Chuyện cũ cố đô - Lòng nhân của một vị tướng thời nội chiến

14:51 27/12/2019

NGUYỄN ĐẮC XUÂN

Năm Nhâm Tý (1672), chúa Trịnh xua 180 ngàn quân vào Nam, có ý vượt sông Gianh đánh chúa Nguyễn. Trấn thủ Bố Chính là Nguyễn Triều Văn hoảng sợ chạy vô Kim Long cấp báo với Hiền Vương (tức chúa Nguyễn Phúc Tần).

Ảnh: internet

Hiền Vương triệu tập hết các tướng lãnh, hỏi:

- "Muốn ngăn được sự tiến công của giặc, trước hết phải cử cho được tướng soái. Nay ai đảm đương nổi?"

Các tướng đồng thanh hô to:

- "Hoàng tử thứ tư Hiệp Đức hùng lược hơn người, đủ khả năng làm nguyên soái!"

Việc đề cử ấy rất hợp ý Hiền Vương. Hiệp Đức làm nguyên soái lúc mới 20 tuổi.

Tháng 7 năm ấy (1672) Hiệp Đức kéo quân ra phủ Đồng Thắng tỉnh Quảng Bình hạ trại bàn chuyện chống giặc. Hiệp Đức ban hiệu lịnh rất nghiêm, các tướng khen "Hiệp Đức đúng là người có tài làm tướng.” Nguyễn Hữu Dật là một danh tướng lão thành cũng đặt mình dưới sự chỉ huy của Hiệp Đức.

Đến tháng 8, Trịnh quân qua được sông Gianh, dàn quân từ Chính Thủy đến Sơn Đầu, từ Phú Xá đến Trấn Ninh, đắp lũy đến sát bờ biển, ở cửa sông Gianh bày hàng nghìn chiến thuyền, khí thế rất oai phong lẫm liệt.

Để đương đầu với Trịnh quân, Hiệp Đức ra lịnh đắp bác đài (chỗ đất cao để đặt súng thần công) ở lũy Trấn Ninh, mộ lính địa phương giỏi địa hình địa vật đóng giữ các mối đường trọng yếu ở đầu nguồn để phòng bị.

Tháng 11, tướng Trịnh là Lê Hiến phát hỏa đánh lũy Trấn Ninh. Hiệp Đức đã chia quân đóng sẵn từ Sa Thủy đến cửa biển Nhật Lệ thành một mặt trận liên hoàn, Trịnh quân đánh mãi không chọc thủng được. Trịnh Tạc triệu tập các tướng tá về khiển trách gay gắt, nếu không hạ được lũy của quân Nguyễn thì sẽ bị tội. Lê Hiến sợ hãi trở lại mặt trận đốc thúc quân sĩ sau lũy, lấp hào, khoét đất đánh gấp, trong một ngày có đến mấy lần quân Nguyễn suýt bị hãm thành. Tướng trấn giữ là Tống Phúc Cương sợ không giữ được Trấn Ninh định bỏ chạy về Mũi Nại, Hiệp Đức nghe tin ấy cho người cấp báo với Cương:

- "Quân ta mà lui thì Trịnh quân sẽ ập vào ngay không thể ngăn nổi nữa. Phải cố giữ ta sẽ tiếp viện ngay cho."

Hiệp Đức lịnh cho tướng Nguyễn Hữu Dật tiếp viện cho Trấn Ninh, còn Hiệp Đức thì đích thân cầm quân đến giữ lũy Cồn Cát. Tướng Trịnh nắm được ý đồ của quân Nguyễn liền sai tướng Thắng (không rõ họ) đem 30 chiến thuyền theo cửa biển kéo vào đóng trong bến sông để cắt đường tiếp viện Trấn Ninh. Hiệp Đức đã đề phòng việc ấy sai cai cơ Kiên và Lễ nhân đêm tối kéo quân thẳng đến Sa Thủy đặt đại bác lên bác đài chờ thuyền Thắng đến thì nả. Mặt khác Hiệp Đức sai tướng Tài đem chiến thuyền ra cửa bể đánh ập trở lại. Quả nhiên tướng Trịnh là Thắng bị tướng Nguyễn là Kiên và Lễ đánh bại. Quân Trấn Ninh nghe tin thắng trận lấy lại khí thế, sức mạnh lại nhân lên bội phần. Quân Trịnh nỗ lực đến mức tối đa vẫn không lấy được Trấn Ninh.

