LÊ VĂN KINH
Không có gì phải đợi năm hết tết đến mới nói chuyện uống trà, mà riêng tôi từ hàng chục năm qua thì trà là thức uống mỗi sáng.
Ảnh: internet
Đã từ lâu mỗi sáng sớm, sau khi thỉnh chuông dâng hương niệm Phật, xuống phòng ngồi trường kỷ long mộng pha trà thanh thản nâng tách thưởng thức từng ngụm nhỏ với bộ chén đĩa mới do anh Phạm Tiến Khang ở Bát Tràng, Gia Lâm Hà Nội phục chế, đem vào biếu. Trên mỗi tách đĩa đều có in hai câu thơ nôm lục bát do cụ Tiên Điền đề theo yêu cầu của chủ xưởng chế tác Ngoan Ngọc thuộc vùng Nghi Hưng (Trung Quốc): Nghêu ngao vui thú yên hà/ Mai là bạn cũ hạc là người thân. Còn những ấm tách cũ: Mạch Thần, Tuyên Đức... tôi trân trọng xếp vào ngăn tủ chè kê cạnh bộ trường kỷ hằng ngày uống trà lặng ngắm vọng nhớ thời niên thiếu.
Cá nhân tôi đã uống trà từ khoảng 70 năm về trước. Hồi còn nhỏ, hàng ngày tôi thường uống trà thừa nước xái của cha ông, chứ không biết các thức uống khác như cà phê... Do đó, trà đã thẩm thấu vào tâm can phế tạng và biến thành “trà nô”, một từ tuy không đẹp về ngữ, nhưng đúng về nghĩa.
Nhớ hồi nhỏ được ông ngoại đem vào nuôi dưỡng, cho học tập chữ Hán tại tư dinh thuộc khuôn viên Lục bộ Thành nội Huế, khoảng chừng 10 năm (1933 - 1945). Nhờ thế, nhìn thấy cung cách uống trà của ông ngoại cùng các vị đồng liêu và liều thuộc hoàn toàn khác cách uống và pha chế phức tạp tại các lễ hội đương thời cũng như nhiều quán trà ở các thị tứ. Bản thân tôi và các thuộc liêu thường ngồi ghế đẩu hầu trà cạnh sập gụ, chứ không được ngồi chung. Giả như các vị đồng liêu hay khách ở xa đến thăm trò chuyện thì các vị ngồi tại trường kỷ ở phòng giữa của năm gian hai chái, còn gặp lúc khách đông phiên cấp thành hai bàn. Nơi sập gụ chạm khảm trai dành cho thượng khách, còn lại chuyển qua bộ trường kỷ cũng thuộc quan thù tiếp. Lệ này cũng áp dụng chiêu đãi bồi tiếp thực khách tại khách quán hay tư dinh.
Có câu thường nói trà tam tửu tứ, trên thực tế không hẳn đúng vậy, tỷ như cử trà sáng như chỉ một mình ông ngoại độc ẩm và tôi được ngồi cạnh, còn viên quan thư lại hầu cận thường uống trà sau khi ông ngoại hết tuần trà thứ ba để thay phẩm phục đội mão cầm lướt vào chầu hầu hành lễ triều kiến hoặc qua đại sảnh tham dự cơ mật thuộc bộ. Như thường lệ ông ngoại tự mình lau tách đĩa và ấm, có lẽ vì trà cụ đều quý hiếm, người lính lệ nấu nước sôi bằng ấm đồng dát sau bếp đem lên chuyển vào ấm đồng cù lao để ông ngoại tự tay rót vào Lưu Bội (bị bể hồi năm 1958).
Phục sức lúc độc ẩm cũng đáng kể, sáng sớm hay chiều tà đều khăn đóng áo dài đen trịnh trọng, trừ những lúc trà đàm thân hữu chí thiết mặc áo dài trắng đầu trần, những chiều ngồi ngoài sân trước lót gạch Bát Tràng hay vườn hoa sau nhà, đấy là trường hợp riêng tư không lính hầu cận. Ngoài ra thường khi tiếp khách đều mặc áo xuyến đen hay gấm sa dệt chữ thọ xanh, có lính hầu tiếp nước và hai lính lệ đầu đội nón dấu, chân quấn xà cạp xanh tay cầm quạt lông ngỗng lớn cán dài đứng cách xa 2m với mặt cúi gầm xuống đất, tránh không được nhìn quan khách và nghe trộm cuộc mạn đàm.
