Tã lót

09:53 25/06/2009
MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.

Nhà văn Mishima Yukio

Chồng Toshiko luôn bận rộn. Ngay tối nay anh ta phải lao vào một cuộc hẹn, để chị một mình đi taxi về nhà. Nhưng người phụ nữ có thể trông đợi gì nữa khi lấy một người diễn viên - một nhân vật hấp dẫn - làm chồng? Rất có thể chị sẽ là ngốc nghếch khi hy vọng rằng sẽ có anh ta ở bên cạnh vào những chiều tối. Nhưng anh ta phải biết chị sợ hãi khi phải trở về nhà, căn nhà xa lạ với những tiện nghi kiểu Tây, với những yên tĩnh nhuốm máu phô trên sàn nhà.

Tính Toshiko mẫn cảm, từ thời con gái. Như là kết quả của những lo âu triền miên, chị chẳng bao giờ tăng cân và giờ đây, khi đã là người phụ nữ trưởng thành rồi mà chị trông như một bức vẽ trong suốt hơn là một sinh vật với máu, với thịt. Sự tinh tế trong tâm hồn của chị là dễ thấy đối với cả một người quen biết hờ hững nhất.

Chiều tối ấy, