Thơ Harold Pinter

09:30 07/11/2008
LGT: Harold Pinter, sinh năm 1930 tại London , Anh quốc. Ông là một kịch tác gia, nhưng cũng là nhà thơ, đạo diễn, diễn viên, nhà hoạt động chính trị (ông đặc biệt chống lại sự lạm dụng quyền lực trong quan hệ quốc tế, như chống lại việc NATO đánh bom , Mỹ tấn công ).

Ông minh định quan điểm nghệ thuật và quan điểm sống của mình như sau: “Không có sự cách biệt cứng nhắc giữa cái thật và cái không thật, giữa cái thật và cái giả. Một sự vật không nhất thiết là thật hay giả, mà có thể cả thật lẫn giả. Tôi tin rằng lời khẳng định ấy vẫn có nghĩa và vẫn được áp dụng trong việc tìm tòi sự thật thông qua nghệ thuật. Vì vậy với tư cách nhà văn tôi ủng hộ sự khẳng định ấy nhưng với tư cách công dân thì không thể thế được. Với tư cách công dân tôi phải hỏi: “Cái gì là thật? Cái gì là giả?”
Về Thơ, ông bộc lộ: “Đôi khi trong các bài thơ tôi chỉ mơ hồ ý thức về nguyên cớ hoạt động của mình, và công việc tiến triển theo luật lệ của riêng nó, mà tôi chỉ là kẻ môi giới như nó vốn là thế. Nhưng... nếu không có ý thức thì càng tốt hơn nhiều.”
Thơ Harold Pinter thường ngắn, giàu suy tưởng. Người đọc cần phải đọc đi đọc lại bài thơ, để đến một lúc nào đó, một “tia chớp ý nghiã” sẽ hiện ra với chính bạn. Sau đây Sông Hương xin giới thiệu một số bài thơ của ông qua bản tiếng Việt của nhà thơ Hoàng Hưng, chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng Anh.

HAROLD PINTER
(Giải Nobel văn chương 2005)

Thượng đế

Thượng đế nhìn vào trái tim bí mật của mình
Để tìm ra một lời
Ban phúc lành cho đám người dưới thế

Nhưng ông hoài công nhìn tới nhìn lui
Và van nài các hồn ma sống lại
Nhưng chẳng nghe bài ca nào trong căn phòng ấy
Ông nhận ra với nỗi đau cháy bỏng nghiệt ngã
Mình chẳng có phúc lành nào để ban tặng cả

Thơ

Đèn đóm sáng trưng
Điều gì tiếp theo đây nhỉ?

Đêm xuống rồi
Mưa ngừng rơi
Điều gì tiếp theo đây nhỉ?

Đêm sẽ vào sâu
Hắn không biết được
Tôi sẽ nói gì với hắn đây

Khi hắn đi rồi
Tôi sẽ có một lời trong tai hắn
Và nói cái điều tôi sắp nói
Trong buổi gặp gỡ
                           sắp xảy ra
Mà bây giờ đã xảy ra rồi

Nhưng hắn chẳng nói gì
Về buổi gặp gỡ sắp xảy ra
Chỉ bây giờ hắn mới quay lại và mỉm cười
Và thì thầm:
“Tôi không biết
Điều gì tiếp theo đây?”

Tặng vợ

Anh đã chết và bây giờ anh sống
Em nắm tay anh

Anh đã chết thật rồi
Em nắm tay anh

Em dõi nhìn anh chết
Và tìm ra sự sống của anh

Em là sự sống của anh
Khi anh đã chết

Em là sự sống của anh
Vậy là anh sống

HOÀNG HƯNG chuyển ngữ

(nguồn: TCSH số 216 - 02 - 2007)

 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • PABLO NERUDATrên đỉnh Machu Picchu(*)

  • Yevgeny Yevtushenko - Odysseas Elytis

  • Maiakôpxki là nhà thơ lớn của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới và là nhà thơ lớn của nhân loại thế kỷ XX.Thơ của ông biểu hiện nhiệt tình công dân mãnh liệt, là tiếng hát của tương lai, của chủ nghĩa Cộng sản, và tiếng thét căm giận đả phá những mặt tiêu cực trong cuộc sống Xô Viết lúc bấy giờ. Nhà thơ của quãng trường, nhà thơ hùng biện, đó là những từ để mệnh danh người nghệ sĩ kiểu mới này. Ông rất ít viết về thơ tình. Trong dịp kỷ niệm 30 năm sinh của nhà thơ. Tạp chí Văn học Xô Viết ngoài việc giới thiệu những bài thơ chủ đề công dân và xã hội nổi tiếng, còn giới thiệu 2 bài thơ tình của ông. Tâm hồn nồng nhiệt, đẩy đến tận cùng mọi sự, ngay cả lý tưởng hay tình yêu đó là bản chất của thơ Maia.

  • Hải Kỳ - Đỗ Hoàng - Nguyễn Khắc Thạch

  • Pimen Pan-tren-cô _ Xéc-gây Da-côn-ni-cốp _ Anatôn Grêtanikốp

  • Mắc-xim Tăng-kơ (tên thật là Ép-ghê-ni Skuốc-kô) là nhà thơ của đồng ruộng, đất đai, đường sá, khắp các vùng của lãnh thổ Liên bang Xô-viết và rất nhiều nước khác.