Cùng khách an tọa theo thứ vị, ông ngoại đích thân tráng tách thay trà đãi khách bên cạnh một khay cau trầu và hộp thuốc, lá sâu kèn, còn có ống nhổ bằng đồng bạch, một thau đồng và khăn điều. Tuần đầu, ông ngoại tự tay chuyển trà ra tách và bằng hai tay đưa lên ngang mày mời khách cùng nâng uống từng ngụm. Qua tuần trà thứ hai, ông ngoại - chủ nhân - nhường việc pha trà cho đồng ẩm ngồi phía tay phải thường là người thân thiết, câu chuyện nở rộ sau tuần trà thứ hai và giả như giữa khách và chủ không đồng tình nội dung đối thoại thì tách trà trên tay liền đổ vào ống nhổ, để khẳng định sự bất bình rồi tiếp tục thảo luận, nếu cuộc nói chuyện kéo dài, thì sau ba lần chuyển, lính hầu được lệnh thay trà.
Nâng tách trà bằng tay phải, ngón trỏ và ngón cái bên cạnh miệng tách, ngón giữa đỡ dưới trôn, hai ngón khác co lại. Lúc uống trà, cổ tay xoay vào để mu bàn tay và tách trà che miệng, khác hẳn cách uống trà của Tàu và Nhật, Ấn Độ... Đôi lúc được ông ngoại dẫn đi thăm bằng hữu, tôi cũng thấy cung cách pha và uống trà đều như vậy, không có các động tác khác lạ.
Hãy pha một tách trà trong 4 trạng thái: Hòa, Trọng, Thanh, Tĩnh rồi nhớ lại bài thơ 5 câu, 5 chữ:
Khả dĩ thanh tâm giả
Dĩ thanh tâm giả khả
Thanh tâm giả khả dĩ
Tâm giả khả dĩ thanh
Giả khả dĩ thanh tâm.
Tạm dịch:
Người có thể thanh tâm
Để thanh tâm có thể
Thanh tâm được lắm chứ
Tâm có thể trong sạch
Ta có thể thanh tâm.
Thiền sư Kakuzo Okakura từng nói: “Trà không có tính chắt tự tôn như một vài chắt uống khác”, và Truyện Kiều cũng có câu: “Lúc sương sớm, khi trà trưa/ Bàn vây điểm nước, đường tơ họa đàn”...
Rõ ràng, trà là sự giao hòa với thiên nhiên, sự ứng xử hợp lý với thời gian, sự tiếp cận đầy nhân tính với không gian, môi trường và con người. Người xưa truyền tụng: “Bán dạ tam bôi tửu/ Bình minh sổ trản trà/ Mỗi nhật cứ như thử/ Lương ý bất đáo gia”.
Tạm dịch: “Canh khuya ba chén rượu/ Sáng sớm một tách trà/ Mỗi ngày mỗi được vậy/ Thầy thuốc khỏi đến nhà”.
Những năm 60 của thế kỷ trước, lúc tôi đã lập gia đình riêng và ở tại 60B Phan Bội Châu (nay là 82 Phan Đăng Lưu) thường có bốn vị là bạn tri kỷ của thân phụ tôi là cụ Tuần phạm Lương Hàn, cụ Ngự y Phạm Đạt, cụ Phạm Tiến Luân đông y và cụ cử Bạch Mai ở Truồi đều là những bậc túc nho thường đến thăm, xem tôi như con cháu, do đấy cùng ngồi ở bộ trường kỷ tiếp hầu trà và viết chữ nho câu đối, giúp tôi rất nhiều về điều chỉnh chữ nôm, và cùng một cung cách đối ẩm như hồi còn ông ngoại. Những khoảng thời gian quý báu ấy, vợ con tôi không được lai vãng còn việc buôn bán giao cho người nhà. Tôi và các cụ đồng ẩm, các cụ nhắc lại việc thi cử học tập thời xưa... thường có một nam nhân giúp việc phụ trợ trà rượu.
