Hòa hợp trong văn chương, văn hóa

09:40 15/06/2018

TÔ NHUẬN VỸ

Có những nội dung, định hướng trên tạp chí bây giờ đã bình thường, nhưng vào thời gian cách nay hai ba chục năm là quá chừng rối rắm, phức tạp. Như Hòa hợp trong văn chương, văn hóa.

Nhà văn Hoàng Khởi Phong và nhà văn Tô Nhuận Vỹ

Có một thực tế không thể chối cãi sau 30/4/1975: nhiều văn nghệ sĩ, nhà văn hóa miền Nam bỏ ra nước ngoài. Và, tự nhiên hình thành hai mảng văn chương, văn hóa “bên này” và “bên kia”. Có chuyện… lạ: thời kỳ Tạp chí Sông Hương (TCSH) mới ra đời, ở cả hai phía, có nhiều suy nghĩ RẤT GIỐNG NHAU: của ta thì chỉ có tốt và tốt hơn nữa và của địch thì chỉ có xấu hơn nữa!

Nhưng, TCSH tin rằng, ở cả hai “phía”, có những tác giả không đồng tình với tư duy “nổ bom” đó. Chúng tôi đã “gặp” những người bạn như Thụy Khuê. Chị đã viết: “…Ở khía cạnh này, văn học hải ngoại có những nét bảo thủ giống văn học chính thống trong nước: Ta đọc ta thôi. Người Việt hải ngoại không đọc hay không thích đọc những tác phẩm trong nước, nhất là những tác phẩm trong đó, người viết sử dụng những cấm kỵ như Mỹ, ngụy… hoặc có ý chê bai, miệt thị quân đội miền Nam… hoặc xưng tụng Bác, Đảng… Đó là bệnh chứng (syndrome) của chiến tranh, của lịch sử, khó có thể vượt qua. Mai Thảo, Túy Hồng tuyên bố: không đọc “họ”. Thế thì sao họ có thể đọc “ta”? Và họ và ta đều là người Việt. Chỉ khi nào người Việt vượt lên trên lịch sử, chịu khó đọc “nhau”… Đọc trong tinh thần đứng trên hệ lụy lịch sử, với tâm thức bình thản, gạn đục, khơi trong, tìm hiểu những hận thù, mê chấp của một thế hệ chiến tranh, giam cầm, tù hãm trong những cắt đứt giữa đất, đoạn giao giữa người. Đòi hỏi một nền văn học Việt Nam toàn diện thế kỷ XX thông qua các giai đoạn chiến tranh, trước tiên là thực hiện việc “đọc nhau”. Chấp nhận sự thái quá của nhau và như một tất yếu lịch sử và từ đó tìm ra chân giá trị của văn học và tư tưởng - nếu có - của mỗi tác giả của một thế kỷ mà lịch sử hung hãn đã dày xéo tác phẩm, ngộ độc văn chương” (Thụy Khuê - Thử tìm một lối tiếp cận…).

Chúng tôi cho rằng, nếu là văn chương, văn hóa thực sự vì con người, vì sự hưng thịnh của một đất nước Việt Nam đầy kiêu hãnh, thì sẽ có tiếng nói chung, sẽ ngồi lại đầm ấm với nhau. Và TCSH đã đúng khi đưa bàn tay Hòa hợp ra và đã lần lần có sự bắt tay của không ít người tâm huyết ở cả hai “phía”, như Thụy Khuê. Nhưng cũng phải nói ngay rằng, để duy trì sự đồng tâm này, TCSH đã không ít lần bị chụp những cái mũ… sắt nặng nề.

