Hòa hợp trong văn chương, văn hóa

09:40 15/06/2018

TÔ NHUẬN VỸ

Có những nội dung, định hướng trên tạp chí bây giờ đã bình thường, nhưng vào thời gian cách nay hai ba chục năm là quá chừng rối rắm, phức tạp. Như Hòa hợp trong văn chương, văn hóa.

Nhà văn Hoàng Khởi Phong và nhà văn Tô Nhuận Vỹ

Có một thực tế không thể chối cãi sau 30/4/1975: nhiều văn nghệ sĩ, nhà văn hóa miền Nam bỏ ra nước ngoài. Và, tự nhiên hình thành hai mảng văn chương, văn hóa “bên này” và “bên kia”. Có chuyện… lạ: thời kỳ Tạp chí Sông Hương (TCSH) mới ra đời, ở cả hai phía, có nhiều suy nghĩ RẤT GIỐNG NHAU: của ta thì chỉ có tốt và tốt hơn nữa và của địch thì chỉ có xấu hơn nữa!

Nhưng, TCSH tin rằng, ở cả hai “phía”, có những tác giả không đồng tình với tư duy “nổ bom” đó. Chúng tôi đã “gặp” những người bạn như Thụy Khuê. Chị đã viết: “…Ở khía cạnh này, văn học hải ngoại có những nét bảo thủ giống văn học chính thống trong nước: Ta đọc ta thôi. Người Việt hải ngoại không đọc hay không thích đọc những tác phẩm trong nước, nhất là những tác phẩm trong đó, người viết sử dụng những cấm kỵ như Mỹ, ngụy… hoặc có ý chê bai, miệt thị quân đội miền Nam… hoặc xưng tụng Bác, Đảng… Đó là bệnh chứng (syndrome) của chiến tranh, của lịch sử, khó có thể vượt qua. Mai Thảo, Túy Hồng tuyên bố: không đọc “họ”. Thế thì sao họ có thể đọc “ta”? Và họ và ta đều là người Việt. Chỉ khi nào người Việt vượt lên trên lịch sử, chịu khó đọc “nhau”… Đọc trong tinh thần đứng trên hệ lụy lịch sử, với tâm thức bình thản, gạn đục, khơi trong, tìm hiểu những hận thù, mê chấp của một thế hệ chiến tranh, giam cầm, tù hãm trong những cắt đứt giữa đất, đoạn giao giữa người. Đòi hỏi một nền văn học Việt Nam toàn diện thế kỷ XX thông qua các giai đoạn chiến tranh, trước tiên là thực hiện việc “đọc nhau”. Chấp nhận sự thái quá của nhau và như một tất yếu lịch sử và từ đó tìm ra chân giá trị của văn học và tư tưởng - nếu có - của mỗi tác giả của một thế kỷ mà lịch sử hung hãn đã dày xéo tác phẩm, ngộ độc văn chương” (Thụy Khuê - Thử tìm một lối tiếp cận…).

Chúng tôi cho rằng, nếu là văn chương, văn hóa thực sự vì con người, vì sự hưng thịnh của một đất nước Việt Nam đầy kiêu hãnh, thì sẽ có tiếng nói chung, sẽ ngồi lại đầm ấm với nhau. Và TCSH đã đúng khi đưa bàn tay Hòa hợp ra và đã lần lần có sự bắt tay của không ít người tâm huyết ở cả hai “phía”, như Thụy Khuê. Nhưng cũng phải nói ngay rằng, để duy trì sự đồng tâm này, TCSH đã không ít lần bị chụp những cái mũ… sắt nặng nề.

