Vận may

15:06 25/05/2009
MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.

Văn hào Mark Twain

Khoảng thời gian nội chiến, chuyển sang làm thợ mỏ ở bang Nevada. Suốt mùa đông lạnh giá, tiêu khiển bằng cách viết những bài viết ngắn, ký tên là Josh và gửi chúng cho tờ Enterprise (Kinh doanh) ở thành phố Virginia, Nevada. Joseph T.Goodman, chủ báo tờ Enterprise, dùng những bài viết của Clemens, thừa nhận khả năng của ông và nhận ông làm thông tín viên địa phương với số lương 25 đô-la một tuần. Thế là anh chàng thợ mỏ Clemens lội bộ 125 dặm trên những con đường gập ghềnh đến nhận việc. Thành công ngay từ đầu và được phái đi tham dự kỳ họp thứ nhất Viện lập pháp liên bang Nevada ở thành phố Carson với tư cách là phóng viên. Chính tại đây, bắt đầu ký bút danh Mark Twain cho các tác phẩm của mình. Làm việc ở San Phrancisco một thời gian, rồi lại quay về công việc khai mỏ. Trở thành nhà diễn thuyết cao giá, những bài viết rất được ưa chuộng. Năm 1870, lập gia đình với Olivia Langdon ở Elmira. Những khó khăn về tài chính buộc Clemens phải tìm một cuộc sống ít tốn kém hơn ở Châu Âu. Sau một chuyến đi nói chuyện vòng quanh thế giới, đến sống ở London và Vienna trong 4 năm. Năm 1904, quay về lại New York. Sau đó, tậu một mảnh đất ở Redding, Connecticut, trên đỉnh đồi có xây một căn nhà xinh xắn, sống nốt hai năm còn lại của đời mình tại đây. Mất vì bệnh tim.

Twain là người mở đường cho chủ nghĩa tự nhiên trong văn học, lấy châm biến và hài hước làm vũ khí. Ông phê phán sâu sắc nhiều mặt xã hội Mỹ cuối thế kỷ XIX.

Tác phẩm chính: Con ếch nhảy trứ danh của hạt Calevaras (1865), Thời đại hoàng kim (1873), Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer (1876), Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn (1885), Hoàng tử và chú bé nghèo khổ (1882), Một người Mỹ vùng Connecticut trong triều đình vua Arthur (1889)...



Câu chuyện xảy ra ở London, trong một bữa đại tiệc chào mừng một trong số những quân nhân Anh sáng chói nhất của thời đại chúng ta. Vì những lý do tôi sẽ kể ra sau này, tôi xin được giấu tên thật của nhân vật đặc biệt này mà chỉ gọi ông là trung tướng Arthur Scoresby. Điều lý thú của câu chuyện nằm trong chính tước hiệu cao quí đó, ở đằng kia chính là con người ấy, một người bằng xương bằng thịt, người mà tôi đã nghe danh tiếng có đến hàng ngàn lần từ 30 năm trước, khi tên tuổi của ông đột nhiên trở nên lừng lẫy sau trận đánh Crimean, và sẽ còn được ghi nhớ mãi. Tôi ngắm nhìn con người huyền thoại đó, cố xét đoán và ghi nhớ dáng vẻ trầm tĩnh, dè dặt, sự trang nghiêm cao quí toát lên từ con người ông; cả sự trung thực một cách giản đơn, sự vô tư dễ mến của một con người vĩ đại. Hàng trăm cặp mắt ngưỡng mộ của những vị khách đang có mặt lúc đó dán chặt vào ông, những ánh nhìn tôn thờ chân thành và sâu sắc.

Bên cạnh tôi là một vị linh mục, một người quen cũ của tôi, người đã dành nửa đời mình sống trong các trại lính, xông pha nơi trận mạc và cũng từng là một giáo sư của một trường quân sự tại Woolwich. Đúng lúc tôi chợt nhận thấy một tia sáng là lạ, như che giấu điều gì le lói trong cặp mắt ông, ông bỗng nghiêng người, nói nhỏ vào tai tôi, phác một điệu bộ chỉ vào người anh hùng của buổi tiệc: "Bí mật nhé, ông ta là một tay đại ngốc".