Nhiều năm sau khi được Nhà xuất bản Lê Trần, California xuất bản, tôi mới có cuốn TRĂM HOA VẪN NỞ TRÊN QUÊ HƯƠNG, dày gần 800 trang khổ lớn. Với tôi, đây là một tập hợp tư liệu văn học quý của văn chương, văn hóa Việt Nam, tuy có đủ nóng lạnh của cả “hai phía”. Trong tập sách đồ sộ này, rất nhiều tác giả, tác phẩm tiêu biểu cho thái độ dấn thân, tự tin dấn thân của TCSH: Hoàng Ngọc Hiến, Nguyên Ngọc, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Trần Dần, Hoàng Cầm, Trần Độ, Nguyễn Đình Thi, Lại Nguyên Ân, Lữ Phương, Phạm Xuân Nguyên, Trần Vàng Sao… Tập thể đông đảo người sưu tập, biên tập, viết bài… của tập sách này đã nhiệt tâm cổ vũ, hoan nghênh các tác giả mà TCSH tôn trọng đó, đã đủ nói rằng, Hòa hợp là có thực, một khi thần cốt sau này, khi lớp trẻ sung sức và mạnh mẽ như Hồ Đăng Thanh Ngọc chèo lái Sông Hương đã cùng Nguyễn Đức Tùng (Canada) khởi xướng đăng loạt bài về Văn học miền Nam trước đây và cùng nhóm thơ Tân Hình thức của Khế Iêm đẩy mạnh hoạt động theo hướng này thì TCSH đã tiến một bước dài với định hướng này. Tôi nhớ lại Doãn Quốc Sĩ đã trả lời Nguyễn Mạnh Trinh trên Hợp lưu 35 khi được hỏi “trong văn chương anh có nghĩ có biên giới giữa người cầm bút Việt Nam ở trong nước và ở hải ngoại? Hoặc giữa người ở miền Nam và ở miền Bắc?”:

- Văn chương Việt Nam là văn chương Việt Nam! Đơn thuần vậy thôi! Những người Việt miền Bắc, người Việt miền Nam, người Việt quốc nội, người Việt hải ngoại phản ảnh những gì xảy ra qua lăng kính cá tính văn chương của từng người. Cả nền văn chương Việt Nam nói chung do đó mà có được sắc thái lung linh phong phú. Tôi hiểu biên giới trong câu trên là như vậy.

Cũng không khác quan niệm của chúng tôi. Tôi nhớ đến Trần Vũ. Sau khi gởi cho tôi đọc truyện Giáo sĩ sâu sắc và độc đáo của mình, từ Paris anh gửi tiếp cho tôi truyện vừa Miền vĩnh phúc của Vũ Quỳnh Hương (ở San Jose, Hoa Kỳ). Vũ viết “Để anh hiểu thêm về văn học di dân. Chính những tác giả sống ngay trong xã hội Hoa Kỳ mới có thể viết được như thế”.

Vũ Quỳnh Hương vẽ lên mặt trái của xã hội Hoa Kỳ mà trong đó giá trị gia đình truyền thống bị phá vỡ một cách thê thảm. Tác phẩm viết về những người già sống những ngày cuối đời ở một viện dưỡng lão thật cô đơn, khắc khoải vì khao khát một chút hơi thở của người thân. Tôi xúc động khi đọc truyện này và thấy ngay ở Việt Nam đã xuất hiện không ít kẻ lắm tiền hoặc chạy theo đồng tiền mà bỏ bê con cái phải nuôi nấng, cha mẹ già phải phụng thờ và chúng tôi cũng đang chuẩn bị cảnh báo về tình trạng này. Qua nhiều lần liên hệ, chúng tôi đã gặp nhau nơi tấm lòng nhà văn với số phận con người, tôi viết lời giới thiệu và đăng Miền vĩnh phúc trên TCSH số Xuân 2007. Sau khi nhận được tờ tạp chí đăng nguyên văn truyện của mình, Vũ Quỳnh Hương gửi thư cho tôi:

“…Tôi cầm tờ báo trên tay với một sự ngạc nhiên dễ chịu. Lần trước tôi về Việt Nam (cũng khá lâu rồi) chỉ thấy báo in đẹp là những tờ báo in hình tài tử màu mè, không thấy một tờ báo văn học đứng đắn nào đẹp từ hình thức đến nội dung như Sông Hương bây giờ. Có lẽ nhiều năm qua tình hình báo chí cả nước có tiến triển, hay vì Huế là cái nôi của văn học miền Nam nên mới cưu mang sinh sản ra một tờ báo bề thế như Sông Hương?” (Thư ngày 30/5/2007).

