Minh họa: Bửu Chỉ
AN-GHIÊC-ĐAX PÔ-XI-UX Đêm giao thừa Căn nhà của người giữ rừng Giôn-nat Mốt-kút nằm giữa một khoảng rừng thưa, chung quanh là ba luống rừng rậm bao bọc. Ban ngày những người dân ở làng Pat-xin không nhìn thấy căn nhà nhỏ ấy, chỉ có những chiều đông sẫm tối, khi người giữ rừng đốt đèn lên trong nhà, dân ở làng mới trông thấy hai đốm lửa lung linh giữa bức tường dày mịt của rừng cây - Mỗi lần tình cờ gặp anh, người dân quê hay bông đùa: - Mốt-kút, cậu có cuộc sống thật đẹp, ngay cả gió cũng không đụng chạm tới cậu. Thật ra tâm tư người giữ rừng không mấy thỏa lòng với khung cảnh đang sống. Đôi khi anh cũng mong muốn được sống ở làng như bao người khác - Và anh nghĩ đến điều ấy nhiều nhất trong những đêm đầu năm mới. Năm nay Mốt-kút đón tết thật chu đáo - Anh xuống làng mua một rổ cải ngọt, một gói bánh mì và một bao trái hốt-bố để làm rượu. Trước đêm giao thừa, A-nhét-xca vợ anh đã quay một đùi thịt cừu thơm phức, sốt cà chua phủ quanh rồi đặt lên lò lửa riu riu để giữ cho nóng. Khi màn đêm sắp buông xuống, Mốt-kút đã cào sạch lớp tuyết trên tam cấp và quét dọn ngưỡng cửa thật cẩn thận. Trong nhà, anh cắm những cành thông làm cảnh, hương nhựa thông quyện lẫn men rượu bia sủi bọt tỏa lan… Ôm con ngồi trước lò sưởi, thỉnh thoảng ngửi thấy mùi thơm bay đến bên anh, anh xao xuyến kể cho cậu bé Sta-xít nghe chuyện về năm mới. - Đêm nay, con yêu của bố, khi giao thừa điểm năm mới sẽ về cùng quê hương mình, năm mới sẽ nhảy qua những đỉnh núi cao, thật cao, năm mới sẽ băng qua những vùng biển sâu, thật sâu - Rồi năm mới sẽ dừng lại trong nhà chúng ta, ban nhạc hương thôn sẽ dẫn năm mới đi qua những gò tuyết đến đây chúc tết gia đình mình. Người nhạc sĩ nầy sẽ thổi vào cái kèn to, thật to. Người nhạc sĩ khác sẽ réo rắt kéo đàn violon, và người kia nữa sẽ nhịp nhàng đánh lên một cái trống to tướng kêu “Buum! Buum! Buum!”. Cả khu rừng lúc ấy cũng phải lắng nghe khúc nhạc nầy, nhất là con đừng có sợ, con phải ngủ yên trên giường đừng kêu khóc nhé! Con có nghe không? Họ sẽ đến chơi với nhà mình, ba sẽ rót rượu chức mừng họ. Sta-xít lắng nghe cha, cậu thắc mắc muốn biết có phải cái trống làm bằng da dê không, và cái kèn có giống như ống sáo mà thằng bé Xtê-pát Xtơ-rát-đat lấy ống cây để làm không? Người cha kiên nhẫn trả lời cậu từng câu - Cậu bé Sta-xít thích thú nghe nhưng đôi mắt cậu dần dần trĩu xuống, rồi cậu ngủ lúc nào không hay, chẳng còn nghe cha say sưa kể nữa. Gần nửa đêm Mốt-kút khoác áo lông bước ra trước sân nhà. Thường khi những âm thanh vang đến từ thôn làng xao động giữa tiếng rì rào của rừng cây, đó là tiếng chó sủa ở góc máy quạt gió hòa lẫn tiếng người chuyện trò cãi vã, rồi tiếng ầm ầm động cả khu rừng, của đá băng đổ vỡ ở hồ Đai-bu-nai, trong tiết trời giá buốt. Nhưng trong đêm giao thừa nầy, mọi âm thanh đều khác hẳn, đều nhộn nhịp, tươi vui. Anh nghe trong tiếng vi vút của rừng thông xanh tốt, gần bên trường học vang lên tiếng đàn violon, tiếng đàn Accordeon đang hợp tấu, nhưng bản hòa âm nghe thanh thoát hơn cả là tiếng kèn Clarinet, ồ chính cái trống mới nhịp nhàng náo động hơn chứ. Thọc hai tay vào túi áo lông, Mốt-kút đứng trên bậc tam cấp, lòng xao xuyến với cảm giác mới lạ, anh cảm thấy ở sống lưng có cái gì rung nhẹ chạy khắp, anh không hiểu đó là vì khí lạnh, hay do âm thanh xa xa của bước chân năm mới đi về… quyện lẫn lời vi vu dịu dàng của thông rừng. Lòng anh phơi phới, anh quay bước vào nhà nhẹ nhàng đến bên giường đánh thức vợ dậy. - Em ngủ à? Ban nhạc đang trình diễn ở gần trường, họ đang chúc mừng năm mới, anh, anh cũng chúc em sang năm thật nhiều hạnh phúc. Mốt-kút ôm lấy A-nhét-xca hôn lấy má vợ, rồi anh ngồi xuống cạnh chị mắt nhìn qua cửa: - Ban nhạc đang trên đường đến nhà Gri-xi-ai-tít, có thể họ đi vòng đến mừng xuân nhà mình đấy. Chợt anh lắng nghe. Có tiếng gì sùi sụt như than vãn. À đó là tiếng rượu bia sủi bọt, tiếng khò khè của con mèo nằm dưới chân giường. - Rượu bia đang lên men… Mốt-kút khẽ nói - anh cởi chiếc áo lông ra, để nguyên quần áo nằm xuống giường đưa mắt nhìn lên trần nhà đầy bóng tối. Rồi những hình ảnh hiện ra trong tâm trí anh. Anh thấy giữa cánh đồng xanh tỏa đầy sương trắng, bóng một con nai đang ngại ngùng gặm cỏ, trong lúc nai con quấn quít đùa chơi dưới chân mẹ vểnh hai tai hí hửng… Rồi trong mắt anh hiện lên một rừng thông xanh ngát, có những vùng đồi chồn cáo đào những lỗ hang sâu tạo thành những đống đất vàng nổi bật - những hình ảnh thân thuộc với lòng anh nhất là những hàng thông xanh giao cành hai bên đường rừng. Như trong chuyện kể mỗi năm chúng lên cao khoảng chừng hai mét.
Sau khi nằm nghỉ một lát, Mốt-kút ngồi dậy xem chừng rượu bốc men có làm bật nắp thùng không, rồi anh khoác áo lông đi ra sân. Nghe tiếng cót két, con chó chạy ra khỏi chuồng, vẫy đuôi đến đứng cạnh cổng rào đưa mắt nhìn chủ, con chó ư ử ngáp dài nhưng thấy chủ hững hờ nó lặng lẽ ngoắt đuôi đi vào chuồng. Mốt-kút đứng lặng một lúc đoán chừng ban nhạc đang chúc Tết ở nhà Li-uc-xít hay là gia đình Xtơ-rát-đat, những bạn láng giềng của anh, ồ thực khó mà nghĩ cho đúng họ đang chúc mừng năm mới ở nhà ai. “Từ nơi đó chắc chắn họ sẽ đến nhà Gri-xi-ai-tít”, Mốt-kút thầm nghĩ, “Đường đến nhà mình đâu có xa lắm, và họ có đến mừng xuân với nhà mình không? Quay vào phòng, anh không chợp mắt được, anh châm thuốc hút, chốc chốc nhìn qua cửa sổ, nhưng trên con đường tuyết trắng giải màu anh chẳng thấy gì, giữa những bước tường thăm thẳm của rừng đêm không một bóng hình sinh động. Một giờ sau, Mốt-kút lại kéo kẹt cửa lần nữa. Bên ngoài, đêm vẫn là muôn sao chiếu ngời ánh tuyết giữa trời thăm thẳm và tiếng rừng vi vu tĩnh mặc. Tiếng trống “bum bum” bây giờ phát ra ở bên trái. Vậy là họ đang đến với gia đình Gri-xi-ai-tít. Người giữ rừng lại trở vào nhà, với tay móc cái chổi ở ngưởng cửa đã phủ đầy tuyết lên hành lang. - Họ không đến. Anh nói rồi cởi chiếc áo lông. Thùng rượu bia ở cạnh lò sưởi tiếp tục sủi bọt và sôi lên một cách buồn bã, tựa hồ như nó đang đợi chờ người uống. Mốt-kút lấy một cái bình ở trong ngăn tủ, cẩn thận mở nắp thùng ra rồi lọc vào bình chất rượu đầy bọt bốc mùi thơm có vị chua chua quyến rũ, anh đặt nửa bình rượu lên thành cửa sổ, lấy tấm ván đậy bình lại, anh nghe ở trong giường cậu bé Sta-xít đang mú mớ gì đó. Khi Mốt-kút ngủ, trong mơ anh không còn thấy Nai hiền và Nai con nhí nhảnh nữa, anh chỉ thấy những đường rừng hoang vắng, những người săn thú trộm và một đống lúa mạch khô khốc ở trên kho vựa. Và cớ sự mỗi năm đều giống nhau, mỗi lần chị A-nhét-xca bận bịu ở bếp thấy chồng sắm sửa đón Tết, chị bất bình dằn tiếng với anh: - Đó! Đó! Lại phải hoài công thôi, lại ngồi suốt đêm mà đợi họ. Có phải vì nhà của Mốt-kút nằm trái đường, và những đường mòn dẫn đến nhà anh phủ tuyết quá dày hay vì người thợ rừng không có quà xuân để đón tiếp ban nhạc? Thật khó mà nghĩ, nhưng việc rõ ràng là ban nhạc không đến nhà anh, cớ sự thế thôi. Sáng ra cậu bé Sta-xít hỏi bố: - Bố ạ! Sao những nhạc sĩ không đến nhà mình? Họ không biết là bố chờ họ hả? Nhưng người cha không trả lời, lòng anh không được vui. Hôm ấy, ngay sau bữa cơm trưa đầu năm, anh đi vào rừng. Những năm tiếp theo, mái nhà Mốt-kút đều lặng lẽ trôi qua trong những cái tết như thế, hai ngày xuân đầu năm chẳng một ai trong gia đình thiếu vắng bên nhau. Hình như tình cảnh không thể nào khác hơn được. Sau ngày chiến tranh chấm dứt, cậu con trai của người giữ rừng đã học xong chương trình lớp 7, bây giờ cậu lên ở Klaipeda để học nhạc, anh đã chọn cho cậu con đường ấy vì lúc cậu còn tuổi tinh nghịch rong chơi, nhiều khi cậu ngồi suốt buổi nghe những nhạc sĩ thổi kèn Trompet trình tấu ở Pat-xin. Vợ chồng Mốt-kút lần đầu tiên mong nhớ vì tết năm nay thiếu vắng con. Người giữ rừng nay đã có tuổi, suốt ngày chỉ ở trong rừng, đêm giao thừa bác chỉ trở lại nhà khi trời sụp tối. Vào nhà bác thắp cây đèn bão lên rồi đi về hướng chuồng bò, bác lấy cỏ khô bỏ cho bò, rồi ôm một bó đến nhét vào chuồng chó, con chó nay cũng đã già. - Cỏ này không xóc mình lắm đâu, bác vuốt ve nói với con chó đang kêu mừng quanh chân bác. Đêm nay lũ vật sẽ ấm áp mà, bác Mốt-kút nghĩ thầm rồi đi vào nhà. Bác đến giúp vợ lọc rượu từ thùng lớn sang thùng nhỏ, công việc không nặng nhưng người giữ rừng thấy mệt mỏi, khắp mình mẩy đau nhừ và các đốt xương nhức nhối khó chịu - Bác để cho vợ chăm sóc các thùng rượu rồi đến ngồi bên lò sưởi. - Thằng Sta-xít nhà mình chắc là không về được. Bác Mốt-kút nói khi nhìn vợ đang đóng chặt cái nút vào thùng rượu. - Nó đã nói thế! Nhưng biết đâu… Mặc dầu nó không được phép về… Sợ cơn gió dữ nầy… xe ở Klaipeda không chạy được. Bà A-nhét-xca nói với chồng trong lúc bận rộn quanh thùng rượu. Sau bữa ăn tối, bác Mốt-kút đeo kính nằm dài đọc báo, vợ bác ngồi trên giường đun nốt cái bao tay cho con. Giấc ngủ đè nặng lên mi mắt, bác giữ rừng trở dậy, vươn vai, nheo một mắt nhìn qua cửa sổ. - Hình như gió có vẻ dịu bớt - Bác dò chừng thời tiết rồi nhấc chân nằm xuống giường. Vợ bác thổi tắt đèn cùng đi ngủ. Giấc ngủ của họ thình lình bị đánh thức vì một âm thanh chát chúa kỳ quái, và dường như cả căn nhà đều rung chuyển. Ngồi bật dậy, bác Mốt-kút mắt nhắm mắt mở, không hiểu cớ sự ra làm sao. Bác hoang mang… Tiếng ấy trong giấc mơ hay là nhà bác bị đổ sụp loảng xoảng? Sau phút bình tâm, bác nhớ rằng hôm nay là ngày đầu năm, và biết đâu ban nhạc đang ở trước nhà bác và họ đang chúc mừng năm mới cùng chủ nhà bên trong. Bác nhảy xuống giường đến áp mắt nhìn qua cửa kính: Kìa những nhạc sĩ đang đứng trong sân với kèn, với sáo. Họ đang say sưa diễn tấu, nhịp chân của họ làm rung chuyển cả sân nhà. Bác giữ rừng vội khoác chiếc áo lông năm xưa xỏ đôi chân trần vào guốc chạy ra phía cửa. Khi bác mở cửa, một cảm giác chạy khắp người bác, không phải