Hòa hợp trong văn chương, văn hóa

09:40 15/06/2018

TÔ NHUẬN VỸ

Có những nội dung, định hướng trên tạp chí bây giờ đã bình thường, nhưng vào thời gian cách nay hai ba chục năm là quá chừng rối rắm, phức tạp. Như Hòa hợp trong văn chương, văn hóa.

Nhà văn Hoàng Khởi Phong và nhà văn Tô Nhuận Vỹ

Có một thực tế không thể chối cãi sau 30/4/1975: nhiều văn nghệ sĩ, nhà văn hóa miền Nam bỏ ra nước ngoài. Và, tự nhiên hình thành hai mảng văn chương, văn hóa “bên này” và “bên kia”. Có chuyện… lạ: thời kỳ Tạp chí Sông Hương (TCSH) mới ra đời, ở cả hai phía, có nhiều suy nghĩ RẤT GIỐNG NHAU: của ta thì chỉ có tốt và tốt hơn nữa và của địch thì chỉ có xấu hơn nữa!

Nhưng, TCSH tin rằng, ở cả hai “phía”, có những tác giả không đồng tình với tư duy “nổ bom” đó. Chúng tôi đã “gặp” những người bạn như Thụy Khuê. Chị đã viết: “…Ở khía cạnh này, văn học hải ngoại có những nét bảo thủ giống văn học chính thống trong nước: Ta đọc ta thôi. Người Việt hải ngoại không đọc hay không thích đọc những tác phẩm trong nước, nhất là những tác phẩm trong đó, người viết sử dụng những cấm kỵ như Mỹ, ngụy… hoặc có ý chê bai, miệt thị quân đội miền Nam… hoặc xưng tụng Bác, Đảng… Đó là bệnh chứng (syndrome) của chiến tranh, của lịch sử, khó có thể vượt qua. Mai Thảo, Túy Hồng tuyên bố: không đọc “họ”. Thế thì sao họ có thể đọc “ta”? Và họ và ta đều là người Việt. Chỉ khi nào người Việt vượt lên trên lịch sử, chịu khó đọc “nhau”… Đọc trong tinh thần đứng trên hệ lụy lịch sử, với tâm thức bình thản, gạn đục, khơi trong, tìm hiểu những hận thù, mê chấp của một thế hệ chiến tranh, giam cầm, tù hãm trong những cắt đứt giữa đất, đoạn giao giữa người. Đòi hỏi một nền văn học Việt Nam toàn diện thế kỷ XX thông qua các giai đoạn chiến tranh, trước tiên là thực hiện việc “đọc nhau”. Chấp nhận sự thái quá của nhau và như một tất yếu lịch sử và từ đó tìm ra chân giá trị của văn học và tư tưởng - nếu có - của mỗi tác giả của một thế kỷ mà lịch sử hung hãn đã dày xéo tác phẩm, ngộ độc văn chương” (Thụy Khuê - Thử tìm một lối tiếp cận…).

Chúng tôi cho rằng, nếu là văn chương, văn hóa thực sự vì con người, vì sự hưng thịnh của một đất nước Việt Nam đầy kiêu hãnh, thì sẽ có tiếng nói chung, sẽ ngồi lại đầm ấm với nhau. Và TCSH đã đúng khi đưa bàn tay Hòa hợp ra và đã lần lần có sự bắt tay của không ít người tâm huyết ở cả hai “phía”, như Thụy Khuê. Nhưng cũng phải nói ngay rằng, để duy trì sự đồng tâm này, TCSH đã không ít lần bị chụp những cái mũ… sắt nặng nề.