Tôi không thể không nói tới Hoàng Khởi Phong.
 

Từ trái qua: nhà văn Trương Hồng Sơn, nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình, nhà văn Tô Nhuận Vỹ, bác sĩ Tôn Thất Chiểu; Wasington DC

Tôi đã qua lại Cali nhiều lần nhưng ở lại lâu và “la cà” với anh em văn nghệ, báo chí người Việt thì mãi đến giữa năm 2005. Nguyễn Bá Chung gởi một bức ảnh tôi tham gia một Hội thảo do William Joiner Center tổ chức để anh em ở Cali “nhận mặt”, bởi tên tuổi nhiều anh chị em bên đó tôi đã biết, cũng như tên tôi “chẳng xa lạ gì với bển”, như Chung nói, nhưng chúng tôi chưa bao giờ gặp nhau. Khi đợi nhận vali ở gần cửa ra sân bay, tôi đã thấy một nhóm anh em chỉ chỉ trỏ trỏ vô hướng tôi. Tôi đoán nhóm anh em bạn Chung ra đón. Lúc tôi đẩy vali ra thì một anh râu chỏm mạnh mẽ bước về phía tôi. Khi đến gần, anh chàng với bước đi chắc nịch, tự tin đó đã hỏi bằng giọng oang oang:

- Ông có phải là Tô Nhuận Vỹ không?

- Hoàng Khởi Phong, đúng không? - Tôi cũng đoán ngay.

- Tôi thắng thầu rồi! - Phong vui vẻ la lớn trước sự ngạc nhiên của tôi - Nghĩa là, mấy anh em đều muốn kéo ông về nhà, nhưng tôi thắng, ông về nhà tôi! - Vừa nói, Phong vừa kéo vali cho tôi ra xe của anh.

Trên đường về nhà, tôi nhắc lại chuyện khi đạo diễn Trần Văn Thủy ở lại nhà Phong đã có mấy nhóm kéo tới biểu tình phản đối Phong chứa chấp cộng sản Hà Nội qua. Phong nói ngay, giọng có vẻ xẵng:

- Tôi không chơi trò ý thức hệ. Tôi chơi với người tốt, người đáng chơi thôi.

- Vậy anh đã biết chi về tôi mà…

Phong cắt ngang lời tôi:

- Ông đã làm Tổng Biên tập Sông Hương thì ông không phải là một thằng hèn. Đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai là những gì ông đã làm để cứu đứa con gái khi bị tai nạn khủng khiếp vừa qua, ở đây nhiều người đã nghe. Với tôi, hai điều đó là đủ!

Các họa sĩ: Đinh Cường, Nguyễn Đình Thuần (ở Mỹ), bà Séphani (Pháp) cùng anh em văn nghệ sĩ ở Huế ở Gác Trịnh, 11/2013