Đến tháng 12, Lê Hiến lại chỉnh đốn lực lượng tấn công Trấn Ninh một lần nữa. Hiệp Đức sai cai cơ Thắng và Lâm điều 60 thớt voi từ bãi biển Trường Sa đi vòng vèo ra vào lũy cồn cát, lại sai thủy quân chèo thuyền ra biển đối diện cửa biển Di Luân, cứ nước lên thì chèo đi, nước ròng lại chèo về làm kế nghi binh.

Quân do thám của Trịnh theo dõi động tĩnh của quân Nguyễn rồi báo với Lê Hiến, Lê Hiến ôm đầu suy nghĩ mà vẫn không đoán được quân Nguyễn sắp làm gì đây. Trong lúc bối rối Hiến lại nhận được tin Trịnh Tạc đến sông Gianh trúng gió ốm nặng phải lui về, Hiến lo sợ quá bèn triệt binh rút chạy. Hiệp Đức mừng rỡ, đuổi được giặc mà không phải đổ thêm máu, ý nghĩa thắng lợi một thành mười. Để cho ba quân yên tâm Hiệp Đức cho quân đuổi theo quân Trịnh nhưng dặn không được giết. Quân Nguyễn ra đến núi Lệ Đệ không thấy có sự chống cự gì nữa thì lui về.

Trong chiến dịch này, quân Trịnh dốc toàn lực vào đánh, tình thế rất gấp, Hiệp Đức mới tuổi hai mươi nhận chức Đổng Nhung, điều độ tướng sĩ đâu vào đấy, mưu lược cao cường, quân tướng đều hết lòng nên mới lấy ít thắng được nhiều, giải được hoạn nạn, công của Hiệp Đức thật là to lớn.

Khi phụng mệnh ra quân Hiệp Đức chỉ dùng giáp sĩ hầu hạ. Có người tên là Bật Nghĩa - người Quảng Bình đem người em gái rất đẹp đến xin hầu hạ Hiệp Đức, Hiệp Đức từ chối:

- Sắc đẹp làm hỏng đức. Ta đã có giáp sĩ hầu hạ, không dám dùng người đẹp.

Bật Nghĩa và người em gái hết sức thất vọng. Hiệp Đức thấy cô gái mặc áo vá biết là con em nhà nghèo nên thương tình cho 10 quan tiền. Quân tướng Nguyễn nghe nguyên soái của mình nhân hậu như vậy rất cảm phục.

Sau khi thắng trận trở về, Hiệp Đức sai đặt yến để hậu đãi mừng các tướng đã lập được công to. Rượu đã vài tuần, ai nấy đã ngà ngà say, lời nói lúc ấy phát ra tự đáy lòng chứ không còn rào đón che đậy nữa. Bỗng dưng Hiệp Đức đứng dậy, nâng chén rượu từ từ đi đến chỗ các tướng ngồi, kính cẩn mừng khen. Bỗng Hiệp Đức dán mắt vào một cái cán cờ mà các tướng đã bắt được của Trịnh quân. Nhìn thấy những vết bắn xuyên qua cán cờ lỗ rỗ như tổ ong, Hiệp Đức sụt sùi khóc và than lớn rằng:

- "Cán cờ là vật vô tri vô giác mà còn thương tích đau khổ đến vậy, huống chi con người trong chiến tranh, than ôi!"

Nỗi bận tâm của Hiệp Đức đã lan đến các tướng. Những người gan dạ sắt đá nhất cũng ngậm ngùi rơi lệ. Kết thúc cuộc yến tiệc mừng thắng trận không mấy vui tươi.

Sau cuộc yến tiệc, Hiệp Đức xin chúa Hiền Vương hai việc:

1/ Lập đàn tế kính cẩn các tướng sĩ Nam quân lâm trận đã bị tổn thương, và các Bắc quân đã tử trận, để cho u hồn được thỏa. Tất cả Bắc quân bị bắt được cấp lương thực quần áo rồi thả về, không hề giết một người nào.

2/ Nam Bắc từ đó phải hưu chiến.

Hiệp Đức là một tướng trẻ vừa có tài đánh giặc lại vừa nhân hậu, trong lịch sử Việt Nam có lẽ ông là người thứ nhất.

N.Đ.X
(Theo ĐNCBTL tập I, ĐNLT và Nam Triều Công nghiệp diễn chí)
(TCSH47/05-1991)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • BỬU Ý

    Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí) từng sống mấy năm ở Huế khi còn rất trẻ: từ 1928 đến 1930. Đó là hai năm học cuối cùng cấp tiểu học ở nội trú tại trường Pellerin (còn gọi là trường Bình Linh, thành lập năm 1904, do các sư huynh dòng La San điều hành), trường ở rất gần nhà ga tàu lửa Huế. Thời gian này, cậu học trò 17, 18 tuổi chăm lo học hành, ở trong trường, sinh hoạt trong tầm kiểm soát nghiêm ngặt của các sư huynh.

  • LÊ QUANG KẾT
                   

    Giai điệu và lời hát đưa tôi về ngày tháng cũ - dấu chân một thuở “phượng hồng”: “Đường về Thành nội chiều sương mây bay/ Em đến quê anh đã bao ngày/ Đường về Thành nội chiều sương nắng mới ơ ơ ơ/ Hoa nở hương nồng bay khắp trời/ Em đi vô Thành nội nghe rộn lòng yêu thương/ Anh qua bao cánh rừng núi đồi về sông Hương/ Về quê mình lòng mừng vui không nói nên lời…” (Nguyễn Phước Quỳnh Đệ).

  • VŨ THU TRANG

    Đến nay, có thể nói trong các thi sĩ tiền chiến, tác giả “Lỡ bước sang ngang” là nhà thơ sải bước chân rong ruổi khắp chân trời góc bể nhất, mang tâm trạng u hoài đa cảm của kẻ lưu lạc.

  • TRẦN PHƯƠNG TRÀ

    Đầu năm 1942, cuốn “Thi nhân Việt Nam 1932-1941” của Hoài Thanh - Hoài Chân ra đời đánh dấu một sự kiện đặc biệt của phong trào Thơ mới. Đến nay, cuốn sách xuất bản đúng 70 năm. Cũng trong thời gian này, ngày 4.2-2012, tại Hà Nội, Xuân Tâm nhà thơ cuối cùng trong “Thi nhân Việt Nam” đã từ giã cõi đời ở tuổi 97.

  • HUYỀN TÔN NỮ HUỆ - TÂM
                                      Đoản văn

    Về Huế, tôi và cô bạn ngày xưa sau ba tám năm gặp lại, rủ nhau ăn những món đặc sản Huế. Lần này, y như những bợm nhậu, hai đứa quyết không no nê thì không về!

  • LƯƠNG AN - NGUYỄN TRỌNG HUẤN - LÊ ĐÌNH THỤY - HUỲNH HỮU TUỆ

  • BÙI KIM CHI

    Nghe tin Đồng Khánh tổ chức kỷ niệm 95 năm ngày thành lập trường, tôi bồi hồi xúc động đến rơi nước mắt... Con đường Lê Lợi - con đường áo lụa, con đường tình của tuổi học trò đang vờn quanh tôi.

  • KIM THOA

    Sao anh không về chơi Thôn Vỹ
    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên        
          
                       (Hàn Mạc Tử)

  • NGUYỄN VĂN UÔNG

    Hôm nay có một người du khách
    Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên         
     

    (Xóm Ngự Viên - Nguyễn Bính)

  • HOÀNG THỊ NHƯ HUY

    Tôi biết Vân Cù từ tấm bé qua bóng hình người đàn bà gầy đen, gánh đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, rảo khắp các xóm nhỏ ở Thành Nội, với giọng rao kéo dài: “Bún…bún…ún!” mà mẹ đã bao lần gọi mua những con bún trắng dẻo mềm.