Nhiều năm sau khi được Nhà xuất bản Lê Trần, California xuất bản, tôi mới có cuốn TRĂM HOA VẪN NỞ TRÊN QUÊ HƯƠNG, dày gần 800 trang khổ lớn. Với tôi, đây là một tập hợp tư liệu văn học quý của văn chương, văn hóa Việt Nam, tuy có đủ nóng lạnh của cả “hai phía”. Trong tập sách đồ sộ này, rất nhiều tác giả, tác phẩm tiêu biểu cho thái độ dấn thân, tự tin dấn thân của TCSH: Hoàng Ngọc Hiến, Nguyên Ngọc, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Trần Dần, Hoàng Cầm, Trần Độ, Nguyễn Đình Thi, Lại Nguyên Ân, Lữ Phương, Phạm Xuân Nguyên, Trần Vàng Sao… Tập thể đông đảo người sưu tập, biên tập, viết bài… của tập sách này đã nhiệt tâm cổ vũ, hoan nghênh các tác giả mà TCSH tôn trọng đó, đã đủ nói rằng, Hòa hợp là có thực, một khi thần cốt sau này, khi lớp trẻ sung sức và mạnh mẽ như Hồ Đăng Thanh Ngọc chèo lái Sông Hương đã cùng Nguyễn Đức Tùng (Canada) khởi xướng đăng loạt bài về Văn học miền Nam trước đây và cùng nhóm thơ Tân Hình thức của Khế Iêm đẩy mạnh hoạt động theo hướng này thì TCSH đã tiến một bước dài với định hướng này. Tôi nhớ lại Doãn Quốc Sĩ đã trả lời Nguyễn Mạnh Trinh trên Hợp lưu 35 khi được hỏi “trong văn chương anh có nghĩ có biên giới giữa người cầm bút Việt Nam ở trong nước và ở hải ngoại? Hoặc giữa người ở miền Nam và ở miền Bắc?”:

- Văn chương Việt Nam là văn chương Việt Nam! Đơn thuần vậy thôi! Những người Việt miền Bắc, người Việt miền Nam, người Việt quốc nội, người Việt hải ngoại phản ảnh những gì xảy ra qua lăng kính cá tính văn chương của từng người. Cả nền văn chương Việt Nam nói chung do đó mà có được sắc thái lung linh phong phú. Tôi hiểu biên giới trong câu trên là như vậy.

Cũng không khác quan niệm của chúng tôi. Tôi nhớ đến Trần Vũ. Sau khi gởi cho tôi đọc truyện Giáo sĩ sâu sắc và độc đáo của mình, từ Paris anh gửi tiếp cho tôi truyện vừa Miền vĩnh phúc của Vũ Quỳnh Hương (ở San Jose, Hoa Kỳ). Vũ viết “Để anh hiểu thêm về văn học di dân. Chính những tác giả sống ngay trong xã hội Hoa Kỳ mới có thể viết được như thế”.

Vũ Quỳnh Hương vẽ lên mặt trái của xã hội Hoa Kỳ mà trong đó giá trị gia đình truyền thống bị phá vỡ một cách thê thảm. Tác phẩm viết về những người già sống những ngày cuối đời ở một viện dưỡng lão thật cô đơn, khắc khoải vì khao khát một chút hơi thở của người thân. Tôi xúc động khi đọc truyện này và thấy ngay ở Việt Nam đã xuất hiện không ít kẻ lắm tiền hoặc chạy theo đồng tiền mà bỏ bê con cái phải nuôi nấng, cha mẹ già phải phụng thờ và chúng tôi cũng đang chuẩn bị cảnh báo về tình trạng này. Qua nhiều lần liên hệ, chúng tôi đã gặp nhau nơi tấm lòng nhà văn với số phận con người, tôi viết lời giới thiệu và đăng Miền vĩnh phúc trên TCSH số Xuân 2007. Sau khi nhận được tờ tạp chí đăng nguyên văn truyện của mình, Vũ Quỳnh Hương gửi thư cho tôi:

“…Tôi cầm tờ báo trên tay với một sự ngạc nhiên dễ chịu. Lần trước tôi về Việt Nam (cũng khá lâu rồi) chỉ thấy báo in đẹp là những tờ báo in hình tài tử màu mè, không thấy một tờ báo văn học đứng đắn nào đẹp từ hình thức đến nội dung như Sông Hương bây giờ. Có lẽ nhiều năm qua tình hình báo chí cả nước có tiến triển, hay vì Huế là cái nôi của văn học miền Nam nên mới cưu mang sinh sản ra một tờ báo bề thế như Sông Hương?” (Thư ngày 30/5/2007).

Tôi không thể không nói tới Hoàng Khởi Phong.
 

Từ trái qua: nhà văn Trương Hồng Sơn, nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình, nhà văn Tô Nhuận Vỹ, bác sĩ Tôn Thất Chiểu; Wasington DC

Tôi đã qua lại Cali nhiều lần nhưng ở lại lâu và “la cà” với anh em văn nghệ, báo chí người Việt thì mãi đến giữa năm 2005. Nguyễn Bá Chung gởi một bức ảnh tôi tham gia một Hội thảo do William Joiner Center tổ chức để anh em ở Cali “nhận mặt”, bởi tên tuổi nhiều anh chị em bên đó tôi đã biết, cũng như tên tôi “chẳng xa lạ gì với bển”, như Chung nói, nhưng chúng tôi chưa bao giờ gặp nhau. Khi đợi nhận vali ở gần cửa ra sân bay, tôi đã thấy một nhóm anh em chỉ chỉ trỏ trỏ vô hướng tôi. Tôi đoán nhóm anh em bạn Chung ra đón. Lúc tôi đẩy vali ra thì một anh râu chỏm mạnh mẽ bước về phía tôi. Khi đến gần, anh chàng với bước đi chắc nịch, tự tin đó đã hỏi bằng giọng oang oang:

- Ông có phải là Tô Nhuận Vỹ không?

- Hoàng Khởi Phong, đúng không? - Tôi cũng đoán ngay.

- Tôi thắng thầu rồi! - Phong vui vẻ la lớn trước sự ngạc nhiên của tôi - Nghĩa là, mấy anh em đều muốn kéo ông về nhà, nhưng tôi thắng, ông về nhà tôi! - Vừa nói, Phong vừa kéo vali cho tôi ra xe của anh.

Trên đường về nhà, tôi nhắc lại chuyện khi đạo diễn Trần Văn Thủy ở lại nhà Phong đã có mấy nhóm kéo tới biểu tình phản đối Phong chứa chấp cộng sản Hà Nội qua. Phong nói ngay, giọng có vẻ xẵng:

- Tôi không chơi trò ý thức hệ. Tôi chơi với người tốt, người đáng chơi thôi.

- Vậy anh đã biết chi về tôi mà…

Phong cắt ngang lời tôi:

- Ông đã làm Tổng Biên tập Sông Hương thì ông không phải là một thằng hèn. Đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai là những gì ông đã làm để cứu đứa con gái khi bị tai nạn khủng khiếp vừa qua, ở đây nhiều người đã nghe. Với tôi, hai điều đó là đủ!

Các họa sĩ: Đinh Cường, Nguyễn Đình Thuần (ở Mỹ), bà Séphani (Pháp) cùng anh em văn nghệ sĩ ở Huế ở Gác Trịnh, 11/2013


Tôi hơi ngẩn ra. Hai điều… đúng là quá đủ để hiểu về tôi. Kiểu ăn nói không màu mè, tác phong hơi bặm trợn, nhưng rõ ra một tấm lòng bộc trực, nhạy bén. Lần đó Phong đã đọc cho tôi nghe nhiều bài thơ tâm đắc. Hoàng Khởi Phong đã có nhiều thơ trước 75. Đã có nhiều bút ký, truyện ngắn, hồi ký, tiểu thuyết sau 75 và đang gấp rút hoàn thành trường thiên tiểu thuyết Người trăm năm cũ. Đa dạng như cuộc đời trầm luân của anh: từng là Đại úy Quân cảnh, giám thị trại giam, thợ cơ khí, người bán xăng, nhà báo… Nhiều trang viết của anh khá dữ dội và dữ tợn. Đó là văn xuôi. Còn thơ, da diết và trải lòng. Anh dữ dội mà bao dung, nhân ái. Bao nhiêu năm xa quê mà hồn vía vẫn ở một làng quê Hải Dương, nơi anh ra đời. Tôi đọc thơ Hoàng Khởi Phong từ trước 75, trong những ngày xe tăng Mỹ cày nát vùng cát Phú Vang và đêm sững sờ nhìn những đám cháy loang lổ lưng chừng trời vùng Tây Huế bị napal. Những bài thơ in roneo vì không được cấp giấy phép xuất bản, chỉ gửi biếu bạn bè, tập Phục hồi quyền chức làm người mà một người bạn giáo chức Huế cho tôi mượn. Mấy chục năm qua, một bài thơ lạ lùng trong tập ấy cứ đeo lấy trí nhớ của tôi mãi, bài Ghềnh thác cho cha. Số phận truân chuyên, bi hùng của đất nước đã nhập vào từng làng xóm, từng gia đình, từng con người để thử thách, để giằng xé, để chia nát… nhưng hơi thở của nòi giống, lòng hiếu nghĩa với đức sinh thành và cái tâm đối với con người vẫn nguyên vẹn, dù trong xót xa cay đắng. Theo yêu cầu của tôi, Phong hai lần đọc cho tôi nghe bài thơ, lần sau chậm hơn lần trước. Hoàng Khởi Phong kể rằng, anh là đứa học hành không ra gì nhất, sống văng mạng nhất trong những người con nên khiến cha anh thất vọng nhất. Nhưng trong một lần về phép ngắn, anh đã đọc bài thơ này cho cha nghe trước giờ quay lại mặt trận. Cha đã sững sờ nhìn anh. Từ đó anh là đứa con mà ông thương yêu, chờ đón nhất nhà. Cha mệt rồi sao không ngơi nghỉ/ Cha già rồi sao còn gội nắng mưa/ Con nhìn cha không nói được gì/ Khi quá khứ cha viết bằng tủi nhục/ Có phải cha đã dùng vũ khí thô sơ/ Gậy tầm vông chui luồn ngõ hẹp/ Tự vệ Thành không giữ nổi Thăng long/ Cha đã bỏ theo kháng chiến mùa thu bừng ngọn lửa/ Cha đã kể con nghe/ Về ba lô vá mộng sông hồ/ Về anh lính biên khu mơ về đồng nội/ Cuộc đời cha trôi trên dòng sông/ Có nhiều ghềnh thác/ Cha nói rằng cha ghét lính viễn chinh/ Lính Lê dương bán rẻ tâm hồn/ Cha chiến đấu cho chúng con được niềm kiêu hãnh/ Sao cha đành bỏ lại chiến khu/ Sao cha về thành/ Để công lao dật dờ ra biển/ Sao cha thở dài khi con vặn hỏi/ Sao cha căm thù anh bộ đội áo nâu/ Cha cần tiền cho con ăn học/ Phải dằn lòng làm công chức héo hon/ Ngày hai buổi cha chịu quyền dưới đám thực dân/ Đêm nghe tiếng súng vọng từ xa cha trằn trọc/ Cha uống rượu hay ngâm thơ cổ/ Cha dạy chúng con phải giữ tin yêu/ Độc lập hòa bình phải có tình thương làm căn bản/ Bây giờ cha đã thật già/ Đã dẫn chúng con qua mạch nước đen/ Đã bỏ lại gia tài cha vun xới/ Bây giờ chúng con đã lớn/ Chúng con đi rồi ai phụng dưỡng cha/ Nắng miền Nam đổ lửa/ Mưa miền Nam tả tơi/ Cha đã về hưu đi làm tư chức/ Tháng tháng mươi ngàn nuôi mẹ nuôi em/ Con không biết phải nói gì/ Khi buổi sáng thấy cha dong xe ra ngõ/ Áo trên người đeo chiếc thẻ ra vô/ Sở của cha toàn người lạ mặt/ Toàn người già toàn phụ nữ tanh ôi/ Phục sức hở hang làm cha choáng váng/ Nói nói cười cười làm nước mắt cha rơi/ Bây giờ cha ở nhà còm cõi/ Các em con rồi sẽ lớn khôn/ Sẽ theo gót cha khinh bỉ lũ viễn chinh/ Lũ mang quân phục mà vô tổ quốc/ Lũ không đất đai nên giày xéo quê người/ Chúng con đem xương máu đắp/ Nâng gót chân cha trở về nhàn hạ/ Cha cha ơi/ Đã tham gia kháng chiến mùa thu/ Đã làm công chức nuốt niềm tủi nhục/ Đã làm tư chức chịu đắng chịu cay/ Cha đã già xin giữ gìn nước mắt/ Sẽ có một chiều cha sẽ khóc măng/ Khi nhận chiếc đính bài con thường đeo nơi cổ/ Để hôm nay con nhìn cha lòng buồn tức tưởi/ Cha cha ơi/ Cha già rồi sao không ngơi nghỉ/ Cha già rồi sao còn gội nắng mưa.

