Áo dài Việt Nam - hơi thở cuộc sống đời tôi

09:04 02/07/2021

HOÀNG THỊ NHƯ HUY

Chiếc áo dài đầu tiên đời tôi được mẹ may vào năm tôi lên Đệ Thất (lớp 6 bây giờ). Biết nói sao niềm vui sướng của tôi khi lần đầu mặc chiếc áo dài ấy!

Ảnh của NSNA Nguyễn Trực

Đi học mà tôi cảm giác như dọc đường ai cũng ngắm mình mặc dầu thuở ấy thân hình còn thẳng đuột như cây sậy, nước da lại đen thủi đen thui như thùng dầu hắc mà chiếc áo lại may thẳng tuột, chẳng nhíp eo, rộng thùng thình?

Nhưng may như thế mà lại hay! Bởi khi mặc áo dài đi học, tôi có thể túm hai vạt áo thành hai đùm để tiện nhảy dây, chơi ù mọi hay bịt mắt bắt dê… Hay khi tới nhà bạn chơi, thấy cây đào cây ổi có trái là trèo tuốt lên cây.

Lên lớp Đệ Tam thì bắt đầu biết làm dáng. Lúc đi may áo, biết chọn lụa tơ tằm, ủi thẳng tắp, hai tà mềm mịn, tạo dáng nhẹ nhàng thanh thoát. Tuy thế, đi học ở trường Đồng Khánh, mấy cái trò cột vạt áo nhau, hay gắn giấy có ghi dòng chữ: “Tui cần chồng gấp!” hay: “Tui đang cô đơn” vẫn thỉnh thoảng tái hiện trên vạt chiếc áo dịu dàng này.

Vào năm Đệ Nhị, có một kỷ niệm khó quên về chiếc áo dài Việt Nam. Năm ấy, một hôm Kiều Kim Ân vào nhà tôi, khoe tía lia: “Huy ơi bữa ni tau may được áo dài rồi. Mi ưa tau dạy cho mi không?” Làm răng mà không ưa được khi con gái Huế, đứa nào mà chẳng thích mình đạt bốn chữ công dung ngôn hạnh? Hơn nữa biết may áo dài thì từ nay giảm tiền công may áo, tha hồ mua thêm vải. Thế là tôi lập tức xin mẹ tiền, hai đứa dẫn nhau xuống chợ Xép mua hai xấp lụa Hồng hoa. Suốt mấy ngày hôm ấy, hai chúng tôi như hai con ong cần mẫn, một cô một trò thay phiên đo kích cỡ thân thể nhau, lấy giấy báo cắt mẫu, rồi mới cắt chính thức vào vải. Vốn dĩ chúng tôi đã học giờ May từ lớp Đệ Thất trong chương trình môn nhiệm ý (môn phụ) nên may đường kim mũi chỉ rất khéo. Sau ba ngày cật lực lao động của hai đứa, chiếc áo đã có hình hài, tay raglan, cổ cao 1 phân, đường kim mũi chỉ khá hoàn hảo. Nhưng khi mặc thử, một điều kỳ dị đã xảy ra khiến cả hai đứa ôm nhau cười ra nước mắt. Đó là hai tà áo, thay vì úp vào hông theo chiều thân thể như các nhà may nổi danh Chi, Thùy Trang, Cuộc… vẫn may, nay lại quéo ra như đôi cánh con ve ve khi vừa lột vỏ. Ôi thế là mộng vỡ tan tành! Làm sao mà dám mặc đến trường đây? Tiếc tiền mua vải nên tôi thẫn thờ. Cô giáo Kim Ân thì đăm chiêu suy nghĩ. Quái lạ răng lại ri hè? Chẳng lẽ chừ vất cái áo dài ni à? Tôi bất chợt nghĩ ra mưu kế: “Ân ơi đừng lo. Tụi mình chỉ mặc khi trời lạnh. Cái áo len phủ bên ngoài sẽ che cái tà xòe vểnh ra thì không ai thấy mà chê vụng mô.” “Ok, nhất trí!”… Thế là mùa đông năm ấy hai chúng tôi mặc áo dài ấy đến trường. Các bạn xúm hỏi: “Áo mới há!” Tui kiêu hãnh trả lời: “Ừ áo mới! Mà áo mình tự may đó”. “Thiệt không?” “Răng mà không thiệt hè! Kim Ân dạy mình may đó”. Thế là bầy bạn xúm sang Kim Ân: “Ân ơi dạy cho mình với!” Mụ Ân được dịp lên mặt ta đây: “Đứa mô ưa học thì khoanh tay thưa cô rồi mua vải về tau dạy cho”. Lũ bạn đua nhau vòng tay: “Chúng cháu dạ cô ạ!” Tui véo vào người nó nhắc nhỏ: “Ê đừng có sản xuất thêm một bầy áo dài tà xòe như cánh ve sầu vừa lột vỏ nữa nghe mụ mi”. Chiều ấy, tan học, Kim Ân chở tôi về trên xe Honda của nó. Tự nhiên có hai anh chàng cứ đi theo chúng tôi. Qua kính chiếu hậu, Kim Ân nhìn thấy chúng nên hỏi tôi: “Ê Huy, hai cái thằng nớ đi theo hai đứa mình làm chi rứa hè?” Tui đáp tỉnh queo: “Chắc tụi hắn biết hai đứa mình mặc áo dài tà lật quéo nên đi theo xin chữ ký đó”. Nó cười rung rung làm chiếc xe suýt bổ nhào.

Bốn mươi năm sau Kim Ân về thăm tôi. Chẳng hiểu sao nó quên kỷ niệm ấy. Khi tôi nhắc lại, nó cười bò lăn bò toài, bò nghiêng bò ngả. Nó nói một câu mà tôi vô cùng xúc động: “Huy ơi ngày ni tau quá hạnh phúc vì được mi nhắc lại chuyện may áo dài ngày xưa của hai đứa mình”.

Chiếc áo dài lại đi theo tôi lên giảng đường Đại học Sư Phạm, Đại học Văn Khoa với nhiều sắc màu hơn. Khi thì màu vàng để được lắng nghe “người nớ” hát khe khẽ: “Áo nàng vàng anh về yêu hoa Cúc”, khi thì màu tím Huế để ai đó lại hát khúc tình ca: “Một chiều lang thang bên dòng Hương giang tôi gặp một tà áo tím.”… Rồi chiếc áo dài Việt Nam lại theo chân tôi lên bục giảng của người giáo viên qua nhiều năm tháng dạy học của đời tôi. Và nay vẫn lại theo tôi qua những buổi giao tiếp với khách quốc tế, những buổi tham luận trên các diễn đàn văn hóa trong và ngoài nước…

Qua hơn năm mươi năm mặc áo dài, tôi vẫn luôn trung thành với lối may truyền thống: áo tay nối, nút thắt, đa phần vải lụa trơn chứ không thêu rồng phượng uốn éo đầy vạt, eo thả rộng… Dù bên ngoài cuộc sống, với trào lưu mốt của thời trang, chiếc áo dài đã được canh tân đủ kiểu dáng. Nhiều du khách đã nghe tiếng về tôi - người phụ nữ Việt luôn với áo dài Việt, trước khi đến thăm tôi, đã điện hỏi rất quan trọng: “Chúng tôi muốn hỏi phải ăn mặc như thế nào khi đến thăm bà cho phải phép?”. Tôi đã trả lời rằng: “Bạn đang đi du lịch nên việc bạn ăn mặc như thế nào là tùy sở thích của bạn, miễn sao bạn thấy thoải mái và không phản cảm với phong tục của đất nước tôi. Riêng tôi, tôi sẽ mặc áo dài truyền thống Việt Nam để tiếp bạn. Vì điều này sẽ nói lên lòng tôn kính của tôi đối với bạn.”

Những chiếc áo dài trước năm 1975 của tôi đã không còn do chiến tranh. Nhưng kể từ sau năm 1975, tôi chưa bao giờ đành đoạn vất bỏ một chiếc áo dài nào đã gắn bó với cuộc sống của tôi dù nó đã quá cũ, quá chật hay vải đã sờn. Bởi qua bao năm tháng của một cuộc đời lắm thăng trầm, chiếc áo dài Việt đã cùng tôi đón nhận bao nỗi buồn vui. Trên đất khách, đã bao lần tôi được các bạn đồng nghiệp, học sinh hải ngoại mân mê tà áo Việt Nam với lòng ngưỡng mộ. Khách đến thăm nhà, chiếc áo dài thay tôi tỏ lòng kính khách. Trên giảng đường chiếc áo dài đã nhân thêm nhân cách của một cô giáo. Viếng thăm tang lễ, chiếc áo dài thay tôi nỗi chia sẻ đau buồn và tôn kính hương linh khuất núi. Hay năm xưa trèo cây hái quả, vạt áo dài đã giúp tôi đùm được một đống đào ổi để cùng lũ bạn chấm muối ớt ăn… Vì thế khi các con tôi càu nhàu: “Cái gì mẹ cũng cất kỷ niệm làm chật cả nhà”, tôi chỉ bày tỏ niềm mong ước một ngày tôi không còn nữa, tủ áo dài gắn bó cuộc đời lao động học tập của tôi sẽ vẫn còn đó. Nó là hơi thở, linh hồn cuộc sống của đời tôi.


H.T.N.H
(SHSDB41/06-2021)



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Kỷ niệm 75 năm Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2020) và Quốc khánh (2/9/1945 - 2/9/2020)   

    MAI AN NGUYỄN ANH TUẤN

  • PHI TÂN

    Làng Đại Lộc quê tôi cách biển không xa, nhưng người làng tôi không một ai biết đi biển đánh cá. Nghề đi biển là của những người đàn ông làng biển.