Nhận định đó làm tôi sửng sốt. Nếu đó là nói về Napoleon hay Socrates, Solomon, tôi cũng không thể kinh ngạc hơn được. Có hai điều tôi biết râát rõ là: Vị linh mục là một người trung thực, những nhận xét của ông về mọi người luôn luôn đầy thiện chí. Chính vì vậy, không một chút hoài nghi tôi tin rằng thế giới này hẳn đã nhầm lẫn về vị anh hùng này: ông ta là một tên ngốc. Tôi nảy ra một ý định, vào một dịp thích hợp sẽ tìm hiểu xem làm thế nào mà vị linh mục, người luôn sống một cuộc đời xa lánh cô đơn lại phát hiện ra bí mật này. Vài ngày sau, cơ hội đến. Và đây là những gì vị linh mục kể lại cho tôi: 40 năm trước, tôi là một giáo sự giảng dạy ở Học viện Quân sự tại Woolwich. Tôi đã có mặt trong buổi hỏi thi sơ tuyển chàng học viên Scoresby. Tôi cảm thấy thực sự thương hại khi mà hầu hết cả lớp anh ta có thể trả lời các câu hỏi một cách sáng rõ và chính xác, thì anh ta lại chẳng biết một chút gì cả và không nói nên lời. Trông anh ta thật tội nghiệp khi đứng ở đó, câm lặng như một pho tượng, thốt ra những lời ngu ngốc, sai lạc một cách đáng kinh ngạc. Sự thương hại trong tôi trỗi dậy. Tôi nghĩ: Cho dù có thi lại đi nữa, cậu ta cũng chẳng khá khẩm hơn được. Tốt hơn là thử làm một việc nhân đạo vô hại, giảm bớt phần nào thất bại của anh ta xem sao. Tôi liền cho phép anh ta đứng cạnh mình, và nhận ra rằng anh ta có biết chút ít về lịch sử Cesar. Vì ngoài điều đó ra anh ta chẳng biết gì khác cả, tôi liền đưa ra một loạt câu hỏi cũ mèm về Cesar. Anh có thể tin được không, anh ta đã qua được kỳ thi đó một cách xuất sắc, tất nhiên chỉ ở vẻ ngoài, và nhận được vô số lời khen ngợi. Trong khi đó những người khác, những người hiểu biết gấp cả ngàn lần anh ta thì lại nếm mùi thất bại. Chính nhờ "sự cố" may mắn kỳ lạ, một "sự cố" ngàn năm có một, anh ta đã được hỏi những câu hỏi không nằm ngoài vốn hiểu biết vô cùng hạn hẹp của mình.

Thật không thể tin nổi. Thế đấy, trong suốt kỳ sát hạch, tôi đã luôn đứng cạnh anh ta, giang tay che chở như một người mẹ đối với đứa con bé bỏng, què quặt của mình. Và rồi anh ta đã tự cứu mình bằng một phép màu huyền diệu. Còn bây giờ, môn có thể làm lộ tẩy tất cả chân tướng của anh ta sẽ là môn Toán. Tôi quyết định sẽ nương nhẹ anh ta hết mức có thể. Tôi liền đưa ra dồn dập hàng loạt câu hỏi mà tôi biết rằng mọi thí sinh có thể trả lời một cách mĩ mãn, sau đó sẽ mặc cho số phận anh ta định đoạt. Và anh có thể hình dung nổi kết quả như thế nào không: trước sự kinh ngạc, sửng sốt của tôi, anh ta đã giành giải nhất. Và cả những lời khen ngợi, tung hô không ngớt.

Giấc ngủ ư? Đã một tuần rồi tôi không hề chợp mắt. Lương tâm dày vò tôi cả ngày lẫn đêm. Tôi đã làm gì, đã làm gì chỉ vì lòng thương hại, chỉ vì muốn cứu giúp một cậu học trò tội nghiệp? Làm sao có thể hình dung nổi một kết quả phi lý đến vậy. Tôi cảm thấy mình mắc tội và vô cùng đau khổ. Đó chỉ là một cái đầu mít đặc, vậy mà tôi đã dọn sẵn cho anh ta một tương lai sáng lạn và cả những trọng trách to lớn. Nhưng rồi một điều tất yếu sẽ xảy ra: anh ta và cả những trách nhiệm nặng nề sẽ cùng sụp đổ trước những thử thách đầu tiên.

Chiến tranh nổ ra. Một cuộc chiến tranh tất yếu phải xảy đến. Tôi tự nhủ. Chúng ta không thể có hoà bình và để cho con lừa ngốc nghếch này cơ hội được chết trước khi sự thật được phơi bày. Tôi chờ một cuộc động đất. Nó đã đến và làm tôi choáng váng. Anh ta được bổ nhiệm làm đại uý một trung đội bộ binh. Kể cả những người giỏi giang hơn anh ta rất nhiều cũng phải bạc đầu trong quân ngũ mới có thể leo lên cấp bậc cao gần bằng như vậy. Rồi họ sẽ phải xoay xở ra sao dưới sự chỉ huy của một người hoàn toàn không xứng đáng như vậy?

Nếu họ chỉ giao cho anh ta một chân thổi kèn đồng trong quân đội cũng đủ khiến tôi choáng váng. Nhưng đây lại là chức đại úy. Chỉ nghĩ đến điều đó thôi, tóc trên đầu tôi cũng đã dựng ngược.

Cứ tự dày vò mình mãi, tôi, một con người quá ư mềm yếu, quá ư trắc ẩn, tôi phải chịu trách nhiệm trước Tổ quốc mình vì việc làm này. Tôi phải đi cùng anh ta để bảo vệ đất nước khỏi con người dốt nát ấy. Suy nghĩ như vậy, tôi liền đem toàn bộ số tiền ít ỏi dành dụm được trong suốt bao năm làm lụng vất vả, thở dài, mua một chiếc kèn đồng, xung vào trung đội anh ta. Thế là cả hai chúng tôi cùng ra trận. Tại đó, lạy Chúa, thật kinh khủng! Nhầm lẫn? Tại sao anh ta không thể làm điều gì khác ngoại trừ sự nhầm lẫn. Nhưng anh biết đấy, chẳng một ai biết được bí mật của anh ta. Họ để anh ta toàn quyền đưa ra những quyết định sai lầm và lại cho những nhầm lẫn ngu xuẩn ấy là những sáng kiến tuyệt vời của một thiên tài. Họ làm tôi phát khóc, và cả phẫn nộ nữa, tất nhiên một cách bí mật. Một điều khiến tôi luôn ở trong trạng thái lo sợ một cách ngọt ngào là mỗi một sai lầm của anh ta lại càng tăng thêm danh tiếng lẫy lừng của anh ta. Tôi tự nhủ, hắn ta sẽ còn leo cao tới mức khi sự thật cuối cùng bị phơi bày thì điều đó cũng tựa như vầng mặt trời chói lọi bị sa khỏi bầu trời vậy.

Anh ta cứ leo lên cao mãi, hết cấp này sang cấp khác, và cuối cùng vào thời điểm gay cấn nhất của cuộc chiến, khi những vị chỉ huy cao hơn đã lần lượt ngã xuống, anh ta được cất nhắc lên chức đại tá. Tim tôi muốn nhảy khỏi lồng ngực. Chuyện này mà xảy ra được thì việc chúng ta đặt chân lên cung trăng chỉ trong một tích tắc là hoàn toàn có thể tin được.

Trận chiến vô cùng ác liệt. Quân liên minh chiếm mọi ngả đường mặt trận. Trung đội tôi nắm giữ một vị trí then chốt. Một sự nhầm lẫn nhỏ nhất cũng có thể dẫn đến sự hủy diệt. Tại thời điểm sống còn đó, những gì mà con lừa ngu ngốc ấy đã làm là ra lệnh cho trung đội di chuyển khỏi vị trí an toàn, tiến sang quả đồi bên cạnh nơi chẳng có một mống kẻ thù nào.

Thế đấy, rồi sẽ đến hồi kết. Tôi thầm nhủ.

Chúng tôi bắt đầu đi, cố vượt qua sườn đồi trước khi sự di chuyển điên rồ này bị phát hiện và chặn đứng. Chúng tôi sẽ thấy gì? Toàn bộ quân đội Nga, không nghi ngờ gì nữa, sẽ mai phục ở đó. Rồi sau đó? Chúng tôi sẽ bị xơi gọn. Khả năng đó lên tới 99,9%. Nhưng mọi chuyện lại không diễn ra như vậy. Quân Nga khi đó hẳn đã phán đoán rằng, không một trung đội đơn lẻ nào lại dám dù chỉ là mon men đến khu vực đó.

Vậy chắc chắn phải là toàn bộ quân đội Anh. Những bí mật của quân Nga hẳn đã bị lộ tẩy. Và thế là quân Nga bắt đầu tháo chạy, vượt qua quả đồi, lao xuống cánh đồng, và nhờ một sự nhầm lẫn có một không hai, chúng tôi đi theo sát họ. Chính quân Nga đã tự xé lẻ, phá vỡ thế đóng quân vững chắc của mình. Và đó quả thực là một mũi tấn công tuyệt vời nhất, chưa từng thấy của quân Anh. Từ thế thắng cầm chắc trong tay, quân Nga đã chuyển vinh quang đó sang quân Anh một cách quá đỗi dễ dàng. Vị tổng nguyên soái của chúng tôi, kinh ngạc, sung sướng và ngưỡng mộ, đã lao thẳng tới chỗ Scoresby, ôm chầm lấy anh ta, gắn những tấm huân chương cao quí lên ngực áo anh ta, trước sự chứng kiến của toàn quân đội!

Vào thời điểm lịch sử đó, sự nhầm lẫn của Scoresby là gì vậy? Đó là nhầm bên tay phải thành bên tay trái, có thế thôi. Một mệnh lệnh đã được truyền tới chỗ anh ta là phải lui quân lại, hỗ trợ cho cánh quân bên phải. Nhưng thay vào đó, anh ta lại tiến quân lên phía trước, vượt qua quả đồi về phía tay trái. Nhưng vòng hào quang mà anh ta đạt được ngày hôm đó - một thiên tài quân sự lỗi lạc - đã vang dội khắp thế giới, vinh quang đó hẳn sẽ không bao giờ phai nhạt chừng nào những cuốn sách sử còn tồn tại.

Anh ta đơn giản chỉ là một người tốt bụng, dễ mến, thậm chí dễ thương, không xảo trá, nhưng anh ta thậm chí không biết nổi cần phải trú ẩn khi trời đổ mưa! Nhưng giờ đây một sự thật hiển nhiên đã được khẳng định, đó là một trong những nhân vật quan trọng nhất của toàn thế giới. Và chỉ mới nửa giờ trước thôi, không một ai hay biết bí mật này của anh ta, trừ chính anh ta và tôi. Hết ngày này sang ngày khác, năm nay sang năm khác, anh ta đã gặp may một cách kỳ lạ. Anh ta, một quân nhân sáng chói nhất của cả một thế hệ thời kỳ chiến tranh, người đã lấp đầy cuộc đời quân ngũ của mình bằng những nhầm lẫn không thể nào hình dung nổi. Nhưng không một sai lầm nào mà lại không tô điểm anh ta thành một chàng hiệp sĩ, một vị quí tộc đáng kính hay một danh hiệu khác đại loại như vậy. Hãy nhìn tấm áo ngực kia. Biết bao nhiêu là huân chương, huy chương cao quí của Anh quốc và thế giới. Vâng thưa ông, mỗi tấm huân chương đó là hiện thân của một sai lầm ngu xuẩn. Tất cả những tấm huân chương đó khẳng định một điều rằng: điều tốt đẹp nhất trên thế gian này có thể xảy đến với một người được sinh ra dưới ánh sáng của một ngôi sao may mắn. Và tôi xin nhắc lại một lần nữa điều tôi đã nói trong bữa tiệc rằng, Scoresby là một tay đại ngốc.

NGÔ BÍCH THU dịch
(173/07-03)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar  trong một gia đình nông dân  thuộc  tập đoàn sản  xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan  trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.

  • MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.

  • PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.

  • SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)

  • ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.

  • DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.

  • HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.

  • GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.

  • VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.

  • NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.

  • S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.

  • JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.

  • KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.

  • ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.

  • KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.

  • LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.

  • YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.

  • KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.

  • KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.