Đêm giao thừa

09:53 18/02/2011
An-ghiêc-đax Pô-xi-ux, sinh năm 1930, tại làng Ketubai - ông tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Litva ở Học viện Giáo dục Klaipeda - Ông viết văn vào năm 1953, tác giả của nhiều truyện ký, đồng thời ông còn là nhà văn viết nhiều cho tuổi thơ.

Minh họa: Bửu Chỉ

AN-GHIÊC-ĐAX PÔ-XI-UX


Đêm giao thừa


Căn nhà của người giữ rừng Giôn-nat Mốt-kút nằm giữa một khoảng rừng thưa, chung quanh là ba luống rừng rậm bao bọc. Ban ngày những người dân ở làng Pat-xin không nhìn thấy căn nhà nhỏ ấy, chỉ có những chiều đông sẫm tối, khi người giữ rừng đốt đèn lên trong nhà, dân ở làng mới trông thấy hai đốm lửa lung linh giữa bức tường dày mịt của rừng cây - Mỗi lần tình cờ gặp anh, người dân quê hay bông đùa:

- Mốt-kút, cậu có cuộc sống thật đẹp, ngay cả gió cũng không đụng chạm tới cậu.

Thật ra tâm tư người giữ rừng không mấy thỏa lòng với khung cảnh đang sống. Đôi khi anh cũng mong muốn được sống ở làng như bao người khác - Và anh nghĩ đến điều ấy nhiều nhất trong những đêm đầu năm mới.

Năm nay Mốt-kút đón tết thật chu đáo - Anh xuống làng mua một rổ cải ngọt, một gói bánh mì và một bao trái hốt-bố để làm rượu. Trước đêm giao thừa, A-nhét-xca vợ anh đã quay một đùi thịt cừu thơm phức, sốt cà chua phủ quanh rồi đặt lên lò lửa riu riu để giữ cho nóng. Khi màn đêm sắp buông xuống, Mốt-kút đã cào sạch lớp tuyết trên tam cấp và quét dọn ngưỡng cửa thật cẩn thận. Trong nhà, anh cắm những cành thông làm cảnh, hương nhựa thông quyện lẫn men rượu bia sủi bọt tỏa lan… Ôm con ngồi trước lò sưởi, thỉnh thoảng ngửi thấy mùi thơm bay đến bên anh, anh xao xuyến kể cho cậu bé Sta-xít nghe chuyện về năm mới.

- Đêm nay, con yêu của bố, khi giao thừa điểm năm mới sẽ về cùng quê hương mình, năm mới sẽ nhảy qua những đỉnh núi cao, thật cao, năm mới sẽ băng qua những vùng biển sâu, thật sâu - Rồi năm mới sẽ dừng lại trong nhà chúng ta, ban nhạc hương thôn sẽ dẫn năm mới đi qua những gò tuyết đến đây chúc tết gia đình mình. Người nhạc sĩ nầy sẽ thổi vào cái kèn to, thật to. Người nhạc sĩ khác sẽ réo rắt kéo đàn violon, và người kia nữa sẽ nhịp nhàng đánh lên một cái trống to tướng kêu “Buum! Buum! Buum!”. Cả khu rừng lúc ấy cũng phải lắng nghe khúc nhạc nầy, nhất là con đừng có sợ, con phải ngủ yên trên giường đừng kêu khóc nhé! Con có nghe không? Họ sẽ đến chơi với nhà mình, ba sẽ rót rượu chức mừng họ.

Sta-xít lắng nghe cha, cậu thắc mắc muốn biết có phải cái trống làm bằng da dê không, và cái kèn có giống như ống sáo mà thằng bé Xtê-pát Xtơ-rát-đat lấy ống cây để làm không? Người cha kiên nhẫn trả lời cậu từng câu - Cậu bé Sta-xít thích thú nghe nhưng đôi mắt cậu dần dần trĩu xuống, rồi cậu ngủ lúc nào không hay, chẳng còn nghe cha say sưa kể nữa. Gần nửa đêm Mốt-kút khoác áo lông bước ra trước sân nhà. Thường khi những âm thanh vang đến từ thôn làng xao động giữa tiếng rì rào của rừng cây, đó là tiếng chó sủa ở góc máy quạt gió hòa lẫn tiếng người chuyện trò cãi vã, rồi tiếng ầm ầm động cả khu rừng, của đá băng đổ vỡ ở hồ Đai-bu-nai, trong tiết trời giá buốt. Nhưng trong đêm giao thừa nầy, mọi âm thanh đều khác hẳn, đều nhộn nhịp, tươi vui. Anh nghe trong tiếng vi vút của rừng thông xanh tốt, gần bên trường học vang lên tiếng đàn violon, tiếng đàn Accordeon đang hợp tấu, nhưng bản hòa âm nghe thanh thoát hơn cả là tiếng kèn Clarinet, ồ chính cái trống mới nhịp nhàng náo động hơn chứ. Thọc hai tay vào túi áo lông, Mốt-kút đứng trên bậc tam cấp, lòng xao xuyến với cảm giác mới lạ, anh cảm thấy ở sống lưng có cái gì rung nhẹ chạy khắp, anh không hiểu đó là vì khí lạnh, hay do âm thanh xa xa của bước chân năm mới đi về… quyện lẫn lời vi vu dịu dàng của thông rừng. Lòng anh phơi phới, anh quay bước vào nhà nhẹ nhàng đến bên giường đánh thức vợ dậy.

- Em ngủ à? Ban nhạc đang trình diễn ở gần trường, họ đang chúc mừng năm mới, anh, anh cũng chúc em sang năm thật nhiều hạnh phúc. Mốt-kút ôm lấy A-nhét-xca hôn lấy má vợ, rồi anh ngồi xuống cạnh chị mắt nhìn qua cửa:

- Ban nhạc đang trên đường đến nhà Gri-xi-ai-tít, có thể họ đi vòng đến mừng xuân nhà mình đấy.

Chợt anh lắng nghe. Có tiếng gì sùi sụt như than vãn. À đó là tiếng rượu bia sủi bọt, tiếng khò khè của con mèo nằm dưới chân giường.

- Rượu bia đang lên men… Mốt-kút khẽ nói - anh cởi chiếc áo lông ra, để nguyên quần áo nằm xuống giường đưa mắt nhìn lên trần nhà đầy bóng tối. Rồi những hình ảnh hiện ra trong tâm trí anh. Anh thấy giữa cánh đồng xanh tỏa đầy sương trắng, bóng một con nai đang ngại ngùng gặm cỏ, trong lúc nai con quấn quít đùa chơi dưới chân mẹ vểnh hai tai hí hửng… Rồi trong mắt anh hiện lên một rừng thông xanh ngát, có những vùng đồi chồn cáo đào những lỗ hang sâu tạo thành những đống đất vàng nổi bật - những hình ảnh thân thuộc với lòng anh nhất là những hàng thông xanh giao cành hai bên đường rừng. Như trong chuyện kể mỗi năm chúng lên cao khoảng chừng hai mét.


Sau khi nằm nghỉ một lát, Mốt-kút ngồi dậy xem chừng rượu bốc men có làm bật nắp thùng không, rồi anh khoác áo lông đi ra sân. Nghe tiếng cót két, con chó chạy ra khỏi chuồng, vẫy đuôi đến đứng cạnh cổng rào đưa mắt nhìn chủ, con chó ư ử ngáp dài nhưng thấy chủ hững hờ nó lặng lẽ ngoắt đuôi đi vào chuồng.

Mốt-kút đứng lặng một lúc đoán chừng ban nhạc đang chúc Tết ở nhà Li-uc-xít hay là gia đình Xtơ-rát-đat, những bạn láng giềng của anh, ồ thực khó mà nghĩ cho đúng họ đang chúc mừng năm mới ở nhà ai. “Từ nơi đó chắc chắn họ sẽ đến nhà Gri-xi-ai-tít”, Mốt-kút thầm nghĩ, “Đường đến nhà mình đâu có xa lắm, và họ có đến mừng xuân với nhà mình không?

Quay vào phòng, anh không chợp mắt được, anh châm thuốc hút, chốc chốc nhìn qua cửa sổ, nhưng trên con đường tuyết trắng giải màu anh chẳng thấy gì, giữa những bước tường thăm thẳm của rừng đêm không một bóng hình sinh động.

Một giờ sau, Mốt-kút lại kéo kẹt cửa lần nữa. Bên ngoài, đêm vẫn là muôn sao chiếu ngời ánh tuyết giữa trời thăm thẳm và tiếng rừng vi vu tĩnh mặc. Tiếng trống “bum bum” bây giờ phát ra ở bên trái. Vậy là họ đang đến với gia đình Gri-xi-ai-tít. Người giữ rừng lại trở vào nhà, với tay móc cái chổi ở ngưởng cửa đã phủ đầy tuyết lên hành lang.

- Họ không đến. Anh nói rồi cởi chiếc áo lông. Thùng rượu bia ở cạnh lò sưởi tiếp tục sủi bọt và sôi lên một cách buồn bã, tựa hồ như nó đang đợi chờ người uống. Mốt-kút lấy một cái bình ở trong ngăn tủ, cẩn thận mở nắp thùng ra rồi lọc vào bình chất rượu đầy bọt bốc mùi thơm có vị chua chua quyến rũ, anh đặt nửa bình rượu lên thành cửa sổ, lấy tấm ván đậy bình lại, anh nghe ở trong giường cậu bé Sta-xít đang mú mớ gì đó.

Khi Mốt-kút ngủ, trong mơ anh không còn thấy Nai hiền và Nai con nhí nhảnh nữa, anh chỉ thấy những đường rừng hoang vắng, những người săn thú trộm và một đống lúa mạch khô khốc ở trên kho vựa.

Và cớ sự mỗi năm đều giống nhau, mỗi lần chị A-nhét-xca bận bịu ở bếp thấy chồng sắm sửa đón Tết, chị bất bình dằn tiếng với anh:

- Đó! Đó! Lại phải hoài công thôi, lại ngồi suốt đêm mà đợi họ.

Có phải vì nhà của Mốt-kút nằm trái đường, và những đường mòn dẫn đến nhà anh phủ tuyết quá dày hay vì người thợ rừng không có quà xuân để đón tiếp ban nhạc? Thật khó mà nghĩ, nhưng việc rõ ràng là ban nhạc không đến nhà anh, cớ sự thế thôi.

Sáng ra cậu bé Sta-xít hỏi bố:

- Bố ạ! Sao những nhạc sĩ không đến nhà mình? Họ không biết là bố chờ họ hả?

Nhưng người cha không trả lời, lòng anh không được vui. Hôm ấy, ngay sau bữa cơm trưa đầu năm, anh đi vào rừng.

Những năm tiếp theo, mái nhà Mốt-kút đều lặng lẽ trôi qua trong những cái tết như thế, hai ngày xuân đầu năm chẳng một ai trong gia đình thiếu vắng bên nhau. Hình như tình cảnh không thể nào khác hơn được.

Sau ngày chiến tranh chấm dứt, cậu con trai của người giữ rừng đã học xong chương trình lớp 7, bây giờ cậu lên ở Klaipeda để học nhạc, anh đã chọn cho cậu con đường ấy vì lúc cậu còn tuổi tinh nghịch rong chơi, nhiều khi cậu ngồi suốt buổi nghe những nhạc sĩ thổi kèn Trompet trình tấu ở Pat-xin.

Vợ chồng Mốt-kút lần đầu tiên mong nhớ vì tết năm nay thiếu vắng con. Người giữ rừng nay đã có tuổi, suốt ngày chỉ ở trong rừng, đêm giao thừa bác chỉ trở lại nhà khi trời sụp tối. Vào nhà bác thắp cây đèn bão lên rồi đi về hướng chuồng bò, bác lấy cỏ khô bỏ cho bò, rồi ôm một bó đến nhét vào chuồng chó, con chó nay cũng đã già.

- Cỏ này không xóc mình lắm đâu, bác vuốt ve nói với con chó đang kêu mừng quanh chân bác.

Đêm nay lũ vật sẽ ấm áp mà, bác Mốt-kút nghĩ thầm rồi đi vào nhà. Bác đến giúp vợ lọc rượu từ thùng lớn sang thùng nhỏ, công việc không nặng nhưng người giữ rừng thấy mệt mỏi, khắp mình mẩy đau nhừ và các đốt xương nhức nhối khó chịu - Bác để cho vợ chăm sóc các thùng rượu rồi đến ngồi bên lò sưởi.

- Thằng Sta-xít nhà mình chắc là không về được. Bác Mốt-kút nói khi nhìn vợ đang đóng chặt cái nút vào thùng rượu.

- Nó đã nói thế! Nhưng biết đâu… Mặc dầu nó không được phép về… Sợ cơn gió dữ nầy… xe ở Klaipeda không chạy được. Bà A-nhét-xca nói với chồng trong lúc bận rộn quanh thùng rượu.

Sau bữa ăn tối, bác Mốt-kút đeo kính nằm dài đọc báo, vợ bác ngồi trên giường đun nốt cái bao tay cho con.

Giấc ngủ đè nặng lên mi mắt, bác giữ rừng trở dậy, vươn vai, nheo một mắt nhìn qua cửa sổ.

- Hình như gió có vẻ dịu bớt - Bác dò chừng thời tiết rồi nhấc chân nằm xuống giường. Vợ bác thổi tắt đèn cùng đi ngủ.

Giấc ngủ của họ thình lình bị đánh thức vì một âm thanh chát chúa kỳ quái, và dường như cả căn nhà đều rung chuyển. Ngồi bật dậy, bác Mốt-kút mắt nhắm mắt mở, không hiểu cớ sự ra làm sao. Bác hoang mang… Tiếng ấy trong giấc mơ hay là nhà bác bị đổ sụp loảng xoảng? Sau phút bình tâm, bác nhớ rằng hôm nay là ngày đầu năm, và biết đâu ban nhạc đang ở trước nhà bác và họ đang chúc mừng năm mới cùng chủ nhà bên trong. Bác nhảy xuống giường đến áp mắt nhìn qua cửa kính: Kìa những nhạc sĩ đang đứng trong sân với kèn, với sáo. Họ đang say sưa diễn tấu, nhịp chân của họ làm rung chuyển cả sân nhà.

Bác giữ rừng vội khoác chiếc áo lông năm xưa xỏ đôi chân trần vào guốc chạy ra phía cửa.

Khi bác mở cửa, một cảm giác chạy khắp người bác, không phải vì tiết lạnh mà cảm xúc từ bước chân năm mới. Bác cảm thấy không phải chỉ có những nhạc sĩ đang biểu diễn mà cả khu rừng hình như đang rộn rã hòa âm với họ.

Chợt thấy người chủ nhà xuất hiện trên ngưỡng cửa, ban nhạc hứng khởi biểu diễn càng náo nhiệt hơn, dáng điệu càng linh hoạt hơn.

Một người trong ban nhạc, vóc người thon nhỏ, đội chiếc mũ lông đen đứng tách khỏi hàng đầu đang thổi chiếc kèn clarinet màu đen. Anh ta xoay người lại trong dáng điệu trình diễn, gật đầu hai lần làm dấu, rồi tiếp một dấu hiệu khác. Nhạc đang vui nhộn bỗng ngừng lại rập ràng theo lệnh. Tức thời một sự im lặng lạ lùng bao trùm, chỉ còn âm hưởng của khúc nhạc vang xa trên khu rừng rồi ngưng bặt, tựa hồ như rừng đang đợi tiếng nói của người chủ nhà đang ngạc nhiên đứng trên ngưỡng cửa.

Và bác Mốt-kút sau khi chăm chú nhìn kỹ người nhạc sĩ thổi kèn clarinet có vóc mình thon nhỏ đội chiếc mũ đen, chợt bác bác kêu lên sung sướng:

- Ồ! Sta-xít con đó ư?

- Vâng! Bố! Con đây Bố!

Chạy đến ôm vòng tay bố, lần đầu tiên cậu chúc bố “sang năm mới thắng lợi mới”.

- Ồ! Kìa, các nhạc sĩ, hãy vào nhà mau, các cậu sẽ lạnh cóng lên bây giờ. Bác giữ rừng vồn vã với khách đầu năm vừa đưa tay mở rộng cánh cửa.

Bác cởi chiếc áo lông ra, sửa lại chiếc quần đang mặc, rồi tất bật chạy đến bên thùng rượu - bác Mốt-kút phấn khởi tươi cười:

- Bác nói đúng mà… Ban nhạc đâu có ngại con đường nầy… Biết làm sao cám ơn các cháu đây… Để làm vui ngày Tết… không biết nói gì hơn… Các cháu đã đem niềm vui cho khu rừng của bác.

Trong lúc bà A-nhét-xca bày lên bàn những ly rượu sủi bọt và những ổ bánh mì còn nóng, căn nhà rộn rã trong tiếng cười nói của các chàng nhạc sĩ trẻ, ngào ngạt hương thơm của bánh mì làm bằng lúa mạch vàng và trắng còn đang nóng hổi.

Bác Mốt-kút rót rượu đầy bình, đứng lên, nụ cười sung sướng trên môi. Bác đưa mắt nhìn từng khuôn mặt của ban nhạc trẻ mà bác không có lời mời trước nhưng bác đã đợi chờ từ lâu. Xúc động, nước mắt chảy vòng quanh mi bác. Và chính lúc nầy dường như lòng bác giữ rừng mới thấy lần đầu tiên trong đời, năm mới đến cùng gia đình bác.

