Bánh Vu Lan

22:13 16/08/2016

Backe backe Kuchen
Der Bäcker hat gerufen
Wer will backen guten Kuchen…

(đồng dao trẻ con của Đức, có thể mở nghe trong youtube, với tựa đề "Backe, backe Kuchen")

Ảnh: internet

Janos đang mê khóc,- khi hắn khóc thì thôi, như mê luôn...-  bỗng nghe tiếng hát nhìn lên, tên nhóc bé tí mới hai tuổi giương to hai con mắt long lanh, đôi môi đỏ nhếch lên, rồi toét ra cùng với tiếng cười khoái chí, mặt còn nhòe nước mắt khóc nhè.  Mẹ nó, Mai Lan con tôi, vừa hát vừa đong đưa cái khuôn bánh ga-tô làm trò với con „nướng bánh nè, nướng bánh đây, ai muốn nướng bánh ngon hầy, ông nướng bánh rao… nên có bảy thứ này, trứng với mỡ ngầy, đường và muối này, sữa và bột mì, thêm chút nghệ vàng cho bánh giòn tan… là la la…“ Mai Lan vung tay đẩy khuôn bánh vào lò vừa hét to… “cho vào lò nướng đây! nướng vàng đây!“ (lời bài hát). Thằng nhóc ngồi trong chiếc ghế trẻ con, được nịt chặt quanh bụng, nhún nhẩy, đập hai tay lên tấm gỗ dính vào ghế dùng làm bàn ăn, chân đạp loạn xạ miệng reo: Kuchen, Kuchen, bánh bánh – bé học nói rất sớm – Vừa dứt tiếng em đã kêu: NOCH (một lần nữa) và ba lần „noch noch noch“. Mai Lan hát lại và làm lại nữa, hắn vẫn còn kêu „Nữa! Nữa!“ Căn bếp nhộn tiếng cười…

Nơi ngưỡng cửa, nghe tiếng hò reo, nhìn vào thấy con mình đang làm mẹ, đang nướng bánh, vừa nướng vừa hát to, vừa làm trò dỗ con, điệu bộ ngộ nghĩnh như thế… Chợt nghĩ, thuở ấy đã bao lần mình cũng múa loạn xạ, cũng nhễ nhại mồ hôi làm bánh, cũng hát to dỗ cho con nín khóc, để có được nụ môi con cười. Thuở ấy, người mẹ này còn bé tí teo, và tôi, người mẹ ấy còn tập làm mẹ, cũng miên man trong tiếng hát tiếng ru, tiếng cười tiếng khóc, đong đưa chiếc võng, quấn quýt với nhau theo nhịp yêu thương, bàng hoàng từng phút từng giây thấy con khôn lớn… Lại thấy nơi đôi mắt to trong veo vừa khóc vừa cười của thằng bé, có tôi ngày nào như nó, hai tuổi rồi ba rồi bốn trong vòng tay của mẹ… bỗng thấy nao lòng… nhớ mẹ thuở ấy góa bụa, đơn chiếc, bốn bên đều có bốn tay con níu áo, tay bồng tay dắt… Thương quá Mạ ơi… Ngày ấy làm chi có bơ có sữa, mà sao bánh mạ thơm ngon làm cho tôi kiên nhẫn (chỉ những lúc ấy thôi) ngồi chờ bên lò lửa than… đợi mạ giáo bột làm bánh cho ăn…

Vuốt hột nổ
Đổ bánh bèo
Xao xác vạc kêu
Nồi đồng vung méo…

Không có lò nướng điện hiện đại đâu, vung méo nồi đất … Cũng không có máy đánh bột thay tay người, chỉ có hai đôi đũa bếp và đôi bàn tay. Vậy mà mạ đã hóa phép biết bao nhiêu chiếc bánh thần diệu, ngát thơm hương vị trong mồm, đến nỗi khứu giác bây giờ vẫn còn chỗi dậy khát khao khi nhớ về. Mà có là gì? Mưa đầu tháng bảy dạo ấy còn đúng hẹn về, xua đi cơn nóng lửa. Vườn cây sống lại màu xanh, bụi tre sau vườn được mưa vuốt vội vã đâm chồi, nếp thơm cũng vừa đến cữ, bình tinh cũng đã xay thành bột mới tinh. Hái mụt măng làm bánh măng cúng Vu Lan. Mụt măng mới bẻ từ bụi tre sau vườn, được bọc trong lớp vỏ phủ tơ mướt như nhung màu tim tím, vuốt tay lên là thấy êm, tôi chưa thấy có loại rau củ nào đẹp sang trọng như thế, mà lại từ một bụi tre… thứ nghèo nhất trong những cái nghèo làng quê,  từ nó toát lên một thứ gì độc đáo cao sang làm cho tôi tiếc mãi khi thấy mẹ đưa dao cắt lớp vỏ, nhưng rồi lại vui tở mở được nhìn thịt măng non trắng ngần lộ ra thanh khiết, chơn chất như ngọc. Từ thuở xưa nào, ai đã nghĩ ra món bánh lạ lùng này? Lấy từ một khối „ngọc tre“ làm nên chiếc bánh. Hỏi mẹ thì mẹ bảo theo bà, hỏi bà thì bà bảo theo mẹ của bà…hỏi.. hỏi … là nghe mẹ của mẹ bà… và nếu hỏi thêm nữa thì… e chạm đến trái tim của những bà mẹ luôn sẵn sàng rung động nơi từng vị ngon của đạo nuôi nấng con người chăng? Chiếc bánh ấy ngày nay hầu như đã thất truyền, vì làm nó là cả một kỳ công. Ngày nay ai có công mà ngồi hàng giờ hàng đêm vì một món bánh nhỏ bé?  Còn nhớ, quấn chân mẹ trố mắt nhìn, khi mẹ cả buổi ngồi chải măng ra từng sợi nhỏ như tóc tiên bằng chiếc lược dày (ngày xưa có hai thứ lược bằng tre, lược sưa và lược dày), trong khi nếp mới vừa xay xong đang treo trong bọc vải rỏ nước qua đêm. Quanh quẩn bên mẹ cả ngày, đến khi tóc măng đã chải hết, rồi luộc rồi rim… là lúc mắt tôi ríu lại không chịu nổi gục đầu vào lòng mẹ… Cho nên món bánh măng của mẹ, tôi chỉ học được nửa chừng… còn nửa chừng trong mơ thấy bà về cho bánh… những chiếc bánh măng vuông vức trắng trong ửng những đường gân măng vàng nhạt, được gói vuông vức đẹp mượt mà trong giấy màu hồng sen hay màu vàng trang nhã.

