Tã lót

09:53 25/06/2009
MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.

Nhà văn Mishima Yukio

Chồng Toshiko luôn bận rộn. Ngay tối nay anh ta phải lao vào một cuộc hẹn, để chị một mình đi taxi về nhà. Nhưng người phụ nữ có thể trông đợi gì nữa khi lấy một người diễn viên - một nhân vật hấp dẫn - làm chồng? Rất có thể chị sẽ là ngốc nghếch khi hy vọng rằng sẽ có anh ta ở bên cạnh vào những chiều tối. Nhưng anh ta phải biết chị sợ hãi khi phải trở về nhà, căn nhà xa lạ với những tiện nghi kiểu Tây, với những yên tĩnh nhuốm máu phô trên sàn nhà.

Tính Toshiko mẫn cảm, từ thời con gái. Như là kết quả của những lo âu triền miên, chị chẳng bao giờ tăng cân và giờ đây, khi đã là người phụ nữ trưởng thành rồi mà chị trông như một bức vẽ trong suốt hơn là một sinh vật với máu, với thịt. Sự tinh tế trong tâm hồn của chị là dễ thấy đối với cả một người quen biết hờ hững nhất.

Chiều tối ấy, khi cùng chồng trong hộp đêm, chị ngỡ ngàng khi biết anh ta đùa cợt với bạn bè bằng hàng loạt những "chuyện phiếm". Anh ta ngồi trên cái ghế kiểu Mỹ, phì phào thuốc lá, dường là một người xa lạ với chị.

"Chuyện thú vị", anh ta nói, kiểu cách khoa trương như thể cố làm tăng thêm sự hấp dẫn của vũ đoàn, "đây là bảo mẫu mới cho đưa bé của chúng mình, cô ta đến từ trung tâm dịch vụ việc làm. Điều đầu tiên làm mình chú ý đến cô ta là cái dạ dày của cô ta. Nó khổng lồ, tưởng như có một cái gối mắc kẹt dưới kimono. Không sai, bởi mình thấy ngay là cô ta ăn nhiều còn hơn hai đứa chúng mình cộng lại. Cô ta vét sạch hũ gạo của chúng mình như thế này...". Anh ta bẻ ngón tay kêu rắc rắc. "Dạ dày thì giãn nở", đó là cách cô ta giải thích cái số đo eo và sự ngon miệng của mình. Và rồi, hôm kia chúng mình nghe có tiếng rên rỉ trong phòng bảo mẫu. Chúng mình chạy tới, thấy cô ta đang ngồi chồm hổm trên sàn nhà, hai tay giữ cái dạ dày và rên rỉ như một con bò. Em bé chúng mình nằm trên võng cạnh cô ta, sợ điếng rồi khóc ré lên. Có thể nói cảnh thiệt thảm!".

"Vậy là cái kim trong bọc đã lòi ra?", một người bạn cũng là diễn viên điện ảnh như chồng Toshiko nói.

"Đúng vậy! Nó làm mình bị sốc. Thử hỏi, mình hoàn toàn tin vào chuyện "dạ dày thì giãn nở". Sau đó, mình đã không mất thêm thời giờ. Mình giải cứu cho tấm thảm trên sàn nhà và lấy một cái mền trải ra cho cô ta nằm. Cô ta la hét như một con heo bị mắc kẹt. Lúc bác sĩ từ phòng khám sản khoa tới, đứa bé đã được sinh ra. Phòng khách chúng mình trở nên hỗn độn!".

"Ôi, mình chắc vậy mà!", một người bạn khác nói và cả nhóm cười phá lên.

Chị Toshiko chết điếng khi nghe chồng mình bàn tán về chuyện hãi hùng ấy mà chẳng khác nào đang tán gẫu về một chuyện buồn cười mà họ tình cờ chứng kiến. Chị thoáng mở to mắt và bỗng thấy đứa bé sơ sinh nằm trước mặt, trên sàn gỗ, thân thể yếu ớt được gói bằng những tờ báo dính đầy máu.

Toshiko chắc rằng bác sĩ đã làm mọi thứ vì ác ý. Như để nhấn mạnh sự khinh miệt đối với người mẹ sinh con hoang trong tình trạng nhớp nhúa ấy, anh ta đã bảo người giúp việc gói đứa bé bằng vài tờ báo sơ sài, thay vì phải quấn bằng tã lót. Sự đối xử nhẫn tâm đó đối với đứa bé sơ sinh đã xúc phạm chị Toshiko. Chị đi lấy một mảnh vải flannel trong tủ quần áo cho đứa bé và cẩn thận đặt bé lên ghế bành.

Chuyện chị quấn tã cho đứa bé diễn ra chiều tối ấy khi chồng chị đã rời nhà. Chị không nói gì với chồng về chuyện ấy vì sợ anh ta sẽ nghĩ chị mềm yếu, đa cảm; nhưng tình cảnh đó đã ghi sâu vào tâm trí chị. Đêm nay, chị lặng lẽ nghĩ về chuyện ấy trong tiếng kêu be be của dàn nhạc jazz, trong lúc chồng chị đang vui vẻ tán gẫu với bạn bè. Chị biết là chị sẽ không bao giờ quên được cảnh đứa bé bị gói trong vài tờ báo sơ sài để nằm trên sàn gỗ như cảnh tượng ở một lò mổ. Chị cả đời sống trông êm ấm vỗ về, đau xót cảm nhận sự khốn khó của đứa bé đẻ hoang.

Mình là người duy nhất chứng kiến nỗi thẹn của nó, ý nghĩ ấy chợt đến với chị. Người mẹ chẳng bao giờ thấy đứa con gói trong giấy báo nằm đó và đứa trẻ tất nhiên cũng chẳng biết. Mình sẽ phải một mình giữ gìn cảnh tượng ấy trong kí ức. Khi đứa bé lớn lên và muốn tìm biết sự sinh nở ra mình, sẽ chẳng có ai nói cho nó biết nếu mình giữ im lặng. Kì lạ sao, mình nên cảm thấy có tội! Sau cùng mình là người bế nó lên, kỹ lưỡng quấn cho nó tấm vải flannel và đặt nó xuống ngủ trên ghế bành.

Họ rời hộp đêm. Chị bước ra chiếc taxi chồng đã gọi cho. "Chở cô ấy về Ushigomé", anh ta nói với tài xế và từ phía ngoài đóng cửa lại. Chị liếc qua cửa xe nhìn khuôn mặt cười của chồng và ghi dấu hàm răng trắng khoẻ của anh ta. Rồi chị ngả người ra ghế, chìm đắm nhận biết rằng cuộc đời chị và chồng dù sao cũng quá dễ dàng, không chút trắc trở. Thật khó cho chị để làm cho những ý nghĩ phát thành lời. Qua cửa sau, chị nhìn chồng lần cuối. Anh ta đang sải bước dọc theo con đường, hướng về phía chiếc Nash. Lưng chiếc áo khoác vải tuýt khá sặc sỡ của anh ta dần nhoà trong những hình ảnh những người qua đường.

Chiếc taxi vù chạy, qua một con đường lấm chấm những quán bar rồi qua một nhà hát. Trước nhà hát, đám đông người đang chen lấn nhau trên vỉa hè. Mặc dù buổi biểu diễn chỉ vừa mới kết thúc mà đèn đã được bật lên và trong nửa tối bên ngoài, rõ mồn một cách đáng buồn là hoa anh đào dùng trang điểm tiền sảnh nhà hát chỉ là những mẩu giấy trắng.

Cả khi đứa bé lớn lên vì lãng quên đi chuyện sinh nở, nó cũng chẳng bao giờ có thể trở thành một công dân đáng trọng, chị ngẫm nghĩ và đuổi theo dòng chảy những suy tư. Tã lót là những tờ báo dơ bẩn sẽ là biểu tượng cho cả cuộc đời nó. Nhưng tại sao mình phải lo lắng cho nó nhiều như thế? Có phải vì cảm thấy bất an cho tương lai của chính em bé của mình? Giả sử hai mươi năm sau, khi bé trai của mình đã lớn, thành một chàng trai đẹp đẽ, được giáo dục cẩn thận và một ngày nọ, bởi sự tình cờ của số mệnh, nó gặp bé trai kia, khi ấy tuổi cũng đã hai mươi, phạm tội và dã man đâm nó bằng một nhát dao...

Đêm tháng tư trời mù, ấm nhưng những suy nghĩ về ngày mai làm cho chị thấy lạnh lẽo, khốn đốn. Trên ghế sau, chị run lên.

Không, khi thời khắc ấy đến, mình sẽ thế chỗ cho con trai mình, chị bỗng độc thoại. Hai mươi năm nữa, mình sẽ bốn ba. Mình sẽ đến gặp chàng trai trẻ ấy và nói thẳng ra hết về mọi thứ, về tã lót là những tờ báo, về chuyện mình đã đến và quấn tã flannel cho nó như thế nào.

Chiếc taxi chạy dọc theo một con đường tôië, rộng thênh tiếp giáp với công viên và hào Hoàng Thành. Từ xa chị thấy những tia sáng đèn chiếu xuống từ những cao ốc văn phòng.

Hai mươi năm nữa, đứa bé khốn khổ ấy sẽ chìm ngập trong những bất hạnh cùng cực. Nó sẽ sống trong chán chường, tuyệt vọng và nghèo đói. Một con chuột cô độc. Điều gì nữa có thể sẽ đến với một em bé được sinh ra trong hoàn cảnh đó? Nó sẽ lang thang qua những con đường, chửi bới cha nó, nguyền rủa mẹ nó.

Rất có thể chị nhận được sự toại nguyện từ những ý nghĩ đau buồn: Với chúng, chị không thôi hành hạ chính mình. Chiếc taxi đến Hanramon và chạy qua khu sứ quán Anh. Ở nơi đó những hàng cây anh đào vang danh choàng ra trước mặt chị bằng tất cả sự thanh mảnh của chúng. Với những thôi thúc từ bên trong, chị quyết định đi ngắm hoa một mình trong công viên tối. Đó là một quyết định lạ đối với một phụ nữ trẻ hay thẹn thùng và chẳng dám mạo hiểm như chị, nhưng chị đang ở trong một tâm thế lạ kỳ, sợ phải trở về nhà. Chiều nay, tất cả những suy tưởng đã bùng vỡ trong tâm trí chị.

Chị băng qua con đường rộng; bóng dáng gầy guộc, cô độc trong đêm tối. Như một quy tắc khi bước giữa dòng xe cộ, chị thường sợ hãi bám níu vào người đi cùng nhưng đêm nay chị một mình lao đi giữa dòng xe cộ. Lát sau, chị đến được công viên dài hẹp tiếp giáp hào Hoàng Thành. Công viên được gọi là Chidorigafuchi - Vực Ngàn Chim.

Đêm nay cả công viên trở thành một rừng anh đào hoa nở. Dưới bầu trời tĩnh lặng, mây phủ, hoa dồn tụ thành một màu trắng dày. Đèn lồng giấy treo trên các sợi dây giữa các cây anh đào đã tắt; thế chỗ chúng là những bóng đèn điện xanh, vàng, đỏ, mờ đục lấp lánh dưới hoa. Đã quá mười giờ và hầu hết những người đi xem hoa đã về nhà. Thi thoảng có người bước qua công viên, ngẫu hứng dùng chân đá chai rỗng hoặc vứt rác xuống đất.

Giấy báo, chị nghĩ, tâm trí lại bỗng quay về với những gì đã diễn ra. Những tờ giấy báo dính đầy máu. Nếu ai đó nghe được sự ra đời thảm thương ấy và biết rằng người nằm đó là mình, cả cuộc đời sẽ bị tàn huỷ. Nghĩ vậy mà mình, một người xa lạ hoàn toàn, từ đây trở về sau phải giữ lấy bí ẩn ấy, bí ẩn của toàn bộ sự tồn tại của một con người...

Chìm đắm trong những suy tư ấy, chị xuyên bước qua công viên. Hầu hết những người vẫn còn ở lại là những cặp trai gái lặng lẽ; chẳng ai chú ý đến chị. Chị nhận thấy hai người đang ngồi trên ghế đá cạnh hào, không ngắm hoa nhưng lặng yên liếc nhìn làn nước. Trời tối đen. Họ quấn lấy nhau trong vùng tối dày đặc. Bên kia hào, cánh rừng u buồn trong Hoàng Thành cản tầm nhìn của chị. Anh đào vươn lên, tạo thành những mảng tối dày đặc tựa vào trời đêm. Chị chậm bước dọc theo lối nhỏ dưới những cánh hoa đang treo nặng trịch trên đầu.

Trên một ghế đá nằm tách rời những chiếc khác, chị nhận thấy một vật nhợt nhạt, không phải là những chùm hoa anh đào như chị ngỡ, cũng không phải là áo quần của một vị khách đi chơi công viên bỏ quên. Chỉ khi đến gần hơn chị mới biết đó là một người đang nằm. Có phải, chị tự hỏi, là một ai đó say mèm thường thấy nằm ngủ ở những nơi công cộng? Rõ ràng là không, bởi thân hình được phủ giấy báo kỹ lưỡng và chính màu trắng của tờ báo ấy đã thu hút sự chú ý của chị. Đứng bên cạnh ghế, chị nhìn vào thân hình đang ngủ.

Người nằm đó là một người đàn ông mặc áo len chui cổ màu nâu đang cuộn người trong những lớp giấy báo. Rất có thể nằm ngủ như thế đã trở thành bình thường vì giờ xuân đã đến chị nhìn vào đầu tóc nhếch nhác, dơ bẩn mà đúng ra là rối bời trơ trọi. Quan sát hình người cuộn ngủ trong những tờ báo và không thể tránh khỏi, chị bị nhắc nhớ đến đứa bé nằm trên sàn nhà được gói bằng những tờ báo khốn khổ. Vai chiếc áo len chui cổ của người nằm đó trồi lên trụt xuống theo những hơi thở mạnh.

Với chị, dường như mọi sợ hãi, mọi linh cảm bỗng có hình hài cụ thể. Trong bóng đêm, cái trán nhợt nhạt của người nằm đó nổi trội lên và đó là trán của một người trẻ dù có nhiều nếp nhăn bởi khốn khó và nghèo đói lâu ngày. Chiếc quần kaki trễ nải; trên hai chân không bít tất, nó mang một đôi giày thể thao mòn vẹt. Chị không thể nhìn được mặt nó và chị bỗng có một khát khao không cưỡng lại được là được đắm nhìn khuôn mặt nó.

Chị bước tới đầu ghế và nhìn xuống. Đầu nó bị che một nửa dưới cánh tay nhưng chị có thể thấy rằng nó trẻ một cách không ngờ. Chị nhận thấy đôi lông mày rậm, sống mũi thẳng. Miệng nó mở khẽ, trông trẻ quá.

Nhưng chị đã đến quá gần. Trong đêm tĩnh lặng, giấy báo kêu sột soạt và nó đột ngột mở mắt. Thấy có người phụ nữ trẻ đứng ngay bên cạnh mình, nó đột nhiên bật dậy, mắt ngời lên. Một giây sau, bàn tay mạnh bạo đưa ra vồ lấy cổ tay nhỏ nhắn của chị.

Chị chẳng thấy sợ sệt và chẳng cố giải thoát cho mình. Ý nghĩ kia bỗng chợt đến. A, hai mươi năm đã trôi qua! Rừng Hoàng Thành tối đen như mực và tĩnh lặng vô cùng.

TRẦN NGỌC BIAN dịch
(Từ The International story, Nxb St Martin'Press,
            NewYork, 1994, Tr.132-136)

(178/12-03)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar  trong một gia đình nông dân  thuộc  tập đoàn sản  xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan  trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.

  • PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.

  • SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)

  • ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.

  • DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.

  • MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.

  • HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.

  • GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.

  • VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.

  • NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.

  • S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.

  • JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.

  • KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.

  • ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.

  • KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.

  • LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.

  • YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.

  • KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.

  • KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.