Nhiều năm sau khi được Nhà xuất bản Lê Trần, California xuất bản, tôi mới có cuốn TRĂM HOA VẪN NỞ TRÊN QUÊ HƯƠNG, dày gần 800 trang khổ lớn. Với tôi, đây là một tập hợp tư liệu văn học quý của văn chương, văn hóa Việt Nam, tuy có đủ nóng lạnh của cả “hai phía”. Trong tập sách đồ sộ này, rất nhiều tác giả, tác phẩm tiêu biểu cho thái độ dấn thân, tự tin dấn thân của TCSH: Hoàng Ngọc Hiến, Nguyên Ngọc, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Trần Dần, Hoàng Cầm, Trần Độ, Nguyễn Đình Thi, Lại Nguyên Ân, Lữ Phương, Phạm Xuân Nguyên, Trần Vàng Sao… Tập thể đông đảo người sưu tập, biên tập, viết bài… của tập sách này đã nhiệt tâm cổ vũ, hoan nghênh các tác giả mà TCSH tôn trọng đó, đã đủ nói rằng, Hòa hợp là có thực, một khi thần cốt sau này, khi lớp trẻ sung sức và mạnh mẽ như Hồ Đăng Thanh Ngọc chèo lái Sông Hương đã cùng Nguyễn Đức Tùng (Canada) khởi xướng đăng loạt bài về Văn học miền Nam trước đây và cùng nhóm thơ Tân Hình thức của Khế Iêm đẩy mạnh hoạt động theo hướng này thì TCSH đã tiến một bước dài với định hướng này. Tôi nhớ lại Doãn Quốc Sĩ đã trả lời Nguyễn Mạnh Trinh trên Hợp lưu 35 khi được hỏi “trong văn chương anh có nghĩ có biên giới giữa người cầm bút Việt Nam ở trong nước và ở hải ngoại? Hoặc giữa người ở miền Nam và ở miền Bắc?”:

- Văn chương Việt Nam là văn chương Việt Nam! Đơn thuần vậy thôi! Những người Việt miền Bắc, người Việt miền Nam, người Việt quốc nội, người Việt hải ngoại phản ảnh những gì xảy ra qua lăng kính cá tính văn chương của từng người. Cả nền văn chương Việt Nam nói chung do đó mà có được sắc thái lung linh phong phú. Tôi hiểu biên giới trong câu trên là như vậy.

Cũng không khác quan niệm của chúng tôi. Tôi nhớ đến Trần Vũ. Sau khi gởi cho tôi đọc truyện Giáo sĩ sâu sắc và độc đáo của mình, từ Paris anh gửi tiếp cho tôi truyện vừa Miền vĩnh phúc của Vũ Quỳnh Hương (ở San Jose, Hoa Kỳ). Vũ viết “Để anh hiểu thêm về văn học di dân. Chính những tác giả sống ngay trong xã hội Hoa Kỳ mới có thể viết được như thế”.

Vũ Quỳnh Hương vẽ lên mặt trái của xã hội Hoa Kỳ mà trong đó giá trị gia đình truyền thống bị phá vỡ một cách thê thảm. Tác phẩm viết về những người già sống những ngày cuối đời ở một viện dưỡng lão thật cô đơn, khắc khoải vì khao khát một chút hơi thở của người thân. Tôi xúc động khi đọc truyện này và thấy ngay ở Việt Nam đã xuất hiện không ít kẻ lắm tiền hoặc chạy theo đồng tiền mà bỏ bê con cái phải nuôi nấng, cha mẹ già phải phụng thờ và chúng tôi cũng đang chuẩn bị cảnh báo về tình trạng này. Qua nhiều lần liên hệ, chúng tôi đã gặp nhau nơi tấm lòng nhà văn với số phận con người, tôi viết lời giới thiệu và đăng Miền vĩnh phúc trên TCSH số Xuân 2007. Sau khi nhận được tờ tạp chí đăng nguyên văn truyện của mình, Vũ Quỳnh Hương gửi thư cho tôi:

“…Tôi cầm tờ báo trên tay với một sự ngạc nhiên dễ chịu. Lần trước tôi về Việt Nam (cũng khá lâu rồi) chỉ thấy báo in đẹp là những tờ báo in hình tài tử màu mè, không thấy một tờ báo văn học đứng đắn nào đẹp từ hình thức đến nội dung như Sông Hương bây giờ. Có lẽ nhiều năm qua tình hình báo chí cả nước có tiến triển, hay vì Huế là cái nôi của văn học miền Nam nên mới cưu mang sinh sản ra một tờ báo bề thế như Sông Hương?” (Thư ngày 30/5/2007).

Tôi không thể không nói tới Hoàng Khởi Phong.
 

