Trang thơ Christopher Merrill

08:28 26/09/2016

Thi sĩ Christopher Merrill được giới phê bình văn chương Mỹ trân trọng, như W.S. Merwin đánh giá, là “một trong những nhà thơ tài năng, táo bạo, và thành công nhất của một thế hệ thi ca hiện đại.”

Christopher Merrill trình diễn thơ tại Texas Tech University, 2016

Những thi phẩm mang âm điệu văn minh nước của Christopher Merrill được nhà thơ Văn Cầm Hải chuyển dịch sang Việt ngữ giới thiệu với bạn đọc Sông Hương được lấy từ tập thơ Những Con Thuyền (Boats) và hợp tuyển Bảy Nhà Thơ Bốn Ngày Trong Một Thi Tuyển [Seven  Poets, Fours Days, One Book), nơi mà âm điệu  bụi trần hòa âm với trầm tư huyền bí trong ngôn ngữ văn xuôi kết duyên với thi ca, tâm tình chuyện kể quyện vào ký ức, nói lên những nỗi buồn mới trong đức tin, tình yêu, hình thái chính trị, và thân phận con người.
Christopher Merrill đồng thời là tác giả của các tác phẩm văn xuôi ghi lại những chuyến hành trình qua bao miền đất nóng bỏng chiến tranh nhưng nồng nàn tâm linh trên thế giới: Chỉ còn lại Những Cái Đinh: Hiện cảnh từ những Cuộc Chiến vùng Balkan (Only the Nails Remain: Scenes from the Balkan Wars, 2001); Vật phẩm của vị Chúa Bí ẩn: Hành trình đến Núi Thánh (Things of the Hidden God: Journey to the Holy Mountain, 2005); và Thập tự của những con chim Bồ Câu: Nghi lễ, Thám hiểm, Chiến tranh (The Three of the Doves: Ceremony, Expedition, War, 2011).
Tác phẩm thơ ca và văn xuôi của ông được dịch ra hai mươi lăm thứ tiếng. Christopher Merrill là giám đốc Chương trình Viết Văn Quốc tế Đại học Iowa, thành viên của Hội đồng Quốc gia về Nhân văn và Uỷ ban Quốc gia Tổ chức UNESCO Hoa Kỳ.
Văn Cầm Hải giới thiệu và dịch



CHRISTOPHER MERRILL

Miền nội tâm

Hương trầm thơm thắp lên vỏ sò
Bên tráp bút chì trên bàn
Không mang theo lời nguyện dâng Chúa, chỉ cầu thỉnh
Đến viên quản lý nhà băng và người đàn bà da ngăm đen
Người cho rằng lời của biển mênh mông muôn nơi
Indonesia hay Anh quốc là một
Những bán đảo và quần đảo:
Tuyền một lời chảy sâu vào hang động và đường nứt
Tràn đầy két tiền và quyến rũ
Chẳng có gì khác nhau giữa sự sống và cái chết
Mùi khói hương ngọt ngào lơ lững trên lời nguyện cầu của người
đàn ông
Hắn cầu xin lấy lại những gì kinh doanh mất mát
Cứu rỗi cho chuyến đi vào miền nội tâm
Hồi sinh đêm mà người đàn bà ném đi
Chiếc nhẫn cưới vào trong con sóng, tin rằng
Lời hắn say trôi theo nàng
Đến tận cùng trái đất nếu không nói là kiếp sau
Ôi mùi hương thơm thinh không rồi ai sở hữu?
Giữa người kiểm toán và bị kiểm toán
Đây là nơi hắn đợi nàng và Chúa.



Những con thuyền

Mảnh sân nhỏ đổ ra xa Chúa Trời. Và biển cả
Là màu đen với con thuyền trôi qua những ban mai. Một thần tượng
Nhổ neo từ cố thành Byzantium, chịu đựng
Tin lành từ người đàn bà nhảy vào xiềng xích
Người thề thốt sẽ giải phóng kẻ vẽ tranh tường tội lỗi
Tại bữa tiệc mừng chào đón can phạm của họ
Vẽ lên ngôi nhà thờ nước vôi bôi xóa phần còn lại
Chiến dịch khủng bố. Và dù kẻ chép thuê chẳng có thời gian
Phản chiếu phận hắn trong thức tỉnh
Trước khi người lính lê dương cầm tù hắn
Từ buồng giam trên mảnh sân nhỏ hắn nhìn
Những con thuyền dạt trôi hải cảng, làm kẹt làn biển
Và nghĩ đến những điều nhỏ bé có thể được làm
Và hắn yêu thương người đàn bà trong lời tạm biệt
Những người thợ làm quan tài làm việc cả đêm. Một linh mục
Đến nghe lời thú tội của kẻ vẽ tranh tường
Người đàn bà leo lên những chiếc cùm trong ngôi tháp
Gào lên với tay đao phủ
Bất lực. Thùng nước vỡ tan. Nước sống.
Trôi đi xa. Những con thuyền nhổ neo khỏi tầm mắt.



Ngày thứ 2

Trời xanh thay dòng sông khi chiếc lồng đầy tràn
Những con chim trốn đầu mình vào đôi cánh
Giã từ chiếc sà-lan đang trôi về chiếc cầu
Chúng ta gọi hoài nàng dâu cho đến khi nàng thì thào: Tôi làm
Chúng ta thì không. Và cái còn lại là lịch sử
Hoặc chúng ta đã nói với người chủ cảng hưu trí
Người hồi sinh danh sách đời sống đính kèm
Loài chim cắt bay đến từ vĩ độ phía Nam
Vốn sẵn có bởi mọi nguồn tin không bao giờ trôi về phía Bắc
Cho đến khi những rặng băng nằm trong quê nhà của chúng bị
tan chảy
Vụn than cuốn lên từ sà-lan, trùm kín cây cầu
Và bầu trời. Dự báo cho chiếc cầu và dòng sông:
Những đám mây trôi vào bởi lũ bụi. Người chủ cảng
Phác thảo đường bay cho điều mới nhất tìm thấy
Chúng ta chuyển theo. Và chúng ta đã làm.



Christopher

Đứa trẻ càng lớn lên càng nặng và nặng hơn
Cho đến khi chúng ta ra giữa dòng sông
Và rồi hắn nói “Ngươi có biết ta là ai không?”
Biết. Hắn nhẹ như sợi lông cừu non.




(TCSH331/09-2016)




 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Yevgeny Yevtushenko - Odysseas Elytis

  • Maiakôpxki là nhà thơ lớn của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới và là nhà thơ lớn của nhân loại thế kỷ XX.Thơ của ông biểu hiện nhiệt tình công dân mãnh liệt, là tiếng hát của tương lai, của chủ nghĩa Cộng sản, và tiếng thét căm giận đả phá những mặt tiêu cực trong cuộc sống Xô Viết lúc bấy giờ. Nhà thơ của quãng trường, nhà thơ hùng biện, đó là những từ để mệnh danh người nghệ sĩ kiểu mới này. Ông rất ít viết về thơ tình. Trong dịp kỷ niệm 30 năm sinh của nhà thơ. Tạp chí Văn học Xô Viết ngoài việc giới thiệu những bài thơ chủ đề công dân và xã hội nổi tiếng, còn giới thiệu 2 bài thơ tình của ông. Tâm hồn nồng nhiệt, đẩy đến tận cùng mọi sự, ngay cả lý tưởng hay tình yêu đó là bản chất của thơ Maia.

  • Hải Kỳ - Đỗ Hoàng - Nguyễn Khắc Thạch

  • Pimen Pan-tren-cô _ Xéc-gây Da-côn-ni-cốp _ Anatôn Grêtanikốp

  • Mắc-xim Tăng-kơ (tên thật là Ép-ghê-ni Skuốc-kô) là nhà thơ của đồng ruộng, đất đai, đường sá, khắp các vùng của lãnh thổ Liên bang Xô-viết và rất nhiều nước khác.

  • XERGÂY ÊXÊNHIN(Trích từ “Những khúc bi ca” và tuyển tập thơ Xergây Êxênhin)

  • Ngày 22 tháng 10 năm 1987 Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố tên người được tặng giải thưởng Nôben văn học - nhà thơ Nga sống ở Mỹ Iosif Brodsky. I.Brodsky là nhà văn Nga thứ năm được nhận giải thưởng cao quý này. Sau I.Bunhin (1933), B.Pastemnac (1958), M. Solokhov (1965), A.Xongienhixun (1970).

  • Ludmila TatianitchevaTuổi tôi

  • OCTAVIO PAZ        Tặng các nhà thơ André Breton và Benjamin Perêt

  • LTS: Nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười (7 - 11) Sông Hương trân trọng giới thiệu chùm thơ của I.Bunhin, tác giả được giải Nobel 1933.