  • LÊ QUỐC HÁN

    Huy Cận (31/5/1919 - 19/2/2005) là một trong những nhà thơ xuất sắc trong phong trào Thơ Mới (1939 - 1945). Nhiều nhà phê bình xếp ông cùng với Xuân Diệu, Nguyễn Bính và Hàn Mặc Tử vào hàng “tứ bất tử” trong thi ca Việt Nam của thời kỳ này.

  • BÙI KIM CHI

    Tôi rời trường xưa, Đại học Sư phạm Huế chạm ngưỡng 50 năm. Bàng hoàng. Xao xuyến. Thuở vàng son của những tháng năm cũ vẫn lặng lẽ theo tôi, giao cảm tuyệt vời.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ

    Sáu chục năm trước, tôi chỉ là người hoạt động văn nghệ “tay trái”, vì “tay phải” còn lo làm công ăn lương. Sau khi rời ngành giao thông 1974 cho đến lúc về hưu năm 1999, thì làm văn nghệ cả hai tay!

  • DƯƠNG PHƯỚC THU

    Theo báo Quyết Chiến, Cơ quan Thành bộ Việt Minh Thuận Hóa, về sau là của Việt Minh Nguyễn Tri Phương (bí danh của tỉnh Thừa Thiên), do nhà báo Vĩnh Mai (bí danh và cũng là bút danh của Nguyễn Hoàng) làm chủ bút; các nhà báo Nguyễn Đức Phiên, Vĩnh Hòa, Nguyễn Cửu Kiếm kế nhau làm quản lý và trị sự.

  • TRẦN NGUYÊN HÀO

    Bác Hồ là người khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam, là người sáng lập và linh hồn của nhiều tờ báo vô sản đầu tiên trong lịch sử báo chí ở nước ta và trên thế giới.

  • Kỷ Niệm 130 Năm Ngày Sinh Chủ Tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2020)  


    VÕ VÂN ĐÌNH

  • PHẠM XUÂN PHỤNG  

    Về quê mẹ là về quê nội của mạ mình, tức là làng Tân Xuân Lai thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Còn “Quê Mẹ” là nhan đề một bài thơ của Tố Hữu viết về quê hương mình (cả quê nội lẫn quê ngoại), mà địa danh đại diện trong bài là Huế: “Huế ơi! Quê mẹ của ta ơi!”

  • Kỷ niệm 45 năm ngày thống nhất Đất nước (30/4/1975 - 30/4/2020)

    PHONG LÊ

  • ĐÔNG HÀ  

    Người ta mỗi ngày thường hay nhìn tới để đi, nhưng cũng nhiều lúc, chọn cho mình một góc riêng tư, lại thường nhớ về những nỗi nhớ.

  • XUÂN CỬU

    Kỷ niệm 45 năm ngày giải phóng Thừa Thiên Huế

  • BÙI HIỂN

    Giữa năm 1949, lúc ấy tôi đang là ủy viên kiểm tra sở thông tin tuyên truyền liên khu IV, ông Hải Triều gợi ý tôi nên đi công tác một chuyến vào vùng tạm chiếm Bình Trị Thiên.

  • LÊ QUANG THÁI

    Nhà thơ Nguyễn Khoa Vy (1881-1968) ở làng An Cựu, phủ Thừa Thiên, bút hiệu Thảo Am, đã sáng tác bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú theo hạn mỗi câu có tên một con thú.

  • ĐỖ QUÝ DÂN   

    Có lẽ tất cả những ai lớn lên ở Việt Nam đều biết đến nước mắm. Và đây chỉ là một câu chuyện. Một câu chuyện có chút liên quan đến nước mắm. Câu chuyện này cũng liên quan đến một người đàn bà được hoặc bị người ta gán cho cái tên Nước Mắm, hoặc Mắm, nếu người ta lười, chỉ muốn dùng một chữ để cho tiện gọi tên.

  • HỒ NGỌC DIỆP     

    Rất nhiều nhà viết sử, làm văn ao ước một lần được Bác Hồ tiết lộ một chút đời tư, nhưng may mắn đó chỉ thuộc về một người, đó là cố Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, nhà nghiên cứu, nhà báo, nhà văn Sơn Tùng.

  • CHÍ QUANG  

    Tết Nguyên đán là ngày lễ hội lớn nhất trong năm của toàn dân tộc. Những nghi lễ, tập tục ngày Tết biểu hiện đậm nét văn hóa Việt Nam, chứa đựng tổng thể văn hóa tâm linh, văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp, văn hóa nghệ thuật trong đời sống.

  • PHẠM THỊ CÚC  

    Chú tên là Đô, người làng Thanh Thủy, nhưng không phải làng Thanh Thủy Chánh có Cầu Ngói, mà là Thanh Thủy Thượng, bây giờ gọi là Thủy Dương, cùng quê với nhà thơ Phùng Quán. Chú không phải là nhà thơ nên ngất ngưỡng kiểu khác, đặc biệt hơn.