  • XERGÂY ÊXÊNHIN(Trích từ “Những khúc bi ca” và tuyển tập thơ Xergây Êxênhin)

  • Ngày 22 tháng 10 năm 1987 Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố tên người được tặng giải thưởng Nôben văn học - nhà thơ Nga sống ở Mỹ Iosif Brodsky. I.Brodsky là nhà văn Nga thứ năm được nhận giải thưởng cao quý này. Sau I.Bunhin (1933), B.Pastemnac (1958), M. Solokhov (1965), A.Xongienhixun (1970).

  • Ludmila TatianitchevaTuổi tôi

  • OCTAVIO PAZ        Tặng các nhà thơ André Breton và Benjamin Perêt

  • LTS: Nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười (7 - 11) Sông Hương trân trọng giới thiệu chùm thơ của I.Bunhin, tác giả được giải Nobel 1933.

  • LTS: TOMMY OLOFSSON (1950) là một trong những nhà thơ "sung mãn" nhất Thụy-Điển hiện nay, tác giả bảy tập thơ (tính đến 1991). Ông còn là một chuyên gia về James Joyce, có bằng tiến sĩ văn chương của đại học Lund, tác giả hoặc người biên tập nhiều công trình biên khảo, và nhà phê bình văn nghệ nổi tiếng của nhật báo Thụy Điển Svenska Dagbladet. Bản dịch Thơ nguyên sơ dưới đây dựa theo bản Anh văn của Jean Pearson: Elemental Poems (White Pine Press, N.Y. 1991)

  • WISLAWA SZYMBORSKA (Nữ nhà thơ Ba Lan. Giải Nobel văn học 1996)

  • FRED MARCHANT (Mỹ)                 Tặng Diệu LinhTựa đề của bài thơ là viết sau ba mươi năm Mậu Thân. Ba mươi cái cúi đầu bắt buộc về những mất mát, những nỗi đau do chiến tranh gây ra.

  • Thi sĩ viết về những điều vi tế của cuộc sống, từ chối nói về mình và cả những người nổi tiếng. Cả cuộc đời, thi sĩ chỉ nhắc đến Thomas Mann một lần trong thơ như sự thiếu vắng con người - sự lưu lạc trên chính quê hương, tâm hồn mình. Và Brodsky, một tâm hồn bị lệch kênh, bị trục xuất… trong diễn văn Nobel. Và cả dòng sông tư nghị: Heraclite.Szymborska, nữ sĩ Ba Lan, là một bậc thầy về thơ nghị luận, viết thơ cũng như cả tiểu luận là để trả lời cảm xúc và câu hỏi: tôi không biết. Sinh 1923 tại Kornik, hiện sống tại Krakow. Viết khoảng 210 bài thơ và một ít tiểu luận từ 1952 đến nay. Nobel văn chương 1996 và nhiều giải thưởng danh dự khác.

  • PAVIL BUKHARAEP - IVAN SIÔLÔCỐP - IURI SMELIÔP

  • LTS: Là nhà thơ, tác giả của ba cuốn sách về thi ca. Cùng với Nguyễn Bá Chung ông đã cùng dịch tập thơ “Từ góc sân nhà em” của Trần Đăng Khoa. Ông là giáo sư Anh ngữ, Giám đốc chương trình sáng tạo viết văn của Đại học Suffolk. Ông còn là người thẩm định tác phẩm bậc thầy của Trung tâm William Joiner nghiên cứu về chiến tranh và hệ quả xã hội tại Umass Boston.Ông cũng là người giới thiệu hai cuốn sách Núi Bà Đen của Larry Heinemann và Cốm non (Green Rece) của Lâm Thị Mỹ Dạ đã được dịch ở Mỹ.

  • Baolin Cheng (Trương Bảo Lâm) là một nhà thơ thành công của “thế hệ thứ ba” các nhà thơ hiện đại Trung Quốc (thế hệ thứ nhất thuộc thời “ngũ tứ” 1919, thế hệ thứ hai được gọi là thế hệ “thơ mông lung” sau cải cách mở cửa). Hiện định cư tại San Françisco (Hoa Kỳ) với tư cách một nhà thơ song ngữ Hoa - Mỹ. Theo Paul Hoover, chủ biên cuốn “Thơ Hậu hiện đại Mỹ”, thơ Baolin Cheng sử dụng những cách thức của thơ siêu hình học- những chuyện kể nén chặt và những cấu trúc ý niệm - phục vụ cho các mục tiêu hiện thực chủ nghĩa. Những bài thơ sau đây của Baolin Cheng đã xuất bản ở Mỹ và Trung Quốc dưới hình thức song ngữ.

  • RUDYARD KIPLINGRUDYARD KIPLING (1865  Bombay - 1936 Londres) sống trong môi trường Anh-Ấn văn hóa rất cao, là một nhà văn nổi tiếng với những cuốn tiểu thuyết Le Livre de la Jungle (Cuốn sách của rừng xanh), Kim và là một nhà thơ . Thơ ông tập trung vào  chủ đề giáo dục nhân cách và đạo đức. Bài thơ NẾU (IF) dưới đây là một bài thơ nổi tiếng của ông.