  • LÊ QUANG KẾT                
                      Tùy bút

    Hình như văn chương viết về quê hương bao giờ cũng nặng lòng và giàu cảm xúc - dù rằng người viết chưa hẳn là tác giả ưu tú.

  • TỪ SƠN… Huế đã nuôi trọn thời ấu thơ và một phần tuổi niên thiếu của tôi. Từ nơi đây , cách mạng đã đưa tôi đi khắp mọi miền của đất nước. Hà Nội, chiến khu Việt Bắc, dọc Trường Sơn rồi chiến trường Nam Bộ. Năm tháng qua đi.. Huế bao giờ cũng là bình minh, là kỷ niệm trong sáng của đời tôi.

  • LÊ QUANG KẾT

    Quê tôi có con sông nhỏ hiền hòa nằm phía bắc thành phố - sông Bồ. Người sông Bồ lâu nay tự nhủ lòng điều giản dị: Bồ giang chỉ là phụ lưu của Hương giang - dòng sông lớn của tao nhân mặc khách và thi ca nhạc họa; hình như thế làm sông Bồ dường như càng bé và dung dị hơn bên cạnh dòng Hương huyền thoại ngạt ngào trong tâm tưởng của bao người.

  • HUY PHƯƠNG

    Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
    Mà mưa trắng đất, trắng trời Thừa Thiên         
                          
                                              (Tố Hữu)

  • PHAN THUẬN AN

    Huế là thành phố của những dòng sông. Trong phạm vi của thành phố thơ mộng này, đi đến bất cứ đâu, đứng ở bất kỳ chỗ nào, người ta cũng thấy sông, thấy nước. Nước là huyết mạch của cuộc sống con người. Sông là cội nguồn của sự phát triển văn hoá. Với sông với nước của mình, Huế đã phát triển theo nguyên tắc địa lý thông thường như bao thành phố xưa nay trên thế giới.

  • MAI KIM NGỌC

    Tôi về thăm Huế sau hơn ba thập niên xa cách.Thật vậy, tôi xa Huế không những từ 75, mà từ còn trước nữa. Tốt nghiệp trung học, tôi vào Sài Gòn học tiếp đại học và không trở về, cho đến năm nay.

  • HOÀNG HUẾ

    …Trong lòng chúng tôi, Huế muôn đời vẫn vĩnh viễn đẹp, vĩnh viễn thơ. Hơn nữa, Huế còn là mảnh đất của tổ tiên, mảnh đất của trái tim chúng tôi…

  • QUẾ HƯƠNG

    Năm tháng trước, về thăm Huế sau cơn đại hồng thủy, Huế ngập trong bùn và mùi xú uế. Lũ đã rút. Còn lại... dòng-sông-nước-mắt! Người ta tổng kết những thiệt hại hữu hình ước tính phải mươi năm sau bộ mặt kinh tế Thừa Thiên - Huế mới trở lại như ngày trước lũ. Còn nỗi đau vô hình... mãi mãi trĩu nặng trái tim Huế đa cảm.

  • THU TRANG

    Độ hai ba năm thôi, tôi không ghé về Huế, đầu năm 1999 này mới có dịp trở lại, thật tôi đã có cảm tưởng là có khá nhiều đổi mới.

  • TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ

    Có lẽ bởi một nỗi nhớ về Huế, nhớ về cội nguồn - nơi mình đã được sinh ra và được nuôi dưỡng trong những tháng năm dài khốn khó của đất nước, lại được nuôi dưỡng trong điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt. Khi đã mưa thì mưa cho đến thúi trời thúi đất: “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi/ Mà mưa xối xả trắng trời Trị Thiên…” (Tố Hữu). Và khi đã nắng thì nắng cho nẻ đầu, nẻ óc, nắng cho đến khi gió Lào nổi lên thổi cháy khô trời thì mới thôi.