Wasington DC

Tôi đã qua lại Cali nhiều lần nhưng ở lại lâu và “la cà” với anh em văn nghệ, báo chí người Việt thì mãi đến giữa năm 2005. Nguyễn Bá Chung gởi một bức ảnh tôi tham gia một Hội thảo do William Joiner Center tổ chức để anh em ở Cali “nhận mặt”, bởi tên tuổi nhiều anh chị em bên đó tôi đã biết, cũng như tên tôi “chẳng xa lạ gì với bển”, như Chung nói, nhưng chúng tôi chưa bao giờ gặp nhau. Khi đợi nhận vali ở gần cửa ra sân bay, tôi đã thấy một nhóm anh em chỉ chỉ trỏ trỏ vô hướng tôi. Tôi đoán nhóm anh em bạn Chung ra đón. Lúc tôi đẩy vali ra thì một anh râu chỏm mạnh mẽ bước về phía tôi. Khi đến gần, anh chàng với bước đi chắc nịch, tự tin đó đã hỏi bằng giọng oang oang:

- Ông có phải là Tô Nhuận Vỹ không?

- Hoàng Khởi Phong, đúng không? - Tôi cũng đoán ngay.

- Tôi thắng thầu rồi! - Phong vui vẻ la lớn trước sự ngạc nhiên của tôi - Nghĩa là, mấy anh em đều muốn kéo ông về nhà, nhưng tôi thắng, ông về nhà tôi! - Vừa nói, Phong vừa kéo vali cho tôi ra xe của anh.

Trên đường về nhà, tôi nhắc lại chuyện khi đạo diễn Trần Văn Thủy ở lại nhà Phong đã có mấy nhóm kéo tới biểu tình phản đối Phong chứa chấp cộng sản Hà Nội qua. Phong nói ngay, giọng có vẻ xẵng:

- Tôi không chơi trò ý thức hệ. Tôi chơi với người tốt, người đáng chơi thôi.

- Vậy anh đã biết chi về tôi mà…

Phong cắt ngang lời tôi:

- Ông đã làm Tổng Biên tập Sông Hương thì ông không phải là một thằng hèn. Đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai là những gì ông đã làm để cứu đứa con gái khi bị tai nạn khủng khiếp vừa qua, ở đây nhiều người đã nghe. Với tôi, hai điều đó là đủ!

Các họa sĩ: Đinh Cường, Nguyễn Đình Thuần (ở Mỹ), bà Séphani (Pháp) cùng anh em văn nghệ sĩ ở Huế ở Gác Trịnh, 11/2013


Tôi hơi ngẩn ra. Hai điều… đúng là quá đủ để hiểu về tôi. Kiểu ăn nói không màu mè, tác phong hơi bặm trợn, nhưng rõ ra một tấm lòng bộc trực, nhạy bén. Lần đó Phong đã đọc cho tôi nghe nhiều bài thơ tâm đắc. Hoàng Khởi Phong đã có nhiều thơ trước 75. Đã có nhiều bút ký, truyện ngắn, hồi ký, tiểu thuyết sau 75 và đang gấp rút hoàn thành trường thiên tiểu thuyết Người trăm năm cũ. Đa dạng như cuộc đời trầm luân của anh: từng là Đại úy Quân cảnh, giám thị trại giam, thợ cơ khí, người bán xăng, nhà báo… Nhiều trang viết của anh khá dữ dội và dữ tợn. Đó là văn xuôi. Còn thơ, da diết và trải lòng. Anh dữ dội mà bao dung, nhân ái. Bao nhiêu năm xa quê mà hồn vía vẫn ở một làng quê Hải Dương, nơi anh ra đời. Tôi đọc thơ Hoàng Khởi Phong từ trước 75, trong những ngày xe tăng Mỹ cày nát vùng cát Phú Vang và đêm sững sờ nhìn những đám cháy loang lổ lưng chừng trời vùng Tây Huế bị napal. Những bài thơ in roneo vì không được cấp giấy phép xuất bản, chỉ gửi biếu bạn bè, tập Phục hồi quyền chức làm người mà một người bạn giáo chức Huế cho tôi mượn. Mấy chục năm qua, một bài thơ lạ lùng trong tập ấy cứ đeo lấy trí nhớ của tôi mãi, bài Ghềnh thác cho cha. Số phận truân chuyên, bi hùng của đất nước đã nhập vào từng làng xóm, từng gia đình, từng con người để thử thách, để giằng xé, để chia nát… nhưng hơi thở của nòi giống, lòng hiếu nghĩa với đức sinh thành và cái tâm đối với con người vẫn nguyên vẹn, dù trong xót xa cay đắng. Theo yêu cầu của tôi, Phong hai lần đọc cho tôi nghe bài thơ, lần sau chậm hơn lần trước. Hoàng Khởi Phong kể rằng, anh là đứa học hành không ra gì nhất, sống văng mạng nhất trong những người con nên khiến cha anh thất vọng nhất. Nhưng trong một lần về phép ngắn, anh đã đọc bài thơ này cho cha nghe trước giờ quay lại mặt trận. Cha đã sững sờ nhìn anh. Từ đó anh là đứa con mà ông thương yêu, chờ đón nhất nhà. Cha mệt rồi sao không ngơi nghỉ/ Cha già rồi sao còn gội nắng mưa/ Con nhìn cha không nói được gì/ Khi quá khứ cha viết bằng tủi nhục/ Có phải cha đã dùng vũ khí thô sơ/ Gậy tầm vông chui luồn ngõ hẹp/ Tự vệ Thành không giữ nổi Thăng long/ Cha đã bỏ theo kháng chiến mùa thu bừng ngọn lửa/ Cha đã kể con nghe/ Về ba lô vá mộng sông hồ/ Về anh lính biên khu mơ về đồng nội/ Cuộc đời cha trôi trên dòng sông/ Có nhiều ghềnh thác/ Cha nói rằng cha ghét lính viễn chinh/ Lính Lê dương bán rẻ tâm hồn/ Cha chiến đấu cho chúng con được niềm kiêu hãnh/ Sao cha đành bỏ lại chiến khu/ Sao cha về thành/ Để công lao dật dờ ra biển/ Sao cha thở dài khi con vặn hỏi/ Sao cha căm thù anh bộ đội áo nâu/ Cha cần tiền cho con ăn học/ Phải dằn lòng làm công chức héo hon/ Ngày hai buổi cha chịu quyền dưới đám thực dân/ Đêm nghe tiếng súng vọng từ xa cha trằn trọc/ Cha uống rượu hay ngâm thơ cổ/ Cha dạy chúng con phải giữ tin yêu/ Độc lập hòa bình phải có tình thương làm căn bản/ Bây giờ cha đã thật già/ Đã dẫn chúng con qua mạch nước đen/ Đã bỏ lại gia tài cha vun xới/ Bây giờ chúng con đã lớn/ Chúng con đi rồi ai phụng dưỡng cha/ Nắng miền Nam đổ lửa/ Mưa miền Nam tả tơi/ Cha đã về hưu đi làm tư chức/ Tháng tháng mươi ngàn nuôi mẹ nuôi em/ Con không biết phải nói gì/ Khi buổi sáng thấy cha dong xe ra ngõ/ Áo trên người đeo chiếc thẻ ra vô/ Sở của cha toàn người lạ mặt/ Toàn người già toàn phụ nữ tanh ôi/ Phục sức hở hang làm cha choáng váng/ Nói nói cười cười làm nước mắt cha rơi/ Bây giờ cha ở nhà còm cõi/ Các em con rồi sẽ lớn khôn/ Sẽ theo gót cha khinh bỉ lũ viễn chinh/ Lũ mang quân phục mà vô tổ quốc/ Lũ không đất đai nên giày xéo quê người/ Chúng con đem xương máu đắp/ Nâng gót chân cha trở về nhàn hạ/ Cha cha ơi/ Đã tham gia kháng chiến mùa thu/ Đã làm công chức nuốt niềm tủi nhục/ Đã làm tư chức chịu đắng chịu cay/ Cha đã già xin giữ gìn nước mắt/ Sẽ có một chiều cha sẽ khóc măng/ Khi nhận chiếc đính bài con thường đeo nơi cổ/ Để hôm nay con nhìn cha lòng buồn tức tưởi/ Cha cha ơi/ Cha già rồi sao không ngơi nghỉ/ Cha già rồi sao còn gội nắng mưa.

