NGUYỄN ĐẮC XUÂN
Năm Nhâm Tý (1672), chúa Trịnh xua 180 ngàn quân vào Nam, có ý vượt sông Gianh đánh chúa Nguyễn. Trấn thủ Bố Chính là Nguyễn Triều Văn hoảng sợ chạy vô Kim Long cấp báo với Hiền Vương (tức chúa Nguyễn Phúc Tần).
Ảnh: internet
Hiền Vương triệu tập hết các tướng lãnh, hỏi:
- "Muốn ngăn được sự tiến công của giặc, trước hết phải cử cho được tướng soái. Nay ai đảm đương nổi?"
Các tướng đồng thanh hô to:
- "Hoàng tử thứ tư Hiệp Đức hùng lược hơn người, đủ khả năng làm nguyên soái!"
Việc đề cử ấy rất hợp ý Hiền Vương. Hiệp Đức làm nguyên soái lúc mới 20 tuổi.
Tháng 7 năm ấy (1672) Hiệp Đức kéo quân ra phủ Đồng Thắng tỉnh Quảng Bình hạ trại bàn chuyện chống giặc. Hiệp Đức ban hiệu lịnh rất nghiêm, các tướng khen "Hiệp Đức đúng là người có tài làm tướng.” Nguyễn Hữu Dật là một danh tướng lão thành cũng đặt mình dưới sự chỉ huy của Hiệp Đức.
Đến tháng 8, Trịnh quân qua được sông Gianh, dàn quân từ Chính Thủy đến Sơn Đầu, từ Phú Xá đến Trấn Ninh, đắp lũy đến sát bờ biển, ở cửa sông Gianh bày hàng nghìn chiến thuyền, khí thế rất oai phong lẫm liệt.
Để đương đầu với Trịnh quân, Hiệp Đức ra lịnh đắp bác đài (chỗ đất cao để đặt súng thần công) ở lũy Trấn Ninh, mộ lính địa phương giỏi địa hình địa vật đóng giữ các mối đường trọng yếu ở đầu nguồn để phòng bị.
Tháng 11, tướng Trịnh là Lê Hiến phát hỏa đánh lũy Trấn Ninh. Hiệp Đức đã chia quân đóng sẵn từ Sa Thủy đến cửa biển Nhật Lệ thành một mặt trận liên hoàn, Trịnh quân đánh mãi không chọc thủng được. Trịnh Tạc triệu tập các tướng tá về khiển trách gay gắt, nếu không hạ được lũy của quân Nguyễn thì sẽ bị tội. Lê Hiến sợ hãi trở lại mặt trận đốc thúc quân sĩ sau lũy, lấp hào, khoét đất đánh gấp, trong một ngày có đến mấy lần quân Nguyễn suýt bị hãm thành. Tướng trấn giữ là Tống Phúc Cương sợ không giữ được Trấn Ninh định bỏ chạy về Mũi Nại, Hiệp Đức nghe tin ấy cho người cấp báo với Cương:
- "Quân ta mà lui thì Trịnh quân sẽ ập vào ngay không thể ngăn nổi nữa. Phải cố giữ ta sẽ tiếp viện ngay cho."
Hiệp Đức lịnh cho tướng Nguyễn Hữu Dật tiếp viện cho Trấn Ninh, còn Hiệp Đức thì đích thân cầm quân đến giữ lũy Cồn Cát. Tướng Trịnh nắm được ý đồ của quân Nguyễn liền sai tướng Thắng (không rõ họ) đem 30 chiến thuyền theo cửa biển kéo vào đóng trong bến sông để cắt đường tiếp viện Trấn Ninh. Hiệp Đức đã đề phòng việc ấy sai cai cơ Kiên và Lễ nhân đêm tối kéo quân thẳng đến Sa Thủy đặt đại bác lên bác đài chờ thuyền Thắng đến thì nả. Mặt khác Hiệp Đức sai tướng Tài đem chiến thuyền ra cửa bể đánh ập trở lại. Quả nhiên tướng Trịnh là Thắng bị tướng Nguyễn là Kiên và Lễ đánh bại. Quân Trấn Ninh nghe tin thắng trận lấy lại khí thế, sức mạnh lại nhân lên bội phần. Quân Trịnh nỗ lực đến mức tối đa vẫn không lấy được Trấn Ninh.
Đến tháng 12, Lê Hiến lại chỉnh đốn lực lượng tấn công Trấn Ninh một lần nữa. Hiệp Đức sai cai cơ Thắng và Lâm điều 60 thớt voi từ bãi biển Trường Sa đi vòng vèo ra vào lũy cồn cát, lại sai thủy quân chèo thuyền ra biển đối diện cửa biển Di Luân, cứ nước lên thì chèo đi, nước ròng lại chèo về làm kế nghi binh.
Quân do thám của Trịnh theo dõi động tĩnh của quân Nguyễn rồi báo với Lê Hiến, Lê Hiến ôm đầu suy nghĩ mà vẫn không đoán được quân Nguyễn sắp làm gì đây. Trong lúc bối rối Hiến lại nhận được tin Trịnh Tạc đến sông Gianh trúng gió ốm nặng phải lui về, Hiến lo sợ quá bèn triệt binh rút chạy. Hiệp Đức mừng rỡ, đuổi được giặc mà không phải đổ thêm máu, ý nghĩa thắng lợi một thành mười. Để cho ba quân yên tâm Hiệp Đức cho quân đuổi theo quân Trịnh nhưng dặn không được giết. Quân Nguyễn ra đến núi Lệ Đệ không thấy có sự chống cự gì nữa thì lui về.
Trong chiến dịch này, quân Trịnh dốc toàn lực vào đánh, tình thế rất gấp, Hiệp Đức mới tuổi hai mươi nhận chức Đổng Nhung, điều độ tướng sĩ đâu vào đấy, mưu lược cao cường, quân tướng đều hết lòng nên mới lấy ít thắng được nhiều, giải được hoạn nạn, công của Hiệp Đức thật là to lớn.
Khi phụng mệnh ra quân Hiệp Đức chỉ dùng giáp sĩ hầu hạ. Có người tên là Bật Nghĩa - người Quảng Bình đem người em gái rất đẹp đến xin hầu hạ Hiệp Đức, Hiệp Đức từ chối:
- Sắc đẹp làm hỏng đức. Ta đã có giáp sĩ hầu hạ, không dám dùng người đẹp.
Bật Nghĩa và người em gái hết sức thất vọng. Hiệp Đức thấy cô gái mặc áo vá biết là con em nhà nghèo nên thương tình cho 10 quan tiền. Quân tướng Nguyễn nghe nguyên soái của mình nhân hậu như vậy rất cảm phục.
Sau khi thắng trận trở về, Hiệp Đức sai đặt yến để hậu đãi mừng các tướng đã lập được công to. Rượu đã vài tuần, ai nấy đã ngà ngà say, lời nói lúc ấy phát ra tự đáy lòng chứ không còn rào đón che đậy nữa. Bỗng dưng Hiệp Đức đứng dậy, nâng chén rượu từ từ đi đến chỗ các tướng ngồi, kính cẩn mừng khen. Bỗng Hiệp Đức dán mắt vào một cái cán cờ mà các tướng đã bắt được của Trịnh quân. Nhìn thấy những vết bắn xuyên qua cán cờ lỗ rỗ như tổ ong, Hiệp Đức sụt sùi khóc và than lớn rằng:
- "Cán cờ là vật vô tri vô giác mà còn thương tích đau khổ đến vậy, huống chi con người trong chiến tranh, than ôi!"
Nỗi bận tâm của Hiệp Đức đã lan đến các tướng. Những người gan dạ sắt đá nhất cũng ngậm ngùi rơi lệ. Kết thúc cuộc yến tiệc mừng thắng trận không mấy vui tươi.
Sau cuộc yến tiệc, Hiệp Đức xin chúa Hiền Vương hai việc:
1/ Lập đàn tế kính cẩn các tướng sĩ Nam quân lâm trận đã bị tổn thương, và các Bắc quân đã tử trận, để cho u hồn được thỏa. Tất cả Bắc quân bị bắt được cấp lương thực quần áo rồi thả về, không hề giết một người nào.
2/ Nam Bắc từ đó phải hưu chiến.
Hiệp Đức là một tướng trẻ vừa có tài đánh giặc lại vừa nhân hậu, trong lịch sử Việt Nam có lẽ ông là người thứ nhất.
N.Đ.X
(Theo ĐNCBTL tập I, ĐNLT và Nam Triều Công nghiệp diễn chí)
(TCSH47/05-1991)
TRẦN PHƯƠNG TRÀ
Cuối năm 1961, tôi rời Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao về làm biên tập viên chương trình Tiếng thơ Đài Tiếng nói Việt Nam. Chương trình này nằm trong Phòng Văn học do nhà văn Trọng Hứa làm Trưởng phòng.
KIMO
Mười Cents, một đồng xu nhỏ nhất, mỏng nhất được gọi là “dime” và đồng xu nầy được đúc với chất liệu 90 phần trăm bạc và 10 phần trăm đồng như đồng xu năm cents và 25 cents nhưng lại khác với đồng xu một cent.
HƯỚNG TỚI 70 NĂM THÀNH LẬP LIÊN HIỆP CÁC HỘI VHNT THỪA THIÊN HUẾ
TÔ NHUẬN VỸ
HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY THÀNH LẬP LIÊN HIỆP CÁC HỘI VHNT THỪA THIÊN HUẾ
NGUYỄN KHẮC PHÊ
KỶ NIỆM 40 NĂM GIẢI PHÓNG THỪA THIÊN HUẾ
NGÔ KHA
LTS: Dưới đây là một ghi chép của cố nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử Ngô Kha về những ngày đầu đoàn quân giải phóng về thành Huế dịp 26/3/1975. Rất ngắn gọn, song đoạn ghi chép đã gợi lại cho chúng ta không khí sôi nổi, nô nức những ngày đầu.