vì tiết lạnh mà cảm xúc từ bước chân năm mới. Bác cảm thấy không phải chỉ có những nhạc sĩ đang biểu diễn mà cả khu rừng hình như đang rộn rã hòa âm với họ. Chợt thấy người chủ nhà xuất hiện trên ngưỡng cửa, ban nhạc hứng khởi biểu diễn càng náo nhiệt hơn, dáng điệu càng linh hoạt hơn. Một người trong ban nhạc, vóc người thon nhỏ, đội chiếc mũ lông đen đứng tách khỏi hàng đầu đang thổi chiếc kèn clarinet màu đen. Anh ta xoay người lại trong dáng điệu trình diễn, gật đầu hai lần làm dấu, rồi tiếp một dấu hiệu khác. Nhạc đang vui nhộn bỗng ngừng lại rập ràng theo lệnh. Tức thời một sự im lặng lạ lùng bao trùm, chỉ còn âm hưởng của khúc nhạc vang xa trên khu rừng rồi ngưng bặt, tựa hồ như rừng đang đợi tiếng nói của người chủ nhà đang ngạc nhiên đứng trên ngưỡng cửa. Và bác Mốt-kút sau khi chăm chú nhìn kỹ người nhạc sĩ thổi kèn clarinet có vóc mình thon nhỏ đội chiếc mũ đen, chợt bác bác kêu lên sung sướng: - Ồ! Sta-xít con đó ư? - Vâng! Bố! Con đây Bố! Chạy đến ôm vòng tay bố, lần đầu tiên cậu chúc bố “sang năm mới thắng lợi mới”. - Ồ! Kìa, các nhạc sĩ, hãy vào nhà mau, các cậu sẽ lạnh cóng lên bây giờ. Bác giữ rừng vồn vã với khách đầu năm vừa đưa tay mở rộng cánh cửa. Bác cởi chiếc áo lông ra, sửa lại chiếc quần đang mặc, rồi tất bật chạy đến bên thùng rượu - bác Mốt-kút phấn khởi tươi cười: - Bác nói đúng mà… Ban nhạc đâu có ngại con đường nầy… Biết làm sao cám ơn các cháu đây… Để làm vui ngày Tết… không biết nói gì hơn… Các cháu đã đem niềm vui cho khu rừng của bác. Trong lúc bà A-nhét-xca bày lên bàn những ly rượu sủi bọt và những ổ bánh mì còn nóng, căn nhà rộn rã trong tiếng cười nói của các chàng nhạc sĩ trẻ, ngào ngạt hương thơm của bánh mì làm bằng lúa mạch vàng và trắng còn đang nóng hổi. Bác Mốt-kút rót rượu đầy bình, đứng lên, nụ cười sung sướng trên môi. Bác đưa mắt nhìn từng khuôn mặt của ban nhạc trẻ mà bác không có lời mời trước nhưng bác đã đợi chờ từ lâu. Xúc động, nước mắt chảy vòng quanh mi bác. Và chính lúc nầy dường như lòng bác giữ rừng mới thấy lần đầu tiên trong đời, năm mới đến cùng gia đình bác. VƯƠNG KIỀU dịch (11/1&2-85) |
MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.
PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.
SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)
ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.
DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.
MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.
HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.
GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.
VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.
NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.
S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.
JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.
KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.
ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.
KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.
LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.
YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.
KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.
S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.
KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.