Về một bài báo đầu tiên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

08:42 25/08/2021

DƯƠNG PHƯỚC THU  

Nhà báo - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tên khai sinh Võ Giáp, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911, tại làng An Xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho yêu nước, mà thân phụ là một “thầy đồ” trường huyện.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bác Hồ ở Pác Bó, Cao Bằng (Ảnh tư liệu, năm 1945)

Năm 1925, Võ Giáp thi đậu Trường Quốc Học Huế, là một học sinh xuất sắc từng đạt được phần thưởng của nhà trường. Vừa học văn hóa, Võ Giáp vừa viết báo. Trong hai năm 1929 và 1930, Võ Giáp đã có  trên 20 bài đăng trên báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng gây xôn xao dư luận. Những năm đầu thập niên ba mươi, Võ Giáp đã nổi tiếng với những báo bài “có xu hướng mới về chính trị”, ông được mời cộng tác cho nhiều tờ báo tiến bộ lúc bấy giờ. Từ năm 1936, ông hoạt động trong các báo của Đảng, như “Tiếng nói của chúng ta”, “Tiến lên”, “Tập hợp”, “Thời báo” “Tin tức”, và tham gia phong trào Đông Dương và được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ. Đầu năm 1937, ông cùng Nguyễn Chí Diểu, Phan Đăng Lưu, Hải Triều, Hải Thanh… dự Hội nghị báo chí Trung Kỳ tại Huế. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Quân ủy hội, trở thành nhà quân sự xuất sắc. Với chức vụ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ, ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 110-SL “nay thụ cấp Đại tướng”, khi thành lập Đảng ủy Quân sự Trung ương, ông được phân công làm Bí thư, và được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao quyền làm Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Kể từ lúc Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đến nay, ông là vị tướng duy nhất được giao trọng trách này. Và dù bận trăm công ngàn việc ông vẫn viết báo và viết ngày càng hay hơn.

Có thể nói, nếu không vì việc cầm quân vệ quốc có lẽ Võ Nguyên Giáp sẽ là ngọn cờ đầu xuất sắc của nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Ngày 4/10/2013, ông qua đời tại Hà Nội, để lại sự thương tiếc vô hạn trong lòng người dân cả nước, đặc biệt là những người lính của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Để hệ thống lại số lượng tác phẩm, công trình của ông, năm 2015, Thư viện Quốc gia (bước đầu) đã thống kê được, riêng về báo chí đã hơn 600 bài của Đại tướng (chưa kể các cuốn sách và hồi ký) dưới các bút danh: Trác Anh, Hải Thanh, Vân Đình, Hồng Nam, Chính Nghĩa, Hoài Vân, Chí Công, Hồng Thao, Hồng Diệm, Lê Quang Hoa, Chính Yên, Bút chì đỏ, và dĩ nhiên là có nhiều bài ghi tên thật Võ Nguyên Giáp. Đấy là chưa kể những mệnh lệnh của Đại tướng được ký tắt dưới cái tên ngắn gọn: Văn!

Theo nghiên cứu của chúng tôi thì các bài báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ yếu viết dưới thể loại chính luận, nghị luận hay bình luận thật sự sắc sảo có tầm khát quát cao của một chính trị gia, một nhà quân sự tài ba tầm thế giới. Có nhiều bài được ông viết lúc mới 17, 18 tuổi, ngày nay đọc lại vẫn thấy có nhiều cái mới - mới như là một sự dự báo của một tài năng về nhiều lĩnh vực ở tầm cao trí tuệ.