Tôi tha thiết đề nghị Hoàng Khởi Phong cho giới thiệu bài thơ trên Tạp chí Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam và chính tôi sẽ viết lời giới thiệu. Tôi “kích” Phong: ông có dám cho đăng mà không sợ cộng đồng “thịt” không. Phong vặc lại “Ông đánh giá tôi xoàng vậy à? Nhưng không được thêm, bớt, chữa của tôi dù chỉ một cái dấu phẩy (,)”.

Bài thơ đã được Tổng Biên tập Hữu Thỉnh giữ đúng lời hứa không thay đổi dù chỉ là một dấu phẩy và nói với tôi qua điện thoại “Bài thơ xúc động quá!”.

Tôi kể hơi dài dòng mấy trường hợp cụ thể như Thụy Khuê, Vũ Quỳnh Hương, Hoàng Khởi Phong… trong nhiều nhà văn, nhà văn hóa “hải ngoại” mà tôi đã tiếp xúc một hoặc nhiều lần để khẳng định điều đã nêu ở đầu bài: nếu là văn chương, văn hóa đích thực thì sẽ gặp nhau, sẽ nhất tâm.

Huế tháng 4/2018
T.N.V
(TCSH352&SDB29/06-2018)




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • HỒ DZẾNH
             Hồi ký

    Mai sau dù có bao giờ
    Đốt lò hương ấy, so tơ phím này

                                 NGUYỄN DU

  • LÝ HOÀI THU

    Tôi nhớ… một chiều cuối hạ năm 1972, trên con đường làng lát gạch tại nơi sơ tán Ứng Hòa - Hà Tây cũ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy thầy. Lúc đó lớp Văn K16 của chúng tôi đang bước vào những tuần cuối của học kỳ II năm thứ nhất.

  • PHẠM THỊ CÚC

    (Tặng bạn bè Cầu Ngói Thanh Toàn nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ)

  • Người ta vẫn nói Tô Hoài là “nhà văn của thiếu nhi”. Hình như chưa ai gọi ông là “nhà văn của tuổi già”. Cho dù giai đoạn cuối trong sự nghiệp của ông – cũng là giai đoạn khiến Tô Hoài trở thành “sự kiện” của đời sống văn học đương đại chứ không chỉ là sự nối dài những gì đã định hình tên tuổi ông từ quá khứ - sáng tác của ông thường xoay quanh một hình tượng người kể chuyện từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều thăng trầm của đời sống, giờ đây ngồi nhớ lại, ngẫm lại, viết lại quá khứ, không phải nhằm dạy dỗ, khuyên nhủ gì ai, mà chỉ vì muốn lưu giữ và thú nhận.

  • CAO THỊ QUẾ HƯƠNG

    Tôi được gặp và quen nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào những ngày đầu mùa hè năm 1966 khi anh cùng anh Trần Viết Ngạc đến trụ sở Tổng hội Sinh viên, số 4 Duy Tân, Sài Gòn trình diễn các bài hát trong tập “Ca khúc da vàng”.

  • THÁI KIM LAN

    Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.

  • Nhung nhăng, tần suất ấy dường như khá dày, là ngôn từ của nhà văn Tô Hoài để vận vào những trường hợp, lắm khi chả phải đi đứng thế này thế nọ mà đương bập vào việc chi đó?

  • Tôi được quen biết GS. Nguyễn Khắc Phi khá muộn. Đó là vào khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, khi anh được chuyển công tác từ trường ĐHSP Vinh ra khoa Văn ĐHSPHN.

  • Năm 1960, tôi học lớp cuối cấp 3. Một hôm, ở khu tập  thể trường cấp 2 tranh nứa của tôi ở tỉnh, vợ một thầy giáo dạy Văn, cùng nhà, mang về cho chồng một cuốn sách mới. Chị là người bán sách.

  • DƯƠNG PHƯỚC THU

    LTS: Trên số báo 5965 ra ngày 07/02/2014, báo Thừa Thiên Huế có bài “Vài điều trong các bài viết về Cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, của tác giả Phạm Xuân Phụng, trong đó có nhắc nhiều đến các bài viết về Đại tướng đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 12/2013 (số ĐB thứ 11), và cho rằng có nhiều sai sót trong các bài viết đó.

  • NGUYỄN THỊ PHƯỚC LIÊN

    (Thương nhớ Cẩm Nhung của Hương, Lại, Nguyệt, Liên)

  • BÙI KIM CHI

    Trời cuối thu. Rất đẹp. Lá phượng vàng bay đầy đường. Tôi đang trong tâm trạng náo nức của một thoáng hương xưa với con đường Bộ Học (nay là Hàn Thuyên) của một thời mà thời gian này thuở ấy tôi đã cắp sách đến trường. Thời con gái của tôi thênh thang trở về với “cặp sách, nón lá, tóc xõa ngang vai, đạp xe đạp…”. Mắt rưng rưng… để rồi…

  • LÊ MINH
    Nguyên Tư lệnh chiến dịch Bí thư Thành ủy Huế (*)

    … Chỉ còn hai ngày nữa là chiến dịch mở; tôi xin bàn giao lại cho Quân khu chức vụ "chính ủy Ban chuẩn bị chiến trường" để quay về lo việc của Thành ủy mà lúc đó tôi vẫn là Bí thư.

  • NGUYỄN KHOA BỘI LAN

    Cách đây mấy chục năm ở thôn Gia Lạc (hiện nay là thôn Tây Thượng) xã Phú Thượng có hai nhà thơ khá quen thuộc của bà con yêu thơ xứ Huế. Đó là bác Thúc Giạ (Ưng Bình) chủ soái của Hương Bình thi xã và cha tôi, Thảo Am (Nguyễn Khoa Vi) phó soái.

  • (SHO). Nhân dân Việt Nam khắc sâu và nhớ mãi cuộc chiến đấu can trường bảo vệ biên giới tổ quốc thân yêu tháng 2/1979. Điều đó đã thêm vào trang sử hào hùng về tinh thần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc.

  • NGUYỄN CƯƠNG

    Có nhiều yếu tố để Cố đô Huế là một trung tâm văn hóa du lịch, trong đó có những con đường rợp bóng cây xanh làm cho Huế thơ mộng hơn, như đường Lê Lợi chạy dọc bên bờ sông Hương, đường 23/8 đi qua trước Đại Nội, rồi những con đường với những hàng cây phượng vỹ, xà cừ, bằng lăng, me xanh... điểm tô cho Huế.

  • HOÀNG HƯƠNG TRANG

    Cách nay hơn một thế kỷ, người Huế, kể cả lớp lao động, nông dân, buôn bán cho đến các cậu mợ, các thầy các cô, các ông già bà lão, kể cả giới quý tộc, đều ghiền một lại thuốc lá gọi là thuốc Cẩm Lệ.

  • PHẠM HỮU THU

    Với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy lâm thời và Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) của tỉnh Thừa Thiên - Huế, đầu năm 1942, sau khi vượt ngục trở về, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã có quãng thời gian gắn bó với vùng đầm Cầu Hai, nơi có cồn Rau Câu, được Tỉnh ủy lâm thời chọn làm địa điểm huấn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
    Để đảm bảo bí mật và an toàn, Tỉnh ủy đã chọn một số cơ sở là cư dân thủy diện đảm trách việc bảo vệ và đưa đón cán bộ.
    Số cơ sở này chủ yếu là dân vạn đò của làng chài Nghi Xuân.

  • TRẦN NGUYÊN

    Thăm Khu lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, như được trở về mái nhà thân thương nơi làng quê yêu dấu. Những ngôi nhà bình dị nối nhau với liếp cửa mở rộng đón ánh nắng rọi vào góc sâu nhất.

  • PHẠM HỮU THU
           Nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 - 12

    “Có những sự thật quá lớn lao của một thời, đến nỗi hậu thế nhìn qua lớp sương mù của thời gian, không thể nào tin nổi” (Nhà văn Phùng Quán).