*
Về công dụng của trà, theo Đông y, trà có vị đắng chát, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, giải khát lợi tiểu, định thần làm cho tâm trí thư thái, sáng suốt, da thịt mát dịu, bớt mụn nhọt, trợ tiêu hóa, cầm tả ly, chống xây xẩm chóng mặt. Trà thường dùng cho các trường hợp tinh thần mệt mỏi, ngủ nhiều nhức đầu, mắt mờ, sốt khát nước, tiểu tiện không thông lợi, ngộ độc rượu. Mặt khác, có thể nấu nước trà để rửa vết bỏng hay nơi bị lở loét, giúp lên da non chóng lành vết thương. Nấu nước trà rửa mặt có tác dụng làm co các lỗ chân lông đem lại cảm giác thoải mải và ngăn chặn da bị lão hóa. Uống trà lúc đang nóng ấm, giúp bài tiết mồ hôi, giải nhiệt và thải các chất độc trong người...
Cách uống trà đúng nhất là nhằm bảo toàn chất chống ôxy hóa trong trà, không nên uống trà với đường, chanh. Sau lúc chế nước vào trà nên chờ chừng 3 phút sau cho chất ôxy hóa tan hết ra nước. Phải uống nóng, không nên uống trà đã để qua đêm, vì các thành phần tốt của trà đều bị biến chất. Tất nhiên cũng có nhiều trường hợp hạn chế uống trà như: đối với người mất ngủ, phụ nữ trong thời kỳ mang thai. Không nên uống trà thường xuyên sau bữa ăn, vì uống trà ngay sau bữa ăn sẽ làm giảm khả năng hấp thụ chất sắt của cơ thể, kể cả những bệnh thiếu máu, loãng xương, viêm loét dạ dày, sỏi đường tiết niệu.
Những năm gần đây, các phòng bào chế đã pha thêm trà trong xà phòng gội đầu, hay kem đánh răng. Ở nước Nhật Bản đã trộn trà bột vào bánh bích quy và nhiều loại kẹo đang được bán nhiều trên thị trường hiện nay. Còn bao nhiêu thực phẩm khác cũng đã biến chế trà vào để nâng cao giá trị ưu việt cho sản phẩm!
Một điều cần nói thêm, khâu pha và chuyển trà là quan trọng, vì lúc chuyển trà từ ấm qua tách thì vòi ấm sát kề miệng tách hoặc cách hai đến ba phân mà thôi. Có hai lí giải như sau:
- Nếu cầm ấm trà đưa lên thật cao như các thiếu nữ biểu diễn ở các lễ hội trà hiện nay, thì nước trà sẽ nguội, và hương thơm thoảng nhẹ cũng bay mất.
- Một điều tối kỵ khác, lúc nâng ấm lên cao để rót vào tách, nước trà sủi bọt bong bóng trên miệng tách mất mỹ cảm, chắc chắn khách nhíu mày mất thú nhàn ẩm.
Nói rõ hơn, người ta dùng các mỹ nữ hầu rượu múa hát mua vui và tiếp rượu thực khách, còn uống trà nhất thiết không.
L.V.K
(TCSH329/07-2016)
Kỷ niệm 100 năm Trường Đồng Khánh
BÙI KIM CHI
50 năm ngày mất Giáo sư Đặng Văn Ngữ
ĐẶNG NHẬT MINH
Nhân 110 năm ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC (1907 - 2017)
TRẦN VIẾT NGẠC
NGUYỄN HOÀNG THẢO
Trước khi có chợ, bên ngoài cửa Ðông Ba (cửa Chánh Đông) dưới thời vua Gia Long có một cái chợ lớn mang tên “Qui Giả thị” - chợ của những người trở về.
NGUYỄN KỲ
Cuộc vận động tranh cử và “đấu tranh nghị trường” trong thời kỳ 1936 - 1939 do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo là một bộ phận đặc biệt trong cuộc đấu tranh vì quyền dân sinh dân chủ ở Việt Nam.
DÃ LAN NGUYỄN ĐỨC DỤ
Thú thật với độc giả, một trong những điều vui thú nhất của tôi - cho tới nay tôi vẫn say mê - là sưu tầm khảo cứu về Phổ trạng (tức là lai lịch, nguồn gốc...) của các nhân vật lịch sử như Ngô Quyền, Nguyễn Xý, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Phạm Ngũ Lão, Phạm Sư Mạnh...
LÂM QUANG MINH
Tôi không có vinh dự như nhiều anh chị em cán bộ, dũng sĩ từ miền Nam ra Bắc công tác, học tập hay chữa bệnh, được trực tiếp gặp Bác Hồ, được Bác ân cần động viên dạy bảo, được cùng ngồi ăn cơm với Bác, được Bác chia bánh chia kẹo... như người cha, người ông đối với các con cháu đi xa về.
THANH HẢI
Hồi ký
Tháng 10 năm 1962, tôi được vinh dự đi trong đoàn đại biểu mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc. Lần đó một vinh dự lớn nhất của chúng tôi là được gặp Hồ Chủ Tịch.
Giáo sư Bửu Ý, tên đầy đủ là Nguyễn Phước Bửu Ý, sinh năm 1937 tại Huế. Ông vừa là nhà giáo, nhà văn, vừa là dịch giả của các tiểu thuyết nổi tiếng như Nhật kí của Anna Frank, Đứa con đi hoang trở về, Bọn làm bạc giả của André Gide, Con lừa và tôi của Juan Ramón Jiménez; Thư gửi con tin của Antoine de Saint-Exupéry… đăng trên các tạp chí Mai, Văn, Diễn đàn, Phố Văn (trước 1975).
I. Nhớ hơn bốn mươi năm về trước, vào khoảng đầu mùa đông năm 1974 - mùa dỡ củ dong riềng - tôi đi chợ Chũ (Lục Ngạn), mua được tập truyện Khúc sông. Trên lối mòn đường rừng, bước thấp bước cao, tôi vừa đi vừa tranh thủ đọc. Ngày ấy, tôi chỉ biết tên tác giả là Nguyễn Thiều Nam, nào có biết đẳng cấp của ông trong làng văn ra sao!
Sinh thời, cha tôi – họa sỹ Trịnh Hữu Ngọc, hầu như không bao giờ nhắc đến những năm học vẽ ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (MTĐD).
HỒ QUỐC HÙNG
(Thân mến tặng các bạn lớp Văn K9 - Đại học Tổng hợp Huế)
Ai cũng có kho ký ức riêng cho chính mình như một thứ tài sản vô hình. Ký ức lại có những vùng tối, vùng sáng và lúc nào đó bất chợt hiện lên, kết nối quá khứ với hiện tại, làm cho cuộc sống thêm ý vị.
TRẦN VĂN KHÊ
Hồi ký
Có những bài thơ không bao giờ được in ra thành tập.
Có những bài thơ chỉ còn ghi lại trong trí nhớ của tác giả và của đôi người may mắn đã được đọc qua một đôi lần.
Ngắm nhìn vẻ đẹp tinh khiết của cô nữ sinh Đồng Khánh dưới vành nón Huế, trong chiếc áo dài trắng tinh khôi, không ai nghĩ chỉ ít năm sau ngày chụp bức ảnh chân dung ấy, chị chính là nạn nhân của một chế độ lao tù tàn bạo và nghiệt ngã.
Trong quy hoạch một đô thị văn minh, vỉa hè là khoảng công cộng dành cho người đi bộ. Còn theo kiến trúc, vỉa hè là đường diềm, trang trí cho phố phường tạo ra sự hài hòa giữa đường và nhà mặt phố. Người Pháp đã làm những điều đó ở Hà Nội từ cuối thế kỷ 19.
TRẦN PHƯƠNG TRÀ
Hồi những năm 1950, làng Trúc Lâm quê tôi thuộc vùng du kích ven thành phố Huế.
QUẾ HƯƠNG
Ngày 15/7/2017 tới đây, ngôi trường hồng diễm lệ nằm cạnh trường Quốc Học, từng mang tên vị vua yểu mệnh Đồng Khánh chạm ngưỡng trăm năm.
THÁI KIM LAN
Trong những hình ảnh về ngày Tết mà tôi còn giữ được thời thơ ấu, thì Tết đối với tôi là Tết Bà, mà tôi gọi là Tết Mệ Nội chứ không phải Tết Mạ. Bởi vì mỗi khi Tết đến, cả đại gia đình chúng tôi đều kéo nhau lên nhà Từ đường “ăn Tết", có nghĩa quây quần chung quanh vị phu nhân trưởng tộc của dòng họ là bà nội tôi.
TRẦN VIẾT NGẠC
Báo Xuân xưa nay luôn là số báo đẹp nhất, phong phú nhất trong một năm. Bài vở số Xuân được tòa soạn đặt bài trước cho các cây bút thân quen, nổi tiếng từ mấy tháng trước.
NGUYÊN HƯƠNG
Trong đời, người ta ai cũng nên phải lòng một vùng đất. Cảm giác đó thật đặc biệt, giống như khi ta một mình đi đêm về sáng, bỗng gặp đóa hoa cô đơn thức sớm nở ngoài thềm, thấy thương.