Tôi hơi ngẩn ra. Hai điều… đúng là quá đủ để hiểu về tôi. Kiểu ăn nói không màu mè, tác phong hơi bặm trợn, nhưng rõ ra một tấm lòng bộc trực, nhạy bén. Lần đó Phong đã đọc cho tôi nghe nhiều bài thơ tâm đắc. Hoàng Khởi Phong đã có nhiều thơ trước 75. Đã có nhiều bút ký, truyện ngắn, hồi ký, tiểu thuyết sau 75 và đang gấp rút hoàn thành trường thiên tiểu thuyết Người trăm năm cũ. Đa dạng như cuộc đời trầm luân của anh: từng là Đại úy Quân cảnh, giám thị trại giam, thợ cơ khí, người bán xăng, nhà báo… Nhiều trang viết của anh khá dữ dội và dữ tợn. Đó là văn xuôi. Còn thơ, da diết và trải lòng. Anh dữ dội mà bao dung, nhân ái. Bao nhiêu năm xa quê mà hồn vía vẫn ở một làng quê Hải Dương, nơi anh ra đời. Tôi đọc thơ Hoàng Khởi Phong từ trước 75, trong những ngày xe tăng Mỹ cày nát vùng cát Phú Vang và đêm sững sờ nhìn những đám cháy loang lổ lưng chừng trời vùng Tây Huế bị napal. Những bài thơ in roneo vì không được cấp giấy phép xuất bản, chỉ gửi biếu bạn bè, tập Phục hồi quyền chức làm người mà một người bạn giáo chức Huế cho tôi mượn. Mấy chục năm qua, một bài thơ lạ lùng trong tập ấy cứ đeo lấy trí nhớ của tôi mãi, bài Ghềnh thác cho cha. Số phận truân chuyên, bi hùng của đất nước đã nhập vào từng làng xóm, từng gia đình, từng con người để thử thách, để giằng xé, để chia nát… nhưng hơi thở của nòi giống, lòng hiếu nghĩa với đức sinh thành và cái tâm đối với con người vẫn nguyên vẹn, dù trong xót xa cay đắng. Theo yêu cầu của tôi, Phong hai lần đọc cho tôi nghe bài thơ, lần sau chậm hơn lần trước. Hoàng Khởi Phong kể rằng, anh là đứa học hành không ra gì nhất, sống văng mạng nhất trong những người con nên khiến cha anh thất vọng nhất. Nhưng trong một lần về phép ngắn, anh đã đọc bài thơ này cho cha nghe trước giờ quay lại mặt trận. Cha đã sững sờ nhìn anh. Từ đó anh là đứa con mà ông thương yêu, chờ đón nhất nhà. Cha mệt rồi sao không ngơi nghỉ/ Cha già rồi sao còn gội nắng mưa/ Con nhìn cha không nói được gì/ Khi quá khứ cha viết bằng tủi nhục/ Có phải cha đã dùng vũ khí thô sơ/ Gậy tầm vông chui luồn ngõ hẹp/ Tự vệ Thành không giữ nổi Thăng long/ Cha đã bỏ theo kháng chiến mùa thu bừng ngọn lửa/ Cha đã kể con nghe/ Về ba lô vá mộng sông hồ/ Về anh lính biên khu mơ về đồng nội/ Cuộc đời cha trôi trên dòng sông/ Có nhiều ghềnh thác/ Cha nói rằng cha ghét lính viễn chinh/ Lính Lê dương bán rẻ tâm hồn/ Cha chiến đấu cho chúng con được niềm kiêu hãnh/ Sao cha đành bỏ lại chiến khu/ Sao cha về thành/ Để công lao dật dờ ra biển/ Sao cha thở dài khi con vặn hỏi/ Sao cha căm thù anh bộ đội áo nâu/ Cha cần tiền cho con ăn học/ Phải dằn lòng làm công chức héo hon/ Ngày hai buổi cha chịu quyền dưới đám thực dân/ Đêm nghe tiếng súng vọng từ xa cha trằn trọc/ Cha uống rượu hay ngâm thơ cổ/ Cha dạy chúng con phải giữ tin yêu/ Độc lập hòa bình phải có tình thương làm căn bản/ Bây giờ cha đã thật già/ Đã dẫn chúng con qua mạch nước đen/ Đã bỏ lại gia tài cha vun xới/ Bây giờ chúng con đã lớn/ Chúng con đi rồi ai phụng dưỡng cha/ Nắng miền Nam đổ lửa/ Mưa miền Nam tả tơi/ Cha đã về hưu đi làm tư chức/ Tháng tháng mươi ngàn nuôi mẹ nuôi em/ Con không biết phải nói gì/ Khi buổi sáng thấy cha dong xe ra ngõ/ Áo trên người đeo chiếc thẻ ra vô/ Sở của cha toàn người lạ mặt/ Toàn người già toàn phụ nữ tanh ôi/ Phục sức hở hang làm cha choáng váng/ Nói nói cười cười làm nước mắt cha rơi/ Bây giờ cha ở nhà còm cõi/ Các em con rồi sẽ lớn khôn/ Sẽ theo gót cha khinh bỉ lũ viễn chinh/ Lũ mang quân phục mà vô tổ quốc/ Lũ không đất đai nên giày xéo quê người/ Chúng con đem xương máu đắp/ Nâng gót chân cha trở về nhàn hạ/ Cha cha ơi/ Đã tham gia kháng chiến mùa thu/ Đã làm công chức nuốt niềm tủi nhục/ Đã làm tư chức chịu đắng chịu cay/ Cha đã già xin giữ gìn nước mắt/ Sẽ có một chiều cha sẽ khóc măng/ Khi nhận chiếc đính bài con thường đeo nơi cổ/ Để hôm nay con nhìn cha lòng buồn tức tưởi/ Cha cha ơi/ Cha già rồi sao không ngơi nghỉ/ Cha già rồi sao còn gội nắng mưa.

Tôi tha thiết đề nghị Hoàng Khởi Phong cho giới thiệu bài thơ trên Tạp chí Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam và chính tôi sẽ viết lời giới thiệu. Tôi “kích” Phong: ông có dám cho đăng mà không sợ cộng đồng “thịt” không. Phong vặc lại “Ông đánh giá tôi xoàng vậy à? Nhưng không được thêm, bớt, chữa của tôi dù chỉ một cái dấu phẩy (,)”.

Bài thơ đã được Tổng Biên tập Hữu Thỉnh giữ đúng lời hứa không thay đổi dù chỉ là một dấu phẩy và nói với tôi qua điện thoại “Bài thơ xúc động quá!”.

Tôi kể hơi dài dòng mấy trường hợp cụ thể như Thụy Khuê, Vũ Quỳnh Hương, Hoàng Khởi Phong… trong nhiều nhà văn, nhà văn hóa “hải ngoại” mà tôi đã tiếp xúc một hoặc nhiều lần để khẳng định điều đã nêu ở đầu bài: nếu là văn chương, văn hóa đích thực thì sẽ gặp nhau, sẽ nhất tâm.

Huế tháng 4/2018
T.N.V
(TCSH352&SDB29/06-2018)




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHẠM THỊ CÚC  

    Chú tên là Đô, người làng Thanh Thủy, nhưng không phải làng Thanh Thủy Chánh có Cầu Ngói, mà là Thanh Thủy Thượng, bây giờ gọi là Thủy Dương, cùng quê với nhà thơ Phùng Quán. Chú không phải là nhà thơ nên ngất ngưỡng kiểu khác, đặc biệt hơn.

  • NGÔ THỊ Ý NHI

    Ở Huế, có những buổi sáng cứ thích nằm nghe tiếng con nít rủ nhau đến trường ríu rít như chim. Bình yên đến lạ! Thành phố nhỏ bé, nhịp sống không vội vàng, những con đường hiền lành, êm ả trẻ con dễ dàng đi bộ.

  • Kỷ niệm 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2019) và 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2019)

    PHẠM THUẬN THÀNH

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂN

    Năm Nhâm Tý (1672), chúa Trịnh xua 180 ngàn quân vào Nam, có ý vượt sông Gianh đánh chúa Nguyễn. Trấn thủ Bố Chính là Nguyễn Triều Văn hoảng sợ chạy vô Kim Long cấp báo với Hiền Vương (tức chúa Nguyễn Phúc Tần).