Chiếc bánh ấy thơm ngon đến nỗi, mãi đến chừ tôi chưa nghe chiếc bánh nào ngon thơm mùi vị tinh khiết thiên nhiên như thế… Hương nếp và hương măng quyện lấy nhau hồn nhiên không chút pha tạp một thứ hương giả tạo nào. Vị măng và vị nếp ngạt ngào thuần chất, tạo nên cảm giác khoan khoái an lành như nhiên… Cảm giác ấy đọng mãi trong ký ức của thời thơ ấu… nó hồn nhiên tinh khiết… như tình mẹ con… Mà tình ấy thời xưa cho đến thời này có khác chi nhau …

Mắt Janos long lanh nhìn chiếc bánh trong lò, e cũng như tôi dạo ấy và Mai Lan ngày ấy… ánh mắt Mai Lan nhìn con vui chiếc bánh e cũng gần như mẹ Mai Lan nhìn con thuở ấy… và chẳng khác mắt mẹ nhìn tôi, đứa con bé bỏng thuở nào… Một chuỗi mẹ con với tình thương ấm áp đùm bọc khắp bầu trời... mẹ của mẹ của mẹ của mẹ miên man vô tận trong mùa bánh ngọt hiền cho con… Nỗi trông mẹ làm cho chiếc bánh, thơm ngon dạt dào vô lượng kiếp, dù qua bao tầng địa ngục… mẹ bị đọa đày thì con vẫn tìm mẹ để mẹ trở về với con.  Như chiếc bánh Vu Lan là nguồn suối mẹ vì con không dứt…

Hôm qua trời mưa một cơn giông dữ dội, sấm chớp long trời lở đất, cơn mưa tháng bảy trước Vu Lan phả hơi đất mù mịt không gian, một thứ mưa khô bằng những tia lửa và tiếng gầm, hạt mưa vừa chạm đất đã bốc hơi, như chưa bao giờ thấy ở Huế, trăng đã khuyết rồi tàn từ lâu… Trời Vu Lan đang héo úa chất độc cháy da người… địa ngục nhân gian đang đầy lo âu nghiệp chướng…

Nhưng mẹ Vu Lan, dù không tìm được mụt măng làm bánh, thì còn bột mì và sữa… Sữa mẹ vẫn dạt dào cho con… như tự muôn đời trước sau… hóa dữ làm lành…

Mùa Vu Lan Huế 2016
Viết nhớ Mai Lan và cháu ngoại Trinh Quý

THÁI KIM LAN




 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • TRẦN PHƯƠNG TRÀ

    Cuối năm 1961, tôi rời Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao về làm biên tập viên chương trình Tiếng thơ Đài Tiếng nói Việt Nam. Chương trình này nằm trong Phòng Văn học do nhà văn Trọng Hứa làm Trưởng phòng.

  • KIMO

    Mười Cents, một đồng xu nhỏ nhất, mỏng nhất được gọi là “dime” và đồng xu nầy được đúc với chất liệu 90 phần trăm bạc và 10 phần trăm đồng như đồng xu năm cents và 25 cents nhưng lại khác với đồng xu một cent.

  • HƯỚNG TỚI 70 NĂM THÀNH LẬP LIÊN HIỆP CÁC HỘI VHNT THỪA THIÊN HUẾ

    TÔ NHUẬN VỸ

  • HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY THÀNH LẬP LIÊN HIỆP CÁC HỘI VHNT THỪA THIÊN HUẾ

    NGUYỄN KHẮC PHÊ

  • KỶ NIỆM 40 NĂM GIẢI PHÓNG THỪA THIÊN HUẾ

    NGÔ KHA

    LTS: Dưới đây là một ghi chép của cố nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử Ngô Kha về những ngày đầu đoàn quân giải phóng về thành Huế dịp 26/3/1975. Rất ngắn gọn, song đoạn ghi chép đã gợi lại cho chúng ta không khí sôi nổi, nô nức những ngày đầu.

  • Lời nói đầu: Mỗi khi về nhà ở Quỳnh Mai, tôi luôn hình dung thấy Cha tôi đang ngồi đâu đó quanh bàn làm việc của mình. Trong một lần về nhà gần đây, sau khi thắp hương cho Cha, chờ hương tàn bèn mang máy đánh chữ, là vật hết sức gần gũi đã gắn bó với Cha tôi cho tới khi mất, để lau chùi, làm vệ sinh.

  • Những năm 1973-1976, đến Paris  tôi bắt đầu công việc sinh viên, vừa làm vừa học là ký tên và đánh số giùm tranh litho cho  Họa sĩ Lê Bá Đảng.

  • SƠN TÙNG  

    Một ngày giáp Tết Canh Dần - tháng 2/1950, gặp dịp đi qua làng Sen, tôi ghé vào thăm nơi đã lưu lại những kỷ niệm tuổi thơ của Người.

  • L.T.S: Vương Đình Quang nguyên là thư ký tòa soạn báo "Tiếng Dân" do Huỳnh Thúc Kháng làm chủ biên, vừa là thư ký riêng của nhà yêu nước Phan Bội Châu, chuyên giúp Phan Bội Châu hoàn chỉnh những văn bản tiếng Việt trong mười lăm năm cuối đời sống và sáng tác tại Huế. Bài này trích từ "Hồi ký về cụ Phan và cụ Huỳnh" do chính tác giả viết tại quê hương Nam Đàn Nghệ Tĩnh khi tác giả vừa tròn 80 tuổi (1987).

  • NGUYỄN NGUYÊN

    Tháng 6-1966, ở Sài Gòn, giữa cái rừng báo chí mấy chục tờ báo hằng ngày, báo tháng, báo tuần, bỗng mọc thêm một từ bán nguyệt san: Tin Văn.

  • Cứ vào những ngày cuối năm, khi làm báo tết, trong câu chuyện cà phê sáng, làng báo Sài Gòn hay nhắc đến họa sĩ Choé, tác giả những bức tranh biếm - hí họa từng không thể thiếu trên khắp các mặt báo. Có thể nói, cùng với nhà văn Sơn Nam, nhà thơ Bùi Giáng, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, họa sĩ Ớt - Huỳnh Bá Thành, danh ca Út Trà Ôn, danh hài Văn Hường,… họa sĩ tuổi Mùi - Choé là một trong những “quái kiệt” của Sài Gòn.


  • (Lược thuật những hoạt động nhân kỷ niệm 5 năm Sông Hương)

  • (Bài phát biểu của nhà văn Tô Nhuận Vỹ - Nguyên Tổng biên tập tạp chí Sông Hương trong lễ kỷ niệm 5 năm)

  •  (SHO). Huế đầu đông. Mưa lâm thâm,dai dẳng. Mưa kéo theo các cơn lạnh se lòng. Cái lạnh không đậm đà như miền Bắc không đột ngột như miền Nam, nó âm thầm âm thầm đủ để làm xao xuyến  nổi lòng người xa quê... Ngồi một mình trong phòng trọ, con chợt nhớ, một mùa mưa, xa rồi...

  • (SHO). Mùa mưa cứ thế đến, những nỗi nhớ trong tôi lại từng cái từng cái ùa về, thổi qua và tôi chợt nhận ra trong lúc ngây ngốc tôi đã bỏ quên nhiều thứ như vây; bỏ quên những người thân yêu trong nỗi nhớ của tôi, ở trong kỉ niệm đã qua và giờ tôi nhớ ra cảm giác hạnh phúc, vui vẻ khi ở bên họ, để từ đó tôi quý trọng hơn nữa những giây phút bên cạnh những người mà tôi yêu thương.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂN

    Sau một thời gian bị bệnh hiểm nghèo, ca sĩ Hà Thanh đã qua đời vào lúc 19 giờ 30 ngày 1 tháng 1 năm 2014 (giờ Boston) tại thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ.

  • ĐẶNG VĂN NGỮ
                    Hồi ký

    Cha tôi lúc còn nhỏ tự học chữ nho có tiếng là giỏi, nhưng đến tuổi đi thi thì thực dân Pháp đã bãi bỏ các kỳ thi chữ nho.

  • TÔ NHUẬN VỸ

    Lớp sinh viên chúng tôi tốt nghiệp Khoa Văn - Sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, đúng vào thời điểm Mỹ đánh phá miền Bắc và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam kêu gọi con em miền Nam đang ở miền Bắc hãy trở về chiến đấu cho quê hương.

  • Giải phóng quân Huế với phong trào Nam tiến 

    PHẠM HỮU THU

  • Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc. Nguyễn Du trở về, ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm «Chữ tình chốc đã ba năm vẹn», lưu lại trong Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương.