HOÀNG THỊ NHƯ HUY
Sáng nay bầu trời âm u màu xám xịt như muốn sụp đổ với những cơn mưa liên tục xối xả, báo hiệu con nước sắp vượt bờ sông Hương.
Tác giả trong cơn đại hồng thủy 1999
Thẩn thờ nhìn trời đất với nét mặt đầy lo âu, mẹ liên tục chặc lưỡi thở dài với giọng thật buồn: “Trời sắp hành cơn lũ lớn!”
Với kinh nghiệm của người từng sống bao năm trên mảnh đất luôn xảy ra những cơn lũ thảm khốc, mẹ nhìn sắc trời, sắc nước, tiên đoán được những gì sắp xảy đến.
Lũ trẻ vẫn hồn nhiên vô tư nô đùa nhìn con nước chảy trên dòng sông trước ngõ.
Nước theo cơn mưa đổ, đang lên dần, lên dần… mẹ hối hả gọi tôi mang tơi, xăn cao quần, lội ra mảnh vườn nhà, cố nhặt nhạnh nhanh những hoa màu trong vườn vì đêm nay lũ về, tất cả sẽ bị cuốn đi.
Dưới mưa, mặt mẹ ướt đầm, dáng gầy đang ra sức vật lộn với cây ba lùn có buồng chuối non đã ngã nghiêng vì mưa gió. Mẹ kéo lê cả buồng chuối vào nhà. Tôi nhặt mấy mớ rau lang, bông ngót, rau dền… nơi những luống rau sắp bị dòng nước bạc ngập tràn, nhổ nhanh mấy bụi sắn củ còn non và hái nhanh mấy trái khế chua trên cành cây đã tả tơi vì gió… Những thứ không mong đợi ấy, là miếng ăn trong những ngày sắp tới nếu cơn lũ đổ về cầm chân không thể ra chợ mua sắm như mọi ngày.
Cơn mưa vẫn xối xả. Con nước đục ngầu đang mấp mé ngoài bờ sông. Tiếng loa đài thúc giục phòng chống bão lụt vang lên ra rả… Mẹ lặng lẽ ngồi nấu những món ăn.
Tôi lẩn quẩn bên mẹ để phụ giúp. Cắt thân chuối sứ nơi cuối vườn vừa gãy đổ, mẹ làm món dưa chuối của quê nghèo. Chỉ hai ngày ủ muối, sẽ có món dưa chuối, thêm một chén nước ruốc kho, dậy hương chanh và tỏi ớt, đủ cho ta cầm hơi qua những ngày lũ đến…
Mẹ lột vỏ củ sắn ngâm vào thau nước. Phần để luộc, phần để kho. Những củ sắn non chưa đến vụ bị cơn lũ tràn về ngập úng nên phải nhổ nhanh kẻo thối.
Bụng đói phải nấu cái gì nhanh mới được! Mẹ nấu tạm món sắn luộc chấm muối ớt. Trong cơn lành lạnh của buổi trời mới lập đông, cái tất bật chạy lũ đang đổ về miền đất thấp trũng… những miếng sắn chín mềm thơm thơm được chấm với muối ớt giã mịn đủ tiếp sức ta qua cơn đói lòng khi cơn lũ đã tràn ngập vườn.
Nước đã lên, nước đang tiếp tục dâng lên!
Vừa lội trong lũ, vừa ăn củ sắn luộc chấm muối ớt bùi bùi cay cay! Ngoài trời mưa vẫn xối xả. Lũ vẫn sẽ còn lên cao. Món sắn kho với chút mỡ và ruốc của quê mình cũng là món ăn ngon khi đã đói run vì lội nước. Múc ra tô, trên nền sắn trắng, điểm mấy giọt ớt màu đỏ, mấy cọng hành ngò xanh… vừa ăn vừa thổi, vừa cảm nhận cái bùi bùi, thơm thơm, mằn mặn... thật là “một miếng khi đói bằng gói khi no”.
Lột vỏ phần vỏ cứng bên ngoài, lấy lớp vỏ sắn màu hồng, mẹ xếp chồng nhau rồi cắt từng sợi nhỏ, ngâm trong nước muối để khi ăn khỏi phải bị say. Những vỏ sắn được mẹ chế biến thành món dưa chua. Nước hâm ấm ấm, vị muối mằn mặn, thêm lượng nước cháo hồ… Mẹ cho vỏ sắn vào hũ sành, cài chặt miệng, đổ nước ngập đầy. Một hai ngày sau, dưa chuyển hương thơm, vị chua… cái hương vị vừa dân dã vừa lạ lùng ấy cũng đã từng cho tôi được thưởng thức trong những mùa lũ đến.
Con nước đang cuồn cuộn tràn bờ sông. Bác Tư đi đánh mẻ cá về ngang qua cổng, gọi cho một mớ để kho khô. Tôi chạy ra nhận mớ cá từ lòng hảo tâm của người hàng xóm. Mớ cá mùa lũ quen thân gồm đông đủ họ nhà Tràu, Giếc, Trê, Cấn, Mại… bé tẻo teo. Những ai đã từng ở Huế trong mùa lũ, từng được ăn món cá mùa lũ kho khô khi chân đang phải ngâm lạnh giá trong nước lũ mới thấy hết cái hương vị nhớ đời của nó.
Người Huế có cái thú đi đánh rớ cá nước lũ. Một người đánh cá, hàng chục người đứng xem. Khi mớ cá vừa cất lên, người ta có thể cho nhau hoặc bán kiếm chút tiền mọn.
Những mớ cá bé tẻo teo này không hẳn là miếng ngon, nhưng nếu khéo chế biến, chúng sẽ thành những dĩa cá vàng nâu, bóng mượt. Khi đói lòng ta nhìn chỉ muốn ăn ngay.
Mẹ vội vả kho trách cá để cả nhà ăn dần.
Những quả ớt kim nho nhỏ màu đỏ, được mẹ bỏ vào kho cùng. Ớt cay sẽ xua đi cái tanh của những con cá nhép.
Bữa cơm chiều, mẹ lại nấu cho cả nhà món chuối ba lùn kho ruốc. Nồi chuối kho dậy hương thơm, khi lũ đã vào tận mé sân nhà.
Chuối kho nóng hôi hổi được múc ra bát, thêm hành lá, rau răm, ngò… hương thơm của các loại rau gia vị, phả vào cái mũi của lũ trẻ háu ăn.
Buổi tối, nước lũ đã vào nhà. Tôi phụ giúp mẹ kê ghế nâng bốn chân giường. Các em tôi leo lên ngồi trên đó với một mớ ngổn ngang áo quần sách vở. Chúng ngồi xếp thuyền giấy thả xuống bập bềnh trên nước với những nụ cười sung sướng của con trẻ.
Mắt mẹ tối sầm lại khi con nước vẫn đang lạnh lùng dâng... Mẹ sai tôi nấu nhanh một nồi cơm lớn, băm bó sả vừa nhổ trong vườn, xào với ruốc thành món muối sả đơn giản của kẻ nghèo. Tôi chưa hiểu sao phải nấu cơm khi đêm đã buông?, nhưng mẹ bảo cứ làm theo. Nước lùa nhanh vào nhà xuyên qua ống chân. Khi nồi cơm vừa chín thì bếp lò bị nước đẩy trôi bập bềnh. Ôi thôi! Cái ghế nhựa, cái thau, cái xô, đôi dép, đôi giầy… cả hũ dưa sáng nay vừa muối đang trôi bập bềnh trong nước!
Mẹ nhanh tay lấy cây rựa gác lên cao, quơ vội mấy thức có thể ăn được: nồi cơm, nồi cá kho, hũ muối sả, mấy gói mỳ ăn liền, bịch nước uống… lên giường.
Chiếc giường giờ như một chiếc tàu chở cả nhà tôi cùng mấy thứ còn lại trong cái gia sản nghèo nàn này.
Lội trong nước, tôi cố đưa lên cao những gì còn lại… Khi nước lên cao ngang bụng, hai mẹ con không còn đủ sức. Cơn lạnh đột ngột toát ra từ tận xương tủy. Mẹ kéo tôi lên chiếc giường. Mấy đứa em đã ôm nhau ngủ lăn lóc như mấy củ khoai của quê nghèo. Mẹ ôm lũ con vào lòng. Trong bóng tối, tôi cảm nhận hơi ấm của mẹ đang ấp ủ cho cả lũ chúng tôi. Tôi nhắm mắt tận hưởng cái cảm giác êm đềm ấy, cố ru mình ngủ lấy lại sức cho một ngày sắp đến.
Nhưng đêm đã không tĩnh lặng. Con nước vẫn đang tiếp tục dâng cao hơn. Khi biển nước mênh mông đã sắp nhấn chìm xóm nhỏ của chúng tôi, tôi đã nghe muôn âm thanh kêu gọi nhau từ nhà này vọng sang nhà khác. Tôi sợ hãi đến muốn oà khóc. Nhưng tôi cố gượng. Tôi không khóc. Vì tôi là chỗ dựa duy nhất của mẹ trong đời này, trong chính khoảnh khắc này. Giờ đây nếu tôi tỏ sự yếu hèn, thử hỏi mẹ biết trông cậy vào ai?
Tôi nghe có tiếng ai đó kêu vang tên mẹ con tôi:
“Mạ con mụ Bê có còn đó không?
Có chi để ăn không?”
Mẹ chồm người lên, đu lên đòn tay, dùng cây rựa, phá vỡ một khoảng trống trên mái nhà. Mẹ nhoài ra trong cái khoảng bóng tối mênh mông ấy kêu đáp lại:
“Mạ con tui còn đây!”
Tôi bất chợt tủi thân khóc òa.
Tiếng khóc của tôi đánh thức lũ em dậy. Giờ chúng mới thấu hiểu được nỗi kinh hoàng của lũ khi thấy bốn bề nước mênh mông, cất tiếng khóc, tạo nên một bản hòa tấu thê lương.
Mẹ cũng khóc.
Mẹ đưa tay áo lau khô nước mắt leo lên cái tra trên tận sát mái nhà, lần lượt đưa mấy đứa em tôi lên nằm trên ấy. Nồi cơm, trách cá cũng được chuyển lên cùng.
Mẹ bảo: “Đi đâu thì miếng ăn, thức uống phải theo đó.”
Khi mà ngọn lửa kỳ diệu của bếp không thể bập bùng trong lũ, thì ra mẹ đã lo xa sai tôi nấu nồi cơm to là thế!
Có tiếng chèo khua từ chiếc ghe nhỏ đang áp sát mái nhà. Người láng giềng tốt bụng hôm qua cho tôi mớ cá, nay lại bơi ghe đi tiếp cứu những gia đình neo đơn trong xóm nhỏ…
Tôi ngồi bó gối trong bóng đêm. Bên ngoài là biển nước mênh mông. Tiếng mưa xối xả. Đó đây lại vẳng lên tiếng kêu gọi nhau đan xen trong tiếng mưa như thác đổ. Khi tiếng gọi không còn đủ sức vọng, người ta lại khua soong nồi để tạo tiếng vang xa hơn. Vang xa hơn để hỏi nhau ai còn ai mất, vang xa hơn như những lời kêu cứu...
Đêm trôi thật chậm… thật chậm… Lũ em lại tỉnh giấc, bốc cơm nguội ăn với cá kho, muối sả… cho đến miếng cơm cháy tận đáy nồi.
Lũ sẽ còn về trên đất Huế quê tôi. Người Huế sẽ mãi lưu truyền những kinh nghiệm để sống chung với lũ, gìn giữ những tấm lòng khi tắt lửa tối đèn, mênh mang trong lũ.
H.T.N.H
(SHSDB31/12-2018)
TRẦN HUYỀN ÂN
Tôi thường hay nghĩ về tết gắn liền với hình ảnh của mạ tôi - người thường kể cho tôi nghe câu chuyện tết bằng câu mở đầu: “Hồi nớ, tết là...”.
Kinh tặng, hương hồn nghệ sĩ Châu Thành
“Những con hổ xám đường 14” là biệt danh mà nguyên Thành đội trưởng Huế Thân Trọng Một dùng để tôn vinh một Trung đội bộ đội địa phương Quận 4 miền Tây Thừa Thiên do A Lơn chỉ huy.
Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm, kết thúc bằng Điện Biên Phủ lẫy lừng, chờ tổng tuyển cử sau Hiệp định Genève hai năm mòn mỏi, quân dân ta còn phải trường kỳ kháng Mỹ dài mấy mươi năm.
LÊ XUÂN VIỆT
Sau ngày miền Nam giải phóng (Xuân 1975) tôi chuyển công tác từ Đại học tổng hợp Hà Nội vào Huế. Ở thành phố đẹp và thơ, đầy mơ mộng này rất hợp ngành văn mà tôi say mê và theo đuổi từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông.
PHẠM HỮU THU Nếu không nghe những nhận xét, dù kiệm lời của những vị cựu lãnh đạo địa phương và không trực tiếp kiểm chứng, thú thật là tôi không thể viết về con người này, một con người không chỉ dũng cảm trong chiến đấu mà còn giàu lòng nhân ái đối với đối phương và tận tâm vì nghĩa tình đồng đội. Người đó là ông Lê Hữu Tòng, nguyên Huyện đội trưởng Huyện đội Hương Thủy!
Hồng Thế vừa làm thơ vừa cày ruộng ở quê. Cách đây mấy năm, anh có con bò già không cày được nữa, phải bán đi để mua bò mới.
TẤN HOÀI
bút ký
Nhà văn Graham Grin có một quyển tiểu thuyết "MỘT NGƯỜI MỸ TRẦM LẶNG".
NHẤT LÂM
Bút ký
NGUYỄN PHÚC ƯNG ÂN
Hồi ký
Tôi tỉnh giấc. Ngoảnh sang bên cạnh thấy các bạn đã ngồi dậy. Nằm yên trong bóng đêm, tôi thử tính xem mình đang còn cách Huế mấy cây số.
HỮU THU - CHIẾN HỮU
Ghi chép
Cuối năm ngoái, huyện Hương Trà tổ chức khánh thành hồ chứa nước Khe Rưng.
THANH THANH
Thật bất ngờ đọc lại một năm thơ Sông Hương dưới trăng rằm mười bốn chạp rồi ngơ ngẩn bấm đốt tay.
HÀ KHÁNH LINH - NGUYỄN KHẮC PHÊ
Chuẩn bị ra số kỷ niệm 10 năm giải phóng, Tòa soạn Tạp chí Sông Hương đã có kế hoạch phỏng vấn đồng chí Vũ Thắng, ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Trị Thiên, nhưng chương trình làm việc trong tuần của đồng chí văn phòng đã xếp quá chật.
PHẠM HUY LIỆU
Hồi ký
Đầu tháng 9/1968 tôi điều trị ở Bệnh viện Binh trạm 34, tỉnh Saravane, Nam Lào. Viện nằm trong thung lũng. Xung quanh nhiều núi cao rừng già nên cũng ít bị máy bay Mỹ quấy nhiễu.
DƯƠNG PHƯỚC THU
Bắt sáu tên giặc Pháp nhảy dù xuống huyện Phong Điền.
Ngày 23 tháng 8 năm 1945, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế thắng lợi, chiều cùng ngày, tại Sân vận động Bảo Long (về sau đổi gọi là Sân vận động Tự Do), trước hàng vạn đồng bào dự mít tinh, Ủy ban Cách mạng lâm thời tỉnh Thừa Thiên được thành lập và ra mắt, do nhà giáo Tôn Quang Phiệt làm Chủ tịch.
NGUYỄN KHẮC PHÊ
Tôi tỉnh giấc khi trời còn tối, nhưng không sao ngủ được nữa. Không phải vì tiếng động của những guồng máy quay, tiếng những vành thép nghiền vỡ vụn đá và cờ-lanh-ke.
TRẦN SỬ kể
HOÀNG NHÂN ghi
Chiến tranh du kích ở huyện Hương Thủy trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp đã diễn ra với nhiều hình thức chiến đấu đầy tính chất sáng tạo của toàn dân.
NGÔ MINH
Đối với anh em làm thơ, viết văn ở ba tỉnh Bình - Trị - Thiên trong nhiều chục năm qua, nhà thơ Hải Bằng là người không thể quên!
HỒNG NHU
Tôi biết anh, đọc anh từ trong kháng chiến chống Pháp, nhưng mỗi người một đơn vị công tác, mãi đến năm 1972 mới gặp nhau. Đó là một ngày mùa hè, bấy giờ Đông Hà vừa mới được giải phóng.