  • LTS: TOMMY OLOFSSON (1950) là một trong những nhà thơ "sung mãn" nhất Thụy-Điển hiện nay, tác giả bảy tập thơ (tính đến 1991). Ông còn là một chuyên gia về James Joyce, có bằng tiến sĩ văn chương của đại học Lund, tác giả hoặc người biên tập nhiều công trình biên khảo, và nhà phê bình văn nghệ nổi tiếng của nhật báo Thụy Điển Svenska Dagbladet. Bản dịch Thơ nguyên sơ dưới đây dựa theo bản Anh văn của Jean Pearson: Elemental Poems (White Pine Press, N.Y. 1991)

  • WISLAWA SZYMBORSKA (Nữ nhà thơ Ba Lan. Giải Nobel văn học 1996)

  • FRED MARCHANT (Mỹ)                 Tặng Diệu LinhTựa đề của bài thơ là viết sau ba mươi năm Mậu Thân. Ba mươi cái cúi đầu bắt buộc về những mất mát, những nỗi đau do chiến tranh gây ra.

  • Thi sĩ viết về những điều vi tế của cuộc sống, từ chối nói về mình và cả những người nổi tiếng. Cả cuộc đời, thi sĩ chỉ nhắc đến Thomas Mann một lần trong thơ như sự thiếu vắng con người - sự lưu lạc trên chính quê hương, tâm hồn mình. Và Brodsky, một tâm hồn bị lệch kênh, bị trục xuất… trong diễn văn Nobel. Và cả dòng sông tư nghị: Heraclite.Szymborska, nữ sĩ Ba Lan, là một bậc thầy về thơ nghị luận, viết thơ cũng như cả tiểu luận là để trả lời cảm xúc và câu hỏi: tôi không biết. Sinh 1923 tại Kornik, hiện sống tại Krakow. Viết khoảng 210 bài thơ và một ít tiểu luận từ 1952 đến nay. Nobel văn chương 1996 và nhiều giải thưởng danh dự khác.

  • PAVIL BUKHARAEP - IVAN SIÔLÔCỐP - IURI SMELIÔP

  • LTS: Là nhà thơ, tác giả của ba cuốn sách về thi ca. Cùng với Nguyễn Bá Chung ông đã cùng dịch tập thơ “Từ góc sân nhà em” của Trần Đăng Khoa. Ông là giáo sư Anh ngữ, Giám đốc chương trình sáng tạo viết văn của Đại học Suffolk. Ông còn là người thẩm định tác phẩm bậc thầy của Trung tâm William Joiner nghiên cứu về chiến tranh và hệ quả xã hội tại Umass Boston.Ông cũng là người giới thiệu hai cuốn sách Núi Bà Đen của Larry Heinemann và Cốm non (Green Rece) của Lâm Thị Mỹ Dạ đã được dịch ở Mỹ.

  • Baolin Cheng (Trương Bảo Lâm) là một nhà thơ thành công của “thế hệ thứ ba” các nhà thơ hiện đại Trung Quốc (thế hệ thứ nhất thuộc thời “ngũ tứ” 1919, thế hệ thứ hai được gọi là thế hệ “thơ mông lung” sau cải cách mở cửa). Hiện định cư tại San Françisco (Hoa Kỳ) với tư cách một nhà thơ song ngữ Hoa - Mỹ. Theo Paul Hoover, chủ biên cuốn “Thơ Hậu hiện đại Mỹ”, thơ Baolin Cheng sử dụng những cách thức của thơ siêu hình học- những chuyện kể nén chặt và những cấu trúc ý niệm - phục vụ cho các mục tiêu hiện thực chủ nghĩa. Những bài thơ sau đây của Baolin Cheng đã xuất bản ở Mỹ và Trung Quốc dưới hình thức song ngữ.

  • RUDYARD KIPLINGRUDYARD KIPLING (1865  Bombay - 1936 Londres) sống trong môi trường Anh-Ấn văn hóa rất cao, là một nhà văn nổi tiếng với những cuốn tiểu thuyết Le Livre de la Jungle (Cuốn sách của rừng xanh), Kim và là một nhà thơ . Thơ ông tập trung vào  chủ đề giáo dục nhân cách và đạo đức. Bài thơ NẾU (IF) dưới đây là một bài thơ nổi tiếng của ông.

  • ALLEN GINSBERG(Tôn vinh Kenneth Koch) (1)LGT: Allen Ginsberg (1926 - 1997): là một nhà thơ hậu hiện đại Mỹ nổi tiếng trong trào lưu Beat cùng với Jack Kerowack và Williams S. Burroughs. Tốt nghiệp đại học năm 1948, làm đủ thứ nghề: thủy thủ, thợ nhà in, rửa bát, điểm sách, nhân viên tiếp thị.