  • BÙI KIM CHI   

    Ngày xưa, cách đây 60 năm, ở đường Duy Tân Huế từ cầu Trường Tiền đi xuống, qua khỏi Morin (cũ), đi một đoạn, có một địa điểm mang cái tên nghe là lạ Ngọ Phạn Điếm. Càng lạ và đặc biệt hơn nữa, Ngọ Phạn Điếm chỉ đón khách vào ăn một bữa trưa (demi-pension) trong ngày là học sinh của Trường Nữ Trung học Đồng Khánh Huế mà thôi.

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG 
                       Bút ký 

    KỶ NIỆM 20 NĂM CƠN LŨ LỊCH SỬ 1999

  • NGUYỄN DƯ  

    Ngày xưa thi đỗ tiến sĩ… sướng lắm!
    Nghe đồn như vậy. Ít ra cũng được vua biết mặt chúa biết tên. Được cả làng, cả tổng đón rước về tận nhà. Chữ nghĩa gọi là rước tiến sĩ vinh quy bái tổ.

  • PHI TÂN  

    Hồi trước, khi làng xã tôi còn đoàn đội tập thể hay hợp tác xã sản xuất nông nghiệp thì đàn trâu ở làng cũng của hợp tác luôn. Trâu được các hộ xã viên nhận về nuôi để ăn chia công điểm. Nhà mô có nuôi trâu thì con cháu trong nhà phải nghỉ học sớm để chăn trâu hàng ngày.

  • HOÀNG THỊ NHƯ HUY   

    Ngày thơ ấu tôi đã bao lần ngủ ngon giấc trong lời ầu ơ của mẹ:

  • Kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2019) và 50 năm Ngày mất của Người (02/09)

    HỒ NGỌC DIỆP

  • Kỷ Niệm 72 Năm Ngày Thương Binh - Liệt Sĩ (27/7/1947 - 27/7/2019) 

    PHẠM HỮU THU

  • DƯƠNG PHƯỚC THU    

    Nhà thơ, nhà cách mạng Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4 tháng 10 năm 1920 tại làng Hội An, nơi xưa kia thường gọi là Faifô (vì làng này ở gần cửa Đại An nên quen gọi Hải Phố mà ra thế) nay Hội An đã lên cấp là thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam; quê nội Nguyễn Kim Thành ở làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

  • NGUYỄN THƯỢNG HIỀN

    Dáng thế của đồi Hà Khê như một con linh thú vừa tách khỏi đất mẹ, rời tổ uống mấy ngụm nước bên bờ dòng Linh Giang. Quay đầu hướng về quê mẹ, đất tổ Trường Sơn như một lời từ biệt, lòng rộn buồn vui. Một nhát gươm chí mạng của thuật sĩ Cao Biền, thân thú mang nặng vết thương vẫn còn hằn sâu ở chân đồi.


  • ELENA PUCILLO TRUONG  

    (Viết cho những người bạn cầm phấn)

  • Kỷ niệm Ngày báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6  

    NGUYỄN XUÂN HẢI

  • ĐÔNG HÀ

    33 năm đổi mới trong Văn học Thừa Thiên Huế

  • NGUYỄN ĐỨC HÙNG   

    Một chiều cuối năm 2018, tôi nhận được tấm thiệp mời nhân dịp Lễ mừng tuổi chín mươi của nhà giáo Trần Thân Mỹ và kỷ niệm 65 năm ngày cưới của ông bà Trần Thân Mỹ và Dương Thị Kim Lan. Nếu tính từ mốc tôi được ông đặt bút ký vào hồ sơ chuyển ngành từ Quân đội về làm việc tại Phòng Văn hóa Thông tin (VHTT) thành phố Huế là tròn 35 năm, trong đó có 7 năm (1983 - 1990) tôi được làm việc trực tiếp với ông trước khi ông nghỉ hưu. Ông là vị thủ trưởng khả kính đầu tiên của tôi, là người đã giáo dục, đào tạo và có ảnh hưởng rất lớn đối với tôi.