VƯƠNG KIỀU dịch
(11/1&2-85)





Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • AZIt NêxinNgày xưa, nhà vua ở một nước nọ có một kho bạc. Nghe đồn rằng trong kho bạc của nhà vua cất giữ một báu vật vô giá duy nhất của nước đó. Mọi người đều tự hào về báu vật mà tổ tiên đã để lại cho họ. “Mặc dầu chúng ta chẳng có gì cả, nhưng tổ tiên đã để cho chúng ta giữ một vật quý”, họ thường tự hào như vậy mà quên đi cảnh túng thiếu của mình.

  • AZIT NÊXIN (1915 - 1995)Một con chó chạy xồng xộc vào tòa báo "Tin tức đô thành”.

  • Nhà văn Mỹ Carson Mc Cullers sinh 1917. Các tác phẩm chính của bà là: Trái tim là kẻ đi săn cô độc (1940), Thành viên của đám cưới (1946), Khúc ballad của quán cà phê buồn (1951), Ngọt như dưa chua và sạch như heo (1954)…

  • Kamala Das tên thật là Kamala Suraiyya, sinh ngày 31.3.1934 tại Punnayurkulam, quận Thrissur, thành phố Kerala, vùng tây nam Ấn Độ. Bà là nhà văn nữ nổi tiếng của Ấn Độ. Bà sáng tác truyện ngắn bằng tiếng Malayalam. Bà sáng tác thơ và tiểu thuyết ngắn bằng tiếng Anh. Bà chủ yếu nổi tiếng trong thể loại truyện ngắn. Trong sự nghiệp sáng tác, bà đã có nhiều giải thưởng văn học, trong số đó là: Asian Poetry Prize, Kent Award for English Writing from Asian Countries, Asan World Prize, Ezhuthachan Award và một số giải thưởng khác nữa. Ngày 31 tháng Năm, 2009, bà mất tại bệnh viện thành phố Pune, Ấn Độ, thọ 75 tuổi.

  • HERTA MULLERHerta Mueller vừa được trao giải Nobel văn học 2009 vì đã mô tả cảnh tượng mất quyền sở hữu bằng một lối thơ cô đọng và một lối văn thẳng thắn. Truyện ngắn này rút từ tập truyện Nadirs (1982) là tác phẩm đầu tay của bà.

  • SHERMAN ALEXIENgay sau khi mất việc ở văn phòng giao dịch của người Anh điêng, Victor mới biết cha anh đã qua đời vì một cơn đau tim ở Phoenix, Arizoan. Đã mấy năm nay Victor không gặp cha, anh chỉ nói chuyện với ông qua điện thoại một hay hai lần gì đó, nhưng đó là một căn bệnh di truyền, có thực và xảy ra đột ngột như xương bị gãy vậy.

  • KOMATSU SAKYOKomatsu Sakyo sinh tại Osaka (Nhật Bản) (28/1/1931). Nhà văn chuyên viết  truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto, chuyên ngành Văn học Italia. Từ năm 1957 là phóng viên đài phát thanh Osaka và viết cho một số báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí “SF Magasines” tổ chức. Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Có bốn tiểu thuyết đã được dựng thành phim.

  • FRANK R- STOCKTONCách đây năm năm, một sự kiện kì lạ đã xảy đến với tôi. Cái biến cố này làm thay đổi cả cuộc đời tôi, cho nên tôi quyết định viết lại nó. mong rằng nó sẽ là bài học bổ ích cho những người lâm vào tình cảnh giống tôi.

  • MIKHAIN SÔLÔKHỐP                Truyện ngắn Mùa xuân thanh bình đầu tiên đã về lại trên sông Đông sau những năm tháng chiến tranh. Vào cuối tháng Ba, những cơn gió ấm áp cũng đã thổi đến, và chỉ sau hai ngày tuyết cũng đã bắt đầu tan trên đôi bờ sông Đông. Khắp mọi ngả đường việc đi lại cũng vô cùng khó khăn.

  • KAHLIL GIBRANNguồn: A Treasury of Kahlil Gibran (Một kho tàng của Kahlil Gibran), Anthony Rizcallah Ferrris dịch từ tiếng Arập, Martin L. Wolf biên tập, Nxb Citadel Press, New York, HK, 1951.

  • ROBERT ZACKS (ANH)Nhân ngày quốc tế phụ nữ, tôi và anh tôi bàn nhau mua quà tặng mẹ. Đây là lần đầu tiên trong đời chúng tôi thực hiện điều này.

  • GUY DE MAUPASSANTÔng Marrande, người nổi tiếng và lỗi lạc nhất trong các bác sĩ tâm thần, đã mời ba đồng nghiệp cùng bốn nhà bác học nghiên cứu khoa học tự nhiên đến thăm và chứng kiến, trong vòng một giờ đồng hồ, một trong những bệnh nhân tại nhà điều trị do ông lãnh đạo.

  • GUY DE MAUPASSANTGia đình Creightons rất tự hào về cậu con trai của họ, Frank. Khi Frank học đại học xa nhà, họ rất nhớ anh ấy. Nhưng rồi anh ấy gửi thư về, và rồi cuối tuần họ lại được gặp nhau.

  • JAMAICA KINCAIDNhà văn hậu hiện đại Anh J. Kincaid sinh năm 1949. Mười sáu tuổi, bà đến New York làm quản gia và giữ trẻ. Bà tự học là chính. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của bà: “Giữa dòng sông” (1984) nhận được giải thưởng của viện hàn lâm Văn chương và Nghệ thuật Mỹ; còn các tiểu thuyết “Annie” (1985), “Lucky” (1990) được đánh giá cao.

  • SAM GREENLEE (MỸ)Sam Greenlee sinh tại Chicago, nổi tiếng với thể loại tiểu thuyết.Ông cũng đóng góp nhiều truyện ngắn, bài báo trong “Thế giới da màu” (Black World); và xem như là bộ phận không thể tách rời trong văn nghiệp, bởi ông là nhà văn da màu. Tuy nhiều truyện ngắn của ông vẫn được thể hiện theo lối truyền thống, nghĩa là vào cửa nào ra cửa ấy; nhưng cái cách mở rộng câu chuyện ở giữa truyện, bằng lối kể gần gũi nhiều kinh nghiệm; đã gây được sự thú vị. Đọc “Sonny không buồn” qua bản dịch, dĩ nhiên, khó thấy được cái hay trong lối kể, bởi nếp nghĩ và văn hoá rất khác nhau; nhiều từ-câu-đoạn không tìm được sự tương đương trong tiếng Việt. Cho nên đọc truyện này, chỉ có thể dừng lại ở mức, cùng theo dõi những diễn tiến bên ngoài cũng như sự tưởng tượng bên trong của Sonny về môn bóng rổ, cả hai như một và được kể cùng một lúc.

  • DƯƠNG UÝ NHIÊN (Trung Quốc)Tôi không thể thay đổi được thói quen gần gũi với cô ấy nên đành trốn chạy ra nước ngoài. Tôi đã gặp được em. Khi đăng tác phẩm “Không thể chia lìa” trên một tạp chí xa tít tắp và dùng bút danh, tôi cho rằng mình không một chút sơ hở. Tôi nhận tiền nhuận bút và mua hai chai rượu quý nồng độ cao trên đường trở về. Tôi muốn nói với em điều gì đó nhân kỷ niệm ngày cưới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Tại thủ đô của một vương quốc nọ có một viện bảo tàng, trong đó có khu trưng bày về nền nghệ thuật phương Đông. Trong vô số các hiện vật trưng bày tại khu này có nhiều báu vật cực hiếm, giá trị văn hoá và giá trị bằng tiền của chúng vô cùng lớn. Trong số các vật hiếm này có một báu vật đầu bảng, bởi đó là bản duy nhất thuộc loại đó và cũng là bản duy nhất trên toàn cầu. Vì là hiện vật cực hiếm nên giá trị văn hoá của nó là độc nhất vô nhị, còn giá trị bằng tiền thời không tính xuể.

  • WILLIAM SAROYAN (Mỹ)Cả thế giới muốn tôi làm một chầu hớt tóc. Cái đầu tôi thì quá bự cho thế giới. Quá nhiều tóc đen, thế giới nói thế. Mọi người đều nói, khi nào thì mày định đi làm một chầu hớt tóc vậy hả nhóc kia?

  • SOMERSET MAUGHAM (ANH)Trang trại nằm giữa thung lũng, giữa những mỏm đồi ở Sômôsetsi. Ngôi nhà xây bằng đá theo mốt cũ được bao bọc bởi những kho củi, sân nhốt súc vật và những công trình bằng gỗ khác. Thời điểm xây dựng được chạm trổ trên cổng bằng những chữ số cổ đẹp đẽ: 1673.

  • SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar  trong một gia đình nông dân  thuộc  tập đoàn sản  xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan  trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.