Từ trái qua: nhà văn Trương Hồng Sơn, nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình, nhà văn Tô Nhuận Vỹ, bác sĩ Tôn Thất Chiểu; Wasington DC

Tôi đã qua lại Cali nhiều lần nhưng ở lại lâu và “la cà” với anh em văn nghệ, báo chí người Việt thì mãi đến giữa năm 2005. Nguyễn Bá Chung gởi một bức ảnh tôi tham gia một Hội thảo do William Joiner Center tổ chức để anh em ở Cali “nhận mặt”, bởi tên tuổi nhiều anh chị em bên đó tôi đã biết, cũng như tên tôi “chẳng xa lạ gì với bển”, như Chung nói, nhưng chúng tôi chưa bao giờ gặp nhau. Khi đợi nhận vali ở gần cửa ra sân bay, tôi đã thấy một nhóm anh em chỉ chỉ trỏ trỏ vô hướng tôi. Tôi đoán nhóm anh em bạn Chung ra đón. Lúc tôi đẩy vali ra thì một anh râu chỏm mạnh mẽ bước về phía tôi. Khi đến gần, anh chàng với bước đi chắc nịch, tự tin đó đã hỏi bằng giọng oang oang:

- Ông có phải là Tô Nhuận Vỹ không?

- Hoàng Khởi Phong, đúng không? - Tôi cũng đoán ngay.

- Tôi thắng thầu rồi! - Phong vui vẻ la lớn trước sự ngạc nhiên của tôi - Nghĩa là, mấy anh em đều muốn kéo ông về nhà, nhưng tôi thắng, ông về nhà tôi! - Vừa nói, Phong vừa kéo vali cho tôi ra xe của anh.

Trên đường về nhà, tôi nhắc lại chuyện khi đạo diễn Trần Văn Thủy ở lại nhà Phong đã có mấy nhóm kéo tới biểu tình phản đối Phong chứa chấp cộng sản Hà Nội qua. Phong nói ngay, giọng có vẻ xẵng:

- Tôi không chơi trò ý thức hệ. Tôi chơi với người tốt, người đáng chơi thôi.

- Vậy anh đã biết chi về tôi mà…

Phong cắt ngang lời tôi:

- Ông đã làm Tổng Biên tập Sông Hương thì ông không phải là một thằng hèn. Đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai là những gì ông đã làm để cứu đứa con gái khi bị tai nạn khủng khiếp vừa qua, ở đây nhiều người đã nghe. Với tôi, hai điều đó là đủ!

Các họa sĩ: Đinh Cường, Nguyễn Đình Thuần (ở Mỹ), bà Séphani (Pháp) cùng anh em văn nghệ sĩ ở Huế ở Gác Trịnh, 11/2013


Tôi hơi ngẩn ra. Hai điều… đúng là quá đủ để hiểu về tôi. Kiểu ăn nói không màu mè, tác phong hơi bặm trợn, nhưng rõ ra một tấm lòng bộc trực, nhạy bén. Lần đó Phong đã đọc cho tôi nghe nhiều bài thơ tâm đắc. Hoàng Khởi Phong đã có nhiều thơ trước 75. Đã có nhiều bút ký, truyện ngắn, hồi ký, tiểu thuyết sau 75 và đang gấp rút hoàn thành trường thiên tiểu thuyết Người trăm năm cũ. Đa dạng như cuộc đời trầm luân của anh: từng là Đại úy Quân cảnh, giám thị trại giam, thợ cơ khí, người bán xăng, nhà báo… Nhiều trang viết của anh khá dữ dội và dữ tợn. Đó là văn xuôi. Còn thơ, da diết và trải lòng. Anh dữ dội mà bao dung, nhân ái. Bao nhiêu năm xa quê mà hồn vía vẫn ở một làng quê Hải Dương, nơi anh ra đời. Tôi đọc thơ Hoàng Khởi Phong từ trước 75, trong những ngày xe tăng Mỹ cày nát vùng cát Phú Vang và đêm sững sờ nhìn những đám cháy loang lổ lưng chừng trời vùng Tây Huế bị napal. Những bài thơ in roneo vì không được cấp giấy phép xuất bản, chỉ gửi biếu bạn bè, tập Phục hồi quyền chức làm người mà một người bạn giáo chức Huế cho tôi mượn. Mấy chục năm qua, một bài thơ lạ lùng trong tập ấy cứ đeo lấy trí nhớ của tôi mãi, bài Ghềnh thác cho cha. Số phận truân chuyên, bi hùng của đất nước đã nhập vào từng làng xóm, từng gia đình, từng con người để thử thách, để giằng xé, để chia nát… nhưng hơi thở của nòi giống, lòng hiếu nghĩa với đức sinh thành và cái tâm đối với con người vẫn nguyên vẹn, dù trong xót xa cay đắng. Theo yêu cầu của tôi, Phong hai lần đọc cho tôi nghe bài thơ, lần sau chậm hơn lần trước. Hoàng Khởi Phong kể rằng, anh là đứa học hành không ra gì nhất, sống văng mạng nhất trong những người con nên khiến cha anh thất vọng nhất. Nhưng trong một lần về phép ngắn, anh đã đọc bài thơ này cho cha nghe trước giờ quay lại mặt trận. Cha đã sững sờ nhìn anh. Từ đó anh là đứa con mà ông thương yêu, chờ đón nhất nhà. Cha mệt rồi sao không ngơi nghỉ/ Cha già rồi sao còn gội nắng mưa/ Con nhìn cha không nói được gì/ Khi quá khứ cha viết bằng tủi nhục/ Có phải cha đã dùng vũ khí thô sơ/ Gậy tầm vông chui luồn ngõ hẹp/ Tự vệ Thành không giữ nổi Thăng long/ Cha đã bỏ theo kháng chiến mùa thu bừng ngọn lửa/ Cha đã kể con nghe/ Về ba lô vá mộng sông hồ/ Về anh lính biên khu mơ về đồng nội/ Cuộc đời cha trôi trên dòng sông/ Có nhiều ghềnh thác/ Cha nói rằng cha ghét lính viễn chinh/ Lính Lê dương bán rẻ tâm hồn/ Cha chiến đấu cho chúng con được niềm kiêu hãnh/ Sao cha đành bỏ lại chiến khu/ Sao cha về thành/ Để công lao dật dờ ra biển/ Sao cha thở dài khi con vặn hỏi/ Sao cha căm thù anh bộ đội áo nâu/ Cha cần tiền cho con ăn học/ Phải dằn lòng làm công chức héo hon/ Ngày hai buổi cha chịu quyền dưới đám thực dân/ Đêm nghe tiếng súng vọng từ xa cha trằn trọc/ Cha uống rượu hay ngâm thơ cổ/ Cha dạy chúng con phải giữ tin yêu/ Độc lập hòa bình phải có tình thương làm căn bản/ Bây giờ cha đã thật già/ Đã dẫn chúng con qua mạch nước đen/ Đã bỏ lại gia tài cha vun xới/ Bây giờ chúng con đã lớn/ Chúng con đi rồi ai phụng dưỡng cha/ Nắng miền Nam đổ lửa/ Mưa miền Nam tả tơi/ Cha đã về hưu đi làm tư chức/ Tháng tháng mươi ngàn nuôi mẹ nuôi em/ Con không biết phải nói gì/ Khi buổi sáng thấy cha dong xe ra ngõ/ Áo trên người đeo chiếc thẻ ra vô/ Sở của cha toàn người lạ mặt/ Toàn người già toàn phụ nữ tanh ôi/ Phục sức hở hang làm cha choáng váng/ Nói nói cười cười làm nước mắt cha rơi/ Bây giờ cha ở nhà còm cõi/ Các em con rồi sẽ lớn khôn/ Sẽ theo gót cha khinh bỉ lũ viễn chinh/ Lũ mang quân phục mà vô tổ quốc/ Lũ không đất đai nên giày xéo quê người/ Chúng con đem xương máu đắp/ Nâng gót chân cha trở về nhàn hạ/ Cha cha ơi/ Đã tham gia kháng chiến mùa thu/ Đã làm công chức nuốt niềm tủi nhục/ Đã làm tư chức chịu đắng chịu cay/ Cha đã già xin giữ gìn nước mắt/ Sẽ có một chiều cha sẽ khóc măng/ Khi nhận chiếc đính bài con thường đeo nơi cổ/ Để hôm nay con nhìn cha lòng buồn tức tưởi/ Cha cha ơi/ Cha già rồi sao không ngơi nghỉ/ Cha già rồi sao còn gội nắng mưa.

Tôi tha thiết đề nghị Hoàng Khởi Phong cho giới thiệu bài thơ trên Tạp chí Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam và chính tôi sẽ viết lời giới thiệu. Tôi “kích” Phong: ông có dám cho đăng mà không sợ cộng đồng “thịt” không. Phong vặc lại “Ông đánh giá tôi xoàng vậy à? Nhưng không được thêm, bớt, chữa của tôi dù chỉ một cái dấu phẩy (,)”.

Bài thơ đã được Tổng Biên tập Hữu Thỉnh giữ đúng lời hứa không thay đổi dù chỉ là một dấu phẩy và nói với tôi qua điện thoại “Bài thơ xúc động quá!”.

Tôi kể hơi dài dòng mấy trường hợp cụ thể như Thụy Khuê, Vũ Quỳnh Hương, Hoàng Khởi Phong… trong nhiều nhà văn, nhà văn hóa “hải ngoại” mà tôi đã tiếp xúc một hoặc nhiều lần để khẳng định điều đã nêu ở đầu bài: nếu là văn chương, văn hóa đích thực thì sẽ gặp nhau, sẽ nhất tâm.

Huế tháng 4/2018
T.N.V
(TCSH352&SDB29/06-2018)




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • BỬU Ý

    Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí) từng sống mấy năm ở Huế khi còn rất trẻ: từ 1928 đến 1930. Đó là hai năm học cuối cùng cấp tiểu học ở nội trú tại trường Pellerin (còn gọi là trường Bình Linh, thành lập năm 1904, do các sư huynh dòng La San điều hành), trường ở rất gần nhà ga tàu lửa Huế. Thời gian này, cậu học trò 17, 18 tuổi chăm lo học hành, ở trong trường, sinh hoạt trong tầm kiểm soát nghiêm ngặt của các sư huynh.

  • LÊ QUANG KẾT
                   

    Giai điệu và lời hát đưa tôi về ngày tháng cũ - dấu chân một thuở “phượng hồng”: “Đường về Thành nội chiều sương mây bay/ Em đến quê anh đã bao ngày/ Đường về Thành nội chiều sương nắng mới ơ ơ ơ/ Hoa nở hương nồng bay khắp trời/ Em đi vô Thành nội nghe rộn lòng yêu thương/ Anh qua bao cánh rừng núi đồi về sông Hương/ Về quê mình lòng mừng vui không nói nên lời…” (Nguyễn Phước Quỳnh Đệ).

  • VŨ THU TRANG

    Đến nay, có thể nói trong các thi sĩ tiền chiến, tác giả “Lỡ bước sang ngang” là nhà thơ sải bước chân rong ruổi khắp chân trời góc bể nhất, mang tâm trạng u hoài đa cảm của kẻ lưu lạc.

  • TRẦN PHƯƠNG TRÀ

    Đầu năm 1942, cuốn “Thi nhân Việt Nam 1932-1941” của Hoài Thanh - Hoài Chân ra đời đánh dấu một sự kiện đặc biệt của phong trào Thơ mới. Đến nay, cuốn sách xuất bản đúng 70 năm. Cũng trong thời gian này, ngày 4.2-2012, tại Hà Nội, Xuân Tâm nhà thơ cuối cùng trong “Thi nhân Việt Nam” đã từ giã cõi đời ở tuổi 97.

  • HUYỀN TÔN NỮ HUỆ - TÂM
                                      Đoản văn

    Về Huế, tôi và cô bạn ngày xưa sau ba tám năm gặp lại, rủ nhau ăn những món đặc sản Huế. Lần này, y như những bợm nhậu, hai đứa quyết không no nê thì không về!

  • LƯƠNG AN - NGUYỄN TRỌNG HUẤN - LÊ ĐÌNH THỤY - HUỲNH HỮU TUỆ

  • BÙI KIM CHI

    Nghe tin Đồng Khánh tổ chức kỷ niệm 95 năm ngày thành lập trường, tôi bồi hồi xúc động đến rơi nước mắt... Con đường Lê Lợi - con đường áo lụa, con đường tình của tuổi học trò đang vờn quanh tôi.

  • KIM THOA

    Sao anh không về chơi Thôn Vỹ
    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên        
          
                       (Hàn Mạc Tử)

  • NGUYỄN VĂN UÔNG

    Hôm nay có một người du khách
    Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên         
     

    (Xóm Ngự Viên - Nguyễn Bính)

  • HOÀNG THỊ NHƯ HUY

    Tôi biết Vân Cù từ tấm bé qua bóng hình người đàn bà gầy đen, gánh đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, rảo khắp các xóm nhỏ ở Thành Nội, với giọng rao kéo dài: “Bún…bún…ún!” mà mẹ đã bao lần gọi mua những con bún trắng dẻo mềm.

  • LÊ QUANG KẾT                
                      Tùy bút

    Hình như văn chương viết về quê hương bao giờ cũng nặng lòng và giàu cảm xúc - dù rằng người viết chưa hẳn là tác giả ưu tú.

  • TỪ SƠN… Huế đã nuôi trọn thời ấu thơ và một phần tuổi niên thiếu của tôi. Từ nơi đây , cách mạng đã đưa tôi đi khắp mọi miền của đất nước. Hà Nội, chiến khu Việt Bắc, dọc Trường Sơn rồi chiến trường Nam Bộ. Năm tháng qua đi.. Huế bao giờ cũng là bình minh, là kỷ niệm trong sáng của đời tôi.

  • LÊ QUANG KẾT

    Quê tôi có con sông nhỏ hiền hòa nằm phía bắc thành phố - sông Bồ. Người sông Bồ lâu nay tự nhủ lòng điều giản dị: Bồ giang chỉ là phụ lưu của Hương giang - dòng sông lớn của tao nhân mặc khách và thi ca nhạc họa; hình như thế làm sông Bồ dường như càng bé và dung dị hơn bên cạnh dòng Hương huyền thoại ngạt ngào trong tâm tưởng của bao người.

  • HUY PHƯƠNG

    Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
    Mà mưa trắng đất, trắng trời Thừa Thiên         
                          
                                              (Tố Hữu)

  • PHAN THUẬN AN

    Huế là thành phố của những dòng sông. Trong phạm vi của thành phố thơ mộng này, đi đến bất cứ đâu, đứng ở bất kỳ chỗ nào, người ta cũng thấy sông, thấy nước. Nước là huyết mạch của cuộc sống con người. Sông là cội nguồn của sự phát triển văn hoá. Với sông với nước của mình, Huế đã phát triển theo nguyên tắc địa lý thông thường như bao thành phố xưa nay trên thế giới.

  • MAI KIM NGỌC

    Tôi về thăm Huế sau hơn ba thập niên xa cách.Thật vậy, tôi xa Huế không những từ 75, mà từ còn trước nữa. Tốt nghiệp trung học, tôi vào Sài Gòn học tiếp đại học và không trở về, cho đến năm nay.

  • HOÀNG HUẾ

    …Trong lòng chúng tôi, Huế muôn đời vẫn vĩnh viễn đẹp, vĩnh viễn thơ. Hơn nữa, Huế còn là mảnh đất của tổ tiên, mảnh đất của trái tim chúng tôi…

  • QUẾ HƯƠNG

    Năm tháng trước, về thăm Huế sau cơn đại hồng thủy, Huế ngập trong bùn và mùi xú uế. Lũ đã rút. Còn lại... dòng-sông-nước-mắt! Người ta tổng kết những thiệt hại hữu hình ước tính phải mươi năm sau bộ mặt kinh tế Thừa Thiên - Huế mới trở lại như ngày trước lũ. Còn nỗi đau vô hình... mãi mãi trĩu nặng trái tim Huế đa cảm.

  • THU TRANG

    Độ hai ba năm thôi, tôi không ghé về Huế, đầu năm 1999 này mới có dịp trở lại, thật tôi đã có cảm tưởng là có khá nhiều đổi mới.

  • TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ

    Có lẽ bởi một nỗi nhớ về Huế, nhớ về cội nguồn - nơi mình đã được sinh ra và được nuôi dưỡng trong những tháng năm dài khốn khó của đất nước, lại được nuôi dưỡng trong điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt. Khi đã mưa thì mưa cho đến thúi trời thúi đất: “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi/ Mà mưa xối xả trắng trời Trị Thiên…” (Tố Hữu). Và khi đã nắng thì nắng cho nẻ đầu, nẻ óc, nắng cho đến khi gió Lào nổi lên thổi cháy khô trời thì mới thôi.