Xin điểm lại một số bài dưới đây qua các bút danh: Vũ trụ tấn hóa, bút danh Hải Thanh, in trên Tiếng Dân, số ra ngày 28/9/1929; Sự nghiệp của quốc tế liên minh, bút danh Vân Đình, in trên Tiếng Dân, số ra ngày 6/3/1930; Vài ý nghĩa về Hiến pháp Việt Nam, bút danh Chính Nghĩa, in trên Sự thật, số 61 năm 1946; Tiến hay lùi tìm sáng kiến trong 2/9/1946, bút danh Bút chì đỏ, in trên báo Dân chủ, số ra ngày 28/8/1946; Hiểu rõ địch để chiến thắng, bút danh Hồng Nam, in trên Nhân dân số ra ngày 25/10/1951; Nhân dân vệ Quốc quân Việt Nam 9 tuổi, bút danh Chí Công, in trên Nhân dân miền Nam, số 32 ra năm 1952…

Năm 1927, lúc mới 16 tuổi, Võ Giáp đang học lớp Đệ nhị niên Trường Quốc Học Huế, vì bất bình trước sự nhục mạ của một số giáo viên người Pháp, trong đó có cả ngài hiệu trưởng Burốt về văn hóa dân tộc và học sinh bản xứ, Võ Giáp đã bãi khóa và tham gia phong trào bãi khóa của Trường Quốc Học với các trường khác ở Huế. Để lên án chế độ hà khắc trong nhà trường ở xứ bảo hộ, Võ Giáp đã viết một bài báo phê phán lối cai trị thực dân của ngài Hiệu trưởng Trường Quốc Học. Ngay lập tức bài báo đã gây được tiếng vang trong nước và có tác dụng đến giới cai trị thực dân. Bài báo của Võ Giáp được nhiều người cùng thời biết. Nhưng tiếc là đã bị thất lạc. Bài báo này được xem như một “viên đại bác” bắn vào nền giáo dục thống trị lỗi thời của Pháp ở Đông Dương, chính vì thế mà ngài Hiệu trưởng Burốt quyết đuổi Võ Giáp khỏi Trường Quốc Học.

Nhiều năm qua, giới nghiên cứu báo chí bỏ công tìm kiếm bài báo này của Võ Giáp nhưng chỉ là mò kim đáy bể. Và thật may, “châu về hợp phố” đầu năm 2015, chị Lady Borton, một nhà văn người Mỹ đã có nhiều công trình nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cũng là người bạn thân thiết của Việt Nam đến Hà Nội, đã tìm và tặng Đại tá, Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan, một người con làng Nguyệt Biều của xứ Huế đang ở Thủ đô, một tờ báo phô tô bài viết có nhan đề “Huế, chế độ lạ kỳ gì thế trong một trường Quốc học” bằng tiếng Pháp. Người viết ký tên Trác Anh. Chị Lady nói: “Đây là một bài viết đăng trên báo L’Annam, tiếng Pháp “Cơ quan tuyên truyền dân chủ” ra ngày 24/3/19271. Chị lại đưa thêm cho Tiến sĩ Khoan một bản phô tô trang 1 của số báo này. Chị chỉ vào một cột chữ mờ, trắng và nói tiếp: “Đây là vị trí của bài viết, phô tô cả tờ không thể đọc được, nên tôi phải phô tô riêng”.

Chị Lady cho biết chị sưu tầm được tài liệu này từ kho lưu trữ của Trường Đại học Washington (Hoa Kỳ), ký hiệu A.117.21, Micro phim về tờ L’Annam2, các số ra từ ngày 6/5/1926 đến tháng 2/1928.

Chị nói: “Trác Anh là bút danh của Võ Nguyên Giáp, viết lúc 16 tuổi. Ông Khoan đọc đi sẽ hiểu”.

Tiến sĩ Khoan đã đọc và (như ông nói) với vốn tiếng Pháp hạn chế, ông đã cố gắng “chuyển ngữ” để trước mắt phục vụ kịp thời bạn đọc. Ông mong rằng, sau này cơ quan có trách nhiệm sẽ có bản dịch chính thống.

Với tình cảm của mình, Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan đã dành tài liệu đặc biệt này cho Huế, để bạn đọc có cái nhìn sâu hơn về một thiên tài quân sự, về một nhà báo lớn của nền báo chí cách mạng Việt Nam, nhân dịp kỷ niệm 110 năm ngày sinh của Đại tướng.

Chúng tôi mạn phép Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan xin được công bố lại trên Tạp chí Sông Hương về một bài báo đầu tiên của Nhà báo - Đại tướng Võ Nguyên Giáp bấy lâu thất lạc.

D.P.T



HUẾ

CHẾ ĐỘ LẠ KỲ GÌ THẾ TRONG MỘT TRƯỜNG QUỐC HỌC?  

Từ khi những cuộc bãi khóa xảy ra trong các trường học của chúng tôi, tiếp theo là những hành động ức hiếp của nhà cầm quyền, ông Burốt (Bourotte)3  Hiệu  trưởng Trường Quốc Học Huế, lo lắng thấy phong trào bãi khóa ảnh hưởng đến thanh niên Huế, nên đã can thiệp đúng lúc bằng cách siết chặt lại chiếc ốc vít. Từ đấy, ông ra sức làm khổ người khác, theo người ta nói - là duy trì trong Trường Quốc Học một chế độ tai tiếng nhiều hơn.

Chuyện là, ông Burốt, người trước đây vài năm, bây giờ là giáo sư, đã khuyên nhủ học sinh nhiều lần là phải đọc báo, đọc sách để theo sát được các biến cố giúp ích cho việc học sử ký và địa dư; chính ông ấy, rất nhiều lần đã nói với học sinh bằng một giọng trách móc đáng yêu: “Các anh đọc rất ít báo”.

Thế nhưng, từ khi ông ấy trở thành hiệu trưởng, chỉ mới cách đây 2 năm - ông ta đã thay đổi hoàn toàn một đường lối chỉ đạo khi tiến hành một cuộc chiến tranh không khoan nhượng với báo chí và đối với những bạn đọc trẻ tuổi của báo chí.

Cái gì là nguyên nhân của sự thay đổi này? Người ta phỏng đoán, đó là tính đa nghi, cái tính đa nghi này rất đắt giá đối với các nhà “khai hóa” chúng ta, nỗi lo sợ không thể chống lại khi thấy các thanh niên An Nam này đã từng thấy những sự thật dã man trên đất nước họ, những mánh khóe bỉ ổi của những người mang danh là “kẻ đi bảo hộ” họ.

Hơn thế nữa, ông Burốt còn hàng ngày lục lọi các ấm phẩm, đọc trộm thư từ của học sinh, trước khi trả lại cho địa chỉ người nhận; tịch thu mọi cuốn sách nghi vấn. Một thông báo lông bông dưới đây có thể chứng minh: “Học sinh chỉ được đọc những sách có chữ ký của hiệu trưởng”.

Còn nữa, ông Burốt còn bố trí chỉ điểm theo dõi học sinh. Như người bị ma ám, tai lúc nào cũng rình nghe, ông ta ăn mất ngon, và chỉ có thể nhắm mắt được khi đêm đã khuya. Với chân con sói, ông bước đi trong các phòng ngủ, nấp sau các bức tường để dò nghe những câu chuyện bàn về “chính trị”.

Chưa hết, ông Burốt còn để mắt tới tất cả học sinh, những ai mà ông ta nghi ngờ đã thường đến với Phan Bội Châu, và tìm cách xử phạt họ quá đáng.

Vậy là, ông Burốt đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình? Ông tìm cách làm nhiều hơn có thể để trói buộc học sinh bằng một hệ thống những quy định hà khắc.

Hỡi những kẻ không vâng lời!

Hãy từ bỏ những điều không tưởng của các người đi.

Chừng nào chế độ bất hợp tác không có chỗ trong cái xứ An Nam êm dịu này, lưỡi gươm Đêmoclét4 vẫn còn đó, đang treo trên đầu tất cả mọi người.

TRÁC ANH
(TCSH390/08-2021)

--------------------
1. Theo bản “Những năm tháng và cuộc đời” do chính Đại tướng cho phép nhóm biên soạn sáchĐại tướng Tổng  Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Đại tướng của Nhân dân, của Hòa bình” (Nguyễn Văn Khoan, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Huyên), Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2013: Năm 1925 - 1926, tham gia phong trào học sinh ở Trường Quốc Học Huế; năm 1929, vào Đảng Tân Việt. Như vậy bài này được viết trước khi bị đuổi khỏi Trường Quốc Học Huế.
2. Theo PGS.TS Tô Huy Rứa (Chủ biên), Thư tịch báo chí Việt Nam, Nxb Chính trị QG, 1998, báo L’Annam xuất  bản 1 tuần 2 kỳ, thứ 2, thứ 5. Số đầu tiên ra ngày 6/5/1926 - Số cuối ra ngày 2/2/1928. Giám đốc: Phan Văn Trường (đến cuối năm 1926), sau là Nguyễn Huỳnh Điểu. Quản lý: Giăng đờ la Basti (người Pháp). Tòa soạn đóng tại đường Mác Mahông, Sài Gòn.
3. Burốt là người Do Thái, giáo sư Sử, Địa, dạy ở Trường Quốc Học Huế và có 4 năm (1925 - 1928) làm hiệu  trưởng; sau 1945 và vào năm 1951, làm Hiệu trưởng Trường Sasơ lup Lô ba, Sài Gòn.
4. Đêmoclets - không có chú thích trong Bách khoa Việt Nam, trong cả từ điển Britania, xuất bản năm 2014. Theo  Từ điển RoBert Pháp: “Công dân xứ Denits, thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, luôn tự cho mình là người hạnh phúc. Có lần, được mời đến dự một bữa tiệc anh ta được đón như một ông hoàng. Đêmoclets cho treo trên đầu một thanh gươm bằng một sợi lông đuôi ngựa… Ý nói sự mong manh của hạnh phúc và những tai họa sẽ xảy ra không lường. Từ đó, có cụm từ Lưỡi gươm Đêmoclets - (Các chú thích của Nguyễn Văn Khoan).  




  


 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh (19/5/1959 - 19/5/2019)

    NGUYỄN KHẮC PHÊ

    Đã nhắc đến đường Trường Sơn, có lẽ hầu như ai cũng nghĩ đến Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nhất là khi vị tư lệnh các lực lượng chiến đấu trên con đường huyền thoại này trong những năm chiến tranh ác liệt vừa ra đi ngay giữa lúc các hoạt động tiến tới kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Trường Sơn đang diễn ra ở nhiều địa phương, đơn vị quân đội…

  • TÔ HỮU QUỴ

    Nhìn những bọt nước lớn nhỏ bám vào nhau lững thững trôi theo vệ đường, tôi nhớ có ai đã nói với tôi mỗi khi trời mưa, bọt nước không vỡ nhanh mà cứ bồng bềnh trên mặt như thế là cơn mưa sẽ kéo dài thật lâu.

  • TRẦN ĐỨC CƯỜNG(*)

    Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi. Đất nước thu về một mối.

  • VÕ THỊ XUÂN HÀ

    Đêm qua có một chàng trai nhắn cho tôi: “Có khi em không phải người phàm thật em ạ”.
    (Xin phép anh cho tôi nói ra điều này vì độc giả yêu quý).

  • HÀ LÂM KỲ  

    Tháng 5 năm 1996, nhân gặp nhà thơ Tố Hữu ở Hội Nhà văn, tôi rụt rè nói với ông rằng có cuốn băng về câu chuyện giữa nhà thơ và Bác Hồ. Ông vui vẻ nhận lời nghe lại.

  • BÙI KIM CHI

    Chút hương chiều bảng lảng. Xôn xao lá me gọi hồn con gái. Mây vội vàng đuổi nắng. Bàng bạc sắc lam pha hồng. Trời nhẹ tênh đưa mây xuống thấp.

  • HOÀNG THỊ NHƯ HUY

    Sáng nay bầu trời âm u màu xám xịt như muốn sụp đổ với những cơn mưa liên tục xối xả, báo hiệu con nước sắp vượt bờ sông Hương.


  • NGUYỄN BÙI VỢI

  • MAI VĂN HOAN

    Bình Trị Thiên trước đây và Thừa Thiên Huế bây giờ vốn nổi tiếng là nơi có nhiều học sinh giỏi. Các lớp chuyên tỉnh đã được thành lập hơn 12 năm nay.

  • LTS: Sáng ngày 8/11/2018, tại Huế đã diễn ra Hội thảo “Đồng chí Nguyễn Chí Diểu với Cách mạng Việt Nam và quê hương Thừa Thiên Huế” do Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế phối hợp tổ chức. 

  • YẾN LAN
             Hồi ký

    Sau một chuyến đi dài vào mảnh đất tận miền Tây Tổ Quốc, tôi trở về quê, lòng chưa ráo nỗi nhớ đường, nhớ sá, thì trời đã chớm sang thu.

  • TRẦN QUANG MIỄN  

    Có lẽ, cho đến bây giờ bạn bè, người quen biết vẫn thường gọi tôi:
    - Ê Thành Cát Tư Hãn!
    Vai diễn đó đã thực sự tạo sự khác biệt giữa tôi và bạn bè cùng trang lứa lớp Đệ Tam ban C trường Quốc Học.

  • TRỌNG NGUYỄN

    Nhà nghiên cứu lịch sử Ngô Kha kể: “Tết năm 1966, một bà cụ từ bên Lại Bằng (huyện Hương Trà) lặn lội qua Phong Sơn (huyện Phong Điền) thuộc vùng giải phóng để xem chiếu bóng.

  • NGUYỄN PHƯỚC HẢI TRUNG
    (Trích đoạn tuồng lịch sử)

    LTS: Từ thành công của Cách mạng Tháng Tám đến thành công của “Tuần Lễ Vàng” năm 1945, lịch sử Việt Nam đã chứng minh rõ về sức mạnh của quần chúng nhân dân trong cách mạng và khối đại đoàn kết dân tộc trong thực tiễn. Những dấu mốc ấy đã để lại bài học lớn lao đầy ý nghĩa về xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc.

  • NGUYỄN THÁI SƠN

    Trong suốt quá trình lãnh đạo nhân dân làm cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quan tâm, xem báo chí như một thứ vũ khí tư tưởng sắc bén, là tiếng nói của Đảng và Nhà nước và cũng là diễn đàn xã hội rộng lớn của nhân dân.

  • Kỷ Niệm Ngày Thương Binh Liệt Sỹ 27/7  

    BÙI XUÂN HÒA  
                  Ghi chép 

  • ĐẶNG NHẬT MINH   

    Anh Trần Đăng Nghi trên tôi 7 tuổi, thuộc thế hệ các dì các cậu tôi ở Huế. Tôi biết anh qua dì tôi, bác sĩ Nguyễn Ngọc Toản và ông anh họ tôi là kỹ sư Lê Đình Cát, những người bạn chí thân của anh từ thuở cắp sách đi học ở Huế cho đến khi đã về già. 

  • TÔ NHUẬN VỸ

    Có những nội dung, định hướng trên tạp chí bây giờ đã bình thường, nhưng vào thời gian cách nay hai ba chục năm là quá chừng rối rắm, phức tạp. Như Hòa hợp trong văn chương, văn hóa.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ   

    Nhận thư Tòa soạn “Sông Hương” nhắc viết bài cho số kỷ niệm 35 năm Tạp chí Sông Hương ra số đầu tiên, lời đáp là một “tự vấn”: Không biết viết cái chi đây?

  • PHẠM XUÂN PHỤNG

    Một buổi sáng tháng 7 năm 1994, tại Văn phòng Đảng ủy Bệnh viên Trung ương Huế, tôi tiếp một nhân viên văn phòng Hội Văn học Nghệ thuật (nay là Liên hiệp các Hội VHNT Thừa Thiên Huế).