Tôi tha thiết đề nghị Hoàng Khởi Phong cho giới thiệu bài thơ trên Tạp chí Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam và chính tôi sẽ viết lời giới thiệu. Tôi “kích” Phong: ông có dám cho đăng mà không sợ cộng đồng “thịt” không. Phong vặc lại “Ông đánh giá tôi xoàng vậy à? Nhưng không được thêm, bớt, chữa của tôi dù chỉ một cái dấu phẩy (,)”.

Bài thơ đã được Tổng Biên tập Hữu Thỉnh giữ đúng lời hứa không thay đổi dù chỉ là một dấu phẩy và nói với tôi qua điện thoại “Bài thơ xúc động quá!”.

Tôi kể hơi dài dòng mấy trường hợp cụ thể như Thụy Khuê, Vũ Quỳnh Hương, Hoàng Khởi Phong… trong nhiều nhà văn, nhà văn hóa “hải ngoại” mà tôi đã tiếp xúc một hoặc nhiều lần để khẳng định điều đã nêu ở đầu bài: nếu là văn chương, văn hóa đích thực thì sẽ gặp nhau, sẽ nhất tâm.

Huế tháng 4/2018
T.N.V
(TCSH352&SDB29/06-2018)




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • TRẦN NGUYÊN HÀO  

    Lòng nhân ái của Bác Hồ dành cho mọi người dân Việt Nam; tình yêu thương ở Bác lan tỏa đến những người nô lệ mất nước và những người cùng khổ trên khắp thế gian, cho những người da đen bị phân biệt chủng tộc, cho cả những người da trắng bần cùng, cho những người phụ nữ các nước đế quốc thực dân có chồng con bị đưa sang Việt Nam và nước thuộc địa làm bia đỡ đạn; và cho cả chính những người lính ở bị đưa đi đánh nhau và nhận những cái chết oan uổng trong các cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa.

  • HÀN NHÃ LẠC

    Thêm một giọng ca tài danh từng tôn cao giá trị di sản ca Huế vừa ra đi: nghệ sĩ nhân dân Minh Mẫn vừa qua đời ngày 13 tháng ba năm 2018, nhằm ngày 26 tháng giêng âm lịch.

  • ĐẠI HỘI VHNT THỪA THIÊN HUẾ LẦN THỨ NHẤT

    (Trích bài phát biểu của đồng chí Vũ Thắng, nguyên ủy viên BCH Trung ương Đảng CSVN, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế tại Đại Hội)

  • HÒA ÁI   

    Đến nay, những bài thơ chúc Tết của Hồ Chủ tịch đã trở thành di sản của dân tộc. Những bài thơ chúc Tết của Bác trong mỗi dịp Tết đều toát lên tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta trong một giai đoạn lịch sử.

  • PHẠM PHÚ PHONG
              Du ký  

    Do cách chia thời gian theo ngày tháng, người ta thường coi thời gian trôi/ đi qua, nhưng thực ra thời gian vẫn đứng yên đó thôi, chỉ có con người và vạn vật trôi qua dưới con mắt chăm chú, kiên trì và nhẫn nại của thời gian.

  • TRẦN THỊ KIÊN TRINH

    Là em gái của anh nhưng khi tôi được sinh ra anh đã tròn hai mươi tuổi. Những gì nhớ về anh chỉ là ký ức tuổi thơ trong khu vườn tranh thỉnh thoảng anh về.

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG  
       (Viết từ lời kể của cựu chiến binh Đặng Hà)

    Tôi tình cờ đọc được thông tin Hải quân Mỹ lấy thành phố Huế để đặt tên cho một tuần dương hạm mang tên USS Hue City (CG-66). Tuần dương hạm này thuộc lớp Ticonderoga, trang bị tên lửa, gắn với trận đánh Trung đoàn 1, Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tham chiến Huế vào dịp Tết Mậu Thân.

  • NGUYỄN TỰ LẬP  

    Cuộc Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam cách đây tròn nửa thế kỷ (1968 - 2018).

  • Những tượng đài thiêng liêng trong lòng dân Quảng Điền   

    NGUYỄN QUANG HÀ
                             Bút ký 

  • Thái độ về cuộc Cần Vương

    Người thẩm vấn (NTV): Ông có phải là kẻ hâm mộ người anh hùng cuối cùng trong cuộc tử chiến chống người Pháp đó không?

  • CHƯƠNG THÂU

    Hồ sơ Thẩm vấn là tập tài liệu khá khá dày dặn của Hội đồng xử án Tòa Đề hình của chính quyền thực dân để chuẩn bị xử Phan Bội Châu vào ngày 23/11/1925 tại Hà Nội.

  • LTS: Kỷ niệm 150 năm ngày sinh của chí sĩ Phan Bội Châu, Sông Hương được tiếp cận với bản thảo “Vụ án Phan Bội Châu năm 1925: Hồ sơ thẩm vấn”. Đây là nguồn tư liệu quý, nằm trong tập Bổ di II lần đầu được công bố về vụ án chí sĩ Phan Bội Châu.

  • Cuối mùa hè năm 1978 chúng tôi là lứa lưu học sinh đầu tiên được tới Liên Xô bằng máy bay, trước đây chỉ đi bằng tàu hỏa liên vận qua Bắc Kinh. Đối với nhiều người Việt Nam lúc bấy giờ, nhất là những người lính sau mấy năm chỉ sống ở núi rừng, Moscow thực sự là thiên đường.

  • DƯƠNG PHƯỚC THU

    Dưới thời Pháp thuộc, những năm đầu thế kỷ XX, để ra được một tờ báo - mà lại báo tiếng Việt do người Việt quản lý tại Kinh đô Huế quả thực nhiêu khê và vô cùng khó khăn, phức tạp.

  • ĐẶNG NHẬT MINH

    Tôi vẫn còn nhớ đinh ninh cảnh quay đầu tiên của phim Cô gái trên sông vào tháng 10 năm 1987 là cảnh Liên, nhà báo nữ (do Hà Xuyên đóng) đến bệnh viện Huế tìm gặp Nguyệt (do Minh Châu đóng).

  • THÁI KIM LAN

    Con đường ấy, từ dốc cầu Gia Hội đổ xuống, dọc theo con sông nhánh trước kia còn gọi là sông Đông Ba, Hàng Đường, rồi Bạch Đằng, lấy tên dòng sông chảy qua chùa Diệu Đế, qua cầu Đồng Ba, về Bao Vinh, ngã Ba Sình, con đường mang nhiều vẻ lạ, nó mang phố về biển khơi và chuyên chở tứ xứ về kinh thành, vốn là phố cổ một thời với những căn nhà gỗ kiến trúc thuần Huế, nơi những gia đình thượng lưu, quý tộc định cư  một thời quan quan thư cưu

  • DƯƠNG PHƯỚC THU

    Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, nhận chỉ thị của Hồ Chủ tịch, đại diện Ủy ban Nhân dân lâm thời Thừa Thiên và Ủy ban Nhân dân Trung Bộ đóng tại Huế đã đến mời cụ Huỳnh Thúc Kháng, một tiến sĩ Nho học yêu nước, một nhà báo nổi tiếng, một người không đảng phái ra Hà Nội gặp cụ Hồ.

  • HƯƠNG CẦN

    Vài năm lại đây, báo chí thường nhắc đến ông hai lúa Bùi Hiển (Thủ Dầu Một, Bình Dương) tự chế thành công chiếc máy bay trực thăng vào năm 2012, ông làm chiếc thứ hai vào năm 2014.

  • VŨ HẢO

    Tháng Tám năm 1945 đã trở thành mốc son chói lọi, vẻ vang trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Cách mạng tháng Tám thành công đã phá tan xiềng xích của thực dân, phát xít, lật đổ chế độ phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

  • Kỷ niệm 100 năm Trường Đồng Khánh 

    BÙI KIM CHI