Lời nói đầu: Mỗi khi về nhà ở Quỳnh Mai, tôi luôn hình dung thấy Cha tôi đang ngồi đâu đó quanh bàn làm việc của mình. Trong một lần về nhà gần đây, sau khi thắp hương cho Cha, chờ hương tàn bèn mang máy đánh chữ, là vật hết sức gần gũi đã gắn bó với Cha tôi cho tới khi mất, để lau chùi, làm vệ sinh.
Những năm 1973-1976, đến Paris tôi bắt đầu công việc sinh viên, vừa làm vừa học là ký tên và đánh số giùm tranh litho cho Họa sĩ Lê Bá Đảng.
SƠN TÙNG
Một ngày giáp Tết Canh Dần - tháng 2/1950, gặp dịp đi qua làng Sen, tôi ghé vào thăm nơi đã lưu lại những kỷ niệm tuổi thơ của Người.
L.T.S: Vương Đình Quang nguyên là thư ký tòa soạn báo "Tiếng Dân" do Huỳnh Thúc Kháng làm chủ biên, vừa là thư ký riêng của nhà yêu nước Phan Bội Châu, chuyên giúp Phan Bội Châu hoàn chỉnh những văn bản tiếng Việt trong mười lăm năm cuối đời sống và sáng tác tại Huế. Bài này trích từ "Hồi ký về cụ Phan và cụ Huỳnh" do chính tác giả viết tại quê hương Nam Đàn Nghệ Tĩnh khi tác giả vừa tròn 80 tuổi (1987).
NGUYỄN NGUYÊN
Tháng 6-1966, ở Sài Gòn, giữa cái rừng báo chí mấy chục tờ báo hằng ngày, báo tháng, báo tuần, bỗng mọc thêm một từ bán nguyệt san: Tin Văn.
Cứ vào những ngày cuối năm, khi làm báo tết, trong câu chuyện cà phê sáng, làng báo Sài Gòn hay nhắc đến họa sĩ Choé, tác giả những bức tranh biếm - hí họa từng không thể thiếu trên khắp các mặt báo. Có thể nói, cùng với nhà văn Sơn Nam, nhà thơ Bùi Giáng, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, họa sĩ Ớt - Huỳnh Bá Thành, danh ca Út Trà Ôn, danh hài Văn Hường,… họa sĩ tuổi Mùi - Choé là một trong những “quái kiệt” của Sài Gòn.
(Lược thuật những hoạt động nhân kỷ niệm 5 năm Sông Hương)
(Bài phát biểu của nhà văn Tô Nhuận Vỹ - Nguyên Tổng biên tập tạp chí Sông Hương trong lễ kỷ niệm 5 năm)
(SHO). Huế đầu đông. Mưa lâm thâm,dai dẳng. Mưa kéo theo các cơn lạnh se lòng. Cái lạnh không đậm đà như miền Bắc không đột ngột như miền Nam, nó âm thầm âm thầm đủ để làm xao xuyến nổi lòng người xa quê... Ngồi một mình trong phòng trọ, con chợt nhớ, một mùa mưa, xa rồi...
(SHO). Mùa mưa cứ thế đến, những nỗi nhớ trong tôi lại từng cái từng cái ùa về, thổi qua và tôi chợt nhận ra trong lúc ngây ngốc tôi đã bỏ quên nhiều thứ như vây; bỏ quên những người thân yêu trong nỗi nhớ của tôi, ở trong kỉ niệm đã qua và giờ tôi nhớ ra cảm giác hạnh phúc, vui vẻ khi ở bên họ, để từ đó tôi quý trọng hơn nữa những giây phút bên cạnh những người mà tôi yêu thương.
NGUYỄN ĐẮC XUÂN
Sau một thời gian bị bệnh hiểm nghèo, ca sĩ Hà Thanh đã qua đời vào lúc 19 giờ 30 ngày 1 tháng 1 năm 2014 (giờ Boston) tại thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ.
ĐẶNG VĂN NGỮ
Hồi ký
Cha tôi lúc còn nhỏ tự học chữ nho có tiếng là giỏi, nhưng đến tuổi đi thi thì thực dân Pháp đã bãi bỏ các kỳ thi chữ nho.
TÔ NHUẬN VỸ
Lớp sinh viên chúng tôi tốt nghiệp Khoa Văn - Sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, đúng vào thời điểm Mỹ đánh phá miền Bắc và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam kêu gọi con em miền Nam đang ở miền Bắc hãy trở về chiến đấu cho quê hương.
Giải phóng quân Huế với phong trào Nam tiến
PHẠM HỮU THU
Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc. Nguyễn Du trở về, ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm «Chữ tình chốc đã ba năm vẹn», lưu lại trong Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương.