Vui buồn đại hội nhà văn VII

09:34 10/03/2009
NGÔ MINHSau hai cuộc hành trình vất vả hơn 2600 cây số đi về Đại hội Nhà văn khu vực miền Trung ở Nha Trang giữa tháng 3, rồi Đại hội Nhà Văn Việt Nam VII, bắt đầu từ 22/4 đến 10 giờ rưỡi đêm 27/4 tôi mới về tới nhà mình ở Huế, ngồi trước máy vi tính viết những dòng  buồn vui lẫn lộn.

Vui vì đội ngũ nhà văn tăng với tốc độ chóng mặt. Theo hồ sơ Đại hội VII, thì 5 năm (2000- 2004) số hội viên tăng thêm 233 người, chiếm 28% tổng số hội viên từ 1945 đến nay! Với tốc độ kết nạp này, thì đến năm 2050, số hội viên Hội Nhà văn sẽ gần gấp 3 hiện nay! Đại hội VI có 423 nhà văn (trên 597) thì Đại hội này đã là 567 người (trên 832). Nghĩa là đại hội đại biểu lần này đông bằng toàn thể hội viên lần trước. Thế mà lần trước, lý do được đưa ra là “phải đại hội đại biểu vì không có chỗ ngồi”! Dù hai đại hội nào cũng đều ngồi trong Hội trường Ba Đình ấy cả! Vui vì Đại hội nhà văn luôn được sự quan tâm săn sóc của Đảng và Nhà nước. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã đến dự, phát biểu và vui vẻ chụp ảnh kỷ niệm cùng các nhà nhà văn. Đồng chí Tổng bí thư đã khẳng định đóng góp lớn lao của các thế hệ nhà văn Việt đối với sự nghiệp cách mạng. Đồng chí cũng nhấn mạnh tại Đại hội Nhà văn VII rằng: “... Đảng khuyến khích mọi tìm tòi, sáng tạo, mọi phong cách và bút pháp, tôn trọng tự do sáng tạo nghệ thuật đi đôi với trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của nhà văn”. Đó là điều mà tất cả các nhà văn chân chính đều ao ước, mong mỏi được thực thi từng ngày.

Vui vì được biết trong 5 năm (2000- 2004), Chính phủ cũng đã đầu tư gần 19 tỷ đồng cho Hội Nhà văn VN để hoạt động nghiệp vụ, tài trợ sáng tác. Và nhiệm kỳ tới đây mức tài trợ chắc sẽ lớn hơn. Các địa phương cũng đã tài trợ cho các nhà văn đi dự Đại hội VII rất lớn. Thành phố Hồ Chí Minh có số lượng nhà văn đi dự Đại hội đông đảo nhất 92 người, đã tài trợ vé máy bay đi về và tiền tiêu vặt cho mỗi đại biểu 4,5 triệu đồng; các tỉnh nghèo như Gia Lai, Phú Yên và nhiều tỉnh khác cũng tài trợ các nhà văn của mình không kém. Đây  không phải là chuyện tiền bạc, mà đây là sự đánh giá, sự trân trọng của lãnh đạo địa phương đối với các nhà văn của mình! Trong lúc đó lãnh đạo một số tỉnh thì chẳng hề hay biết tỉnh mình có mấy nhà văn đi Đại hội, chưa nói đến việc tài trợ! Ở Kon Tum, cả tỉnh duy nhất một nhà văn là anh xe thồ - nhà thơ Tạ Văn Sỹ, khi anh đưa công văn “xin tài trợ đi Đại hội” của Hội Nhà văn, tỉnh “quyết” cho 430 ngàn đồng, chỉ bằng một phần mười của tỉnh lân cận! Cầm tiền, anh không đi xe đò, mà ra Hà Nội đại hội bằng chiếc xe máy thồ của mình. Oái oăm thay, khi ra đến Hà Tĩnh, vì gấp thời gian, thấy đường vắng, anh phóng xe tốc độ cao. Liền bị “bắn tốc độ”, bị phạt 300 ngàn đồng. Thế là đi toi gần hết khoản tiền còm tỉnh “tài trợ” đi đại hội!

Trong Đại hội, có đơn tố cáo nhà văn Phạm Quang Trung ở Lâm Đồng, đã bị Hội văn nghệ Lâm Đồng khai trừ ra khỏi hội vì đã có hành vi tham ô, nhưng vẫn được Đại hội nhà văn khu vực Miền Đông Nam Bộ bầu đi dự đại hội nhà văn (nghe nói anh Trung chỉ biển thủ gần 1,2 triệu đồng). Thế là đại hội phải ngồi 30 phút để nghe tường trình về chuyện hi hữu này. Ban  kiểm tra tư cách đại biểu Đại hội cho biết các cơ quan tuyên giáo tỉnh ủy, Trường Đại học Đà Lạt, nơi anh Trung công tác, đều có văn bản gửi đến Đại hội “nhận xét tốt”, nên Đại hội biểu quyết đủ tư cách. Thế thì cái quyết định khai trừ của Hội VHNT Lâm Đồng đối với anh Phạm Quang Trung đúng hay sai? Qua chuyện này, mới thấy, các nhà văn rất quyết liệt với tệ tham nhũng thật. Mới trên triệu đã kiểm tra “tư cách”. Trong lúc đó nhiều quan chức ngoài đời xây nhà năm bảy tỷ bạc bằng tiền phong bì, chẳng những không việc gì, mà còn  lên lớp dạy đạo đức thiên hạ!!

Một sự dân chủ hiếm thấy ở Đại hội nhà văn VII là nhà văn Bùi Minh Quốc tuy không trúng đại biểu đi dự đại hội, nhưng vẫn được đề cử vào danh sách bầu cử vào Ban chấp hành. Bỏ phiếu lần thứ nhất anh được 77 phiếu, một trong 27 người cao phiếu nhất. Đến bầu cử vòng 2 (khi danh sách đã “cắt đuôi” còn 33 người) anh được 104 phiếu, vào hàng “top ten”. Bùi Minh Quốc không trúng cử, nhưng số phiếu cao của anh chứng tỏ anh là một nhà văn được đa số đồng nghiệp tin cậy và yêu mến!

Tại diễn đàn đại hội tôi thấy vui hơn, ấm lòng hơn vì đã nghe được những tiếng nói đầy tâm huyết và bản lĩnh của các nhà văn về những vấn về cốt lõi của nghề nghiệp. Trong tham luận “Nỗi niềm tác phẩm đỉnh cao” rất được hoan nghênh, tán thưởng, nhà văn Hoàng Quốc Hải (Hà Nội)  cho rằng, “muốn có tác phẩm đỉnh cao, ngoài yếu tố tài năng của nhà văn, còn đòi hỏi xã hội phải chuẩn bị cho nó... 10 năm (1932- 1942) các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Xuân Sanh... đều có những tác phẩm đỉnh cao”. Vì trong 10 năm đó, “các trường phái văn chương đua nhau nảy nở, đã là chất xúc tác cho các nhà văn sáng tạo...”. Còn hiện nay, “... điểm yếu chung của văn chương Việt   là đơn điệu quá. Vì tất cả chỉ nói theo một giọng điệu, viết theo một thi pháp...”. Nhà văn cho rằng, ngoài khó khăn do quản lý, con “Nó còn là sự tự kỷ ám thị, lâu năm trở thành nỗi sợ hãi, tới mức không dám viết về những điều mình nghĩ. Bởi chế tài những sai sót của nhà văn không được minh bạch...”.

Để chấm dứt tình trạng đó cần phải xây dựng một xã hội đối thoại, mọi thứ phải được minh bạch trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Còn nhà thơ, nhà phê bình văn học Trần Mạnh Hảo tham luận tại Đại hội bằng bài viết “bốc lửa” và cách đọc cũng rất “bốc lửa và ngậm ngùi nước mắt”. Đó là bài tham luận: “Về mối quan hệ giữa Tự Đức và Nguyễn Du, hay là vấn đề muôn thuở của tự do sáng tác” được tác giả mở ngoặc là “Viết theo yêu cầu của nhà thơ Hữu Thỉnh” , không biết có thật không?. Anh kể rằng, vua Tự Đức xưa rất thích Truyện Kiều của Nguyễn Du, nhưng khi đọc đến câu thơ Nguyễn viết về Từ Hải: “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, vua đập bàn quát: “Bắt ngay Nguyễn Tiên Điền vào đây cho ta, quất cho 20 roi để gã biết trên đầu còn có ai hay không?”. Quan hầu thưa: “Khải tấu, Nguyễn Tiên Điền tịch đã khí lâu rồi, thưa Hoàng thượng!”. Nhà vua không thể rút lệnh đánh roi Nguyễn Du về được, bèn phán: “Treo cái án 20 roi ta ban cho Nguyễn Du lên trời, để bọn văn nhân thi sĩ đời sau nhìn thấy cái gương tày liếp này mà liệu liệu cái thân phận bút nghiên thấp cổ bé họng ..!”... “Cũng may vô cùng cho hậu thế là vua đã không vì một câu thơ “khi quân” của Truyện Kiều mà không đốt hết sách Nguyễn Tiên Điền hay bỏ “Đoạn trường tân thanh”  vào cối giã”.... Vâng, các nhà văn đã gợi lên được vấn đề bức xúc nhất, cốt lõi nhất của việc nghiệp viết lách. Đó là những tiếng nói tâm huyết cần được chia sẻ và tôn trọng. Tiếc là vấn đề chưa được Đại hội mổ xẻ, thảo luận để đi đến nghị quyết mà chỉ chăm chăm vào bầu cử!

Đáng buồn hơn, trong số gần 20 tham luận tại Đại hội Nhà văn VII, ngoài 2 tham luận trên là “có tầm“, còn lại đa số là dưới tầm, thậm chí tầm thường, dung tục, gây ngạc nhiên và thất vọng đối với đa số nhà văn!. Có nhà văn trong bài tham luận chỉ tán dương BCH khóa 6 là “vất vả trên từng cây số”, như là vận động bầu cử! Lại có tham luận của một nhà văn địa phương bảy tám trang viết, chỉ tán dương thành tích của hội địa phương tỉnh mình, bị Đại hội la ó, vỗ tay đuổi về! Điều buồn nữa là độ tuổi trung bình của nhà văn Việt đại hội này đến 55 tuổi, cao quá. Nhà văn cao tuổi nhất là bác Vũ Khiêu sinh năm 1916, tức 99 tuổi; nhà văn ít tuổi nhất là Nguyễn Ngọc Tư cũng đã 29 tuổi! Tức là nhà văn Việt ta đang già đi qua từng kỳ đại hội!

Nhưng có lẽ buồn nhất là chuyện bầu cử. Tôi đã đi dự 4 đại hội nhà văn IV, V, VI, VII, tôi thấy Đại hội nào danh sách đề cử cũng dài tới vài trăm người. Đại hội IV, danh sách đề cử là 221/ 369 đại biểu (60%). Đến đại hội VII này, danh sách bầu đề cử lần đầu là 321/ 565 đại biểu (56,8%). Bốn lần vận động “rút”, phiếu bầu vẫn 3 trang đánh máy với danh sách 67 người! Danh sách dài như thế trách gì bầu không bao giờ đủ số thành viên BCH  đã được nghị quyết. Đại hội IV quyết nghị bầu  25 người. Qua 2 lần bỏ phiếu chỉ có 9 nhà văn quá bán (bằng 36%). Đại hội V biểu quyết bầu 21, chỉ bầu được 5 người (23,8%); đại hội VI nghị quyết bầu 15, nhưng bầu 2 vòng chỉ được 9 nhà văn. Đại hội VII này, nghị quyết bầu 15 nhà văn vào BCH. Sau 2 vòng bầu cử chỉ được 6 người, đạt 40%! Dải đất dằng dặc miền Trung -Tây Nguyên, các người dân tộc cũng không có ai trúng cử! Điều oái oăm là không biết các nhà văn trêu đùa hay tín nhiệm, mà trong danh sách đề cử có cả những nhà văn U 80-85, đang bị trọng bệnh như Tế Hanh, Kim Lân, Tô Hoài, Ngô Quân Miện, Sơn Nam, Hoàng Phủ Ngọc Tường...! Nên mỗi lần xướng tên cả đại hội đều cười ồ! Cũng có người không phải là nhà văn Việt cũng được đề cử. Nhà văn là những người trí tuệ và mẫn cảm, thế mà ở đại hội lần này, bầu cử lần thứ nhất có 55 phiếu bất hợp lệ (9,8%); bầu lần 2 có 28 phiếu! Vui thật...  Trước bầu cử thì xuất hiện “phe“này, “phe” kia vận động “loại” nhau bằng ca dao hò vè, tờ rơi quyết liệt lắm, nhưng khi bầu cử, xem ra các nhà văn không mấy nghiêm túc, nên mới có số phiếu bất hợp lệ nhiều đến vậy! 

Như vậy, sau 3 ngày làm việc Đại hội Nhà Văn VII đã “thành công” mà chưa “tốt đẹp”. Thành công là đã bầu được 6 vị BCH ưng ý. Còn “chưa tốt đẹp” là chăm chăm bầu cử mà không thiếu sự thảo luận thẳng thắn những bức xúc của giới cầm bút, những bức xúc của công việc Hội, “chưa tốt đẹp” còn ở chỗ chỉ bầu được hơn 1/3 Uy viên chấp hành như quyết nghị... Ôi,  chuyện vui buồn Đại hội nhà văn kể cả ngày không hết...!

     N.M
(196/06-05)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Vậy mà, đã hơn 50 năm, từ những năm tháng trẻ tuổi… Huế, ngày ấy đã xa. Đã là kỷ niệm. Đã mất đi nhưng vẫn không ngừng sinh nở. Như những câu thơ, một thời…

  • Việt Đức - Võ Quê - Phạm Xuân Phụng - Nguyễn Thiền Nghi - Nguyễn Văn Vũ - Lê Phùng - Thùy Phương - Trần Băng Khuê

  • Trại sáng tác văn học với chủ đề “Vinh Xuân - Mùa biển gọi” do Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế phối hợp với UBND xã Vinh Xuân tổ chức, diễn ra trong thời gian từ ngày 3/5 đến ngày 10/5/2024, gồm 14 nhà văn, nhà thơ và 1 nhạc sĩ khách mời, đã cho ra đời 58 tác phẩm.

  • DƯƠNG PHƯỚC THU

    Ngày 18/9/1945, tại số 43 đường Trần Hưng Đạo, thành phố Thuận Hóa, Liên đoàn Văn hóa cứu quốc Thừa Thiên - tiền thân của Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế ngày nay được thành lập.

  • CHU SƠN

    Cuối năm 1963 tôi từ Hội An ra Huế để nhận lại tập thơ Quê Nhà và giấy phép xuất bản tại nha thông tin Trung Việt.

  • TRẦN DZẠ LỮ

    Gần một đời người làm thơ, sống giữa Sài Gòn với bao nhiêu thăng trầm dâu bể, có những ngày đói rách, lang thang. Bạn bè thì nhiều, có kẻ nhớ người quên sống khắp cùng đất nước, nơi đâu cũng để lại trong tôi ít nhiều kỷ niệm.

  • (SHO) Những người tôi gặp ở Huế trẻ hay già thường ngưỡng mộ anh là Thầy, một vị Thầy của môn âm nhạc, của tiếng, của lời, thân hay sơ mỗi người đều như chịu ít nhiều ân huệ của anh.  Nhưng thoạt mơ hồ tôi hiểu danh hiệu ấy khác hơn khi được ngồi với anh, bên bàn cơm, khi vui ca, khi đi dạo, khi nghe anh hát, khi thấy anh ngồi yên giữa bạn bè, anh hiện ra là vị Thầy bên trên âm nhạc... 

  • Mặc dù được các bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng GS-TS Trần Văn Khê đã vĩnh viễn ra đi vào lúc 2 giờ 55 phút ngày 24.6. Ông thọ 94 tuổi.

  • LTS: Ngày 17-7-1988 nhà thơ THANH TỊNH đã qua đời tại Hà Nội sau một cơn bệnh nặng, thọ 77 tuổi. Tưởng niệm nhà thơ, người anh người đồng nghiệp đáng kính của anh em văn nghệ sĩ Bình Trị Thiên, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của anh Hoàng Trung Thông và đoạn trích trong Điếu văn đọc tại lễ tưởng niệm nhà thơ tại trụ sở Hội văn nghệ B.T.T ngày 19-7-1988.

  • DƯƠNG THỊ NHỤN

    Tôi biết nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua chị Dung là hàng xóm cũ của tôi những năm 90 của thế kỉ trước. Chị Dung là cháu ruột lại gần nhà ông ở phố Điện Biên Phủ nên rất thân thiết với ông. Tôi chỉ nghe chuyện và đọc truyện của nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua chị Dung.

  • LGT: Thúc Tề và Trần Kim Xuyến là hai nhà báo có nhiều đóng góp cho cách mạng Việt Nam. Một vấn đề đặt ra là: trong hai nhà báo liệt sĩ nói trên, ai mới đúng là “Nhà báo liệt sĩ đầu tiên của báo chí cách mạng Việt Nam?”. Nhiều ý kiến công nhận nhà báo Trần Kim Xuyến là nhà báo liệt sĩ đầu tiên, trong khi các tư liệu lại cho chúng ta thấy Thúc Tề mới đúng là nhà báo liệt sĩ đầu tiên.

  • TÔ NHUẬN VỸ

    Trong số bạn bè thân tình của tôi, Ngô Minh rất “lạ”. Lạ đầu tiên là… nhỏ thó. Người thấp bé, tròn vo, tròn vo từ mấy chục năm ni luôn, chừ lại suốt ngày (e cả suốt đêm) ngồi máy tính viết bài.

  • Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác giả của những tác phẩm nổi tiếng như: Nhằm thẳng quân thù mà bắnThuyền trưởngRừng xưa xanh lá ;Kiếp chóNhững người rách việc; Chuyện kể năm 2000... đã qua đời vào lúc 6 giờ sáng ngày 18.12. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934 tại Thủy Nguyên, Hải Phòng. Ông bước vào sáng tác văn chương từ năm 20 tuổi và đã có một bút lực dồi dào để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị.

  • Nguyễn Hữu Đang sinh năm 1913 , quê  làng Trà Vi, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Ông tham gia Hội Sinh viên thị xã Thái Bình thuộc Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và bị Pháp bắt vào cuối năm 1930 và bị giam hai tháng rưỡi tại thị xã Thái Bình.

  • Thi sĩ Kiên Giang là tác giả những bài thơ nổi tiếng Hoa trắng thôi cài lên áo tím, Tiền và lá, Ngủ bên chân mẹ… Ông cũng là soạn giả của những vở cải lương quen thuộc như Áo cưới trước cổng chùa, Người vợ không bao giờ cưới, Lưu Bình - Dương Lễ, Trương Chi - Mỵ Nương và hàng trăm bản vọng cổ. Như người bạn văn tâm giao Sơn Nam và thi sĩ đàn anh Nguyễn Bính, Kiên Giang cả một đời phiêu bạt sống rày đây mai đó, cho đến khi trái tim đột ngột ngừng đập”...

  • Ở tuổi 89, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý - tác giả của ca khúc nổi tiếng "Dư âm" sống nghèo túng, bệnh tật và cô đơn trong căn nhà nhỏ giữa lòng Sài Gòn.

  • NGÔ ĐÌNH HẢI

    Nhà văn Trần Áng Sơn sinh ngày 12/7/1937 tại Hải Phòng, lớn lên ở Huế, trưởng thành ở Sài Gòn, mất ngày: 18/5/ 2014.

  • QUANG VIÊN

    Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là vị tướng tài năng và đức độ. “Ông là một danh tướng, một nhà chính trị và nhà quân sự lỗi lạc” - Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt thốt lên khi nhớ về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh như vậy. Trong cuộc sống tình cảm gia đình, cũng như ứng xử với văn hóa văn nghệ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng hết sức chí tình, có những việc làm rất đáng khâm phục. Nhà thơ Tố Hữu đã viết về ông rất hay: “Sáng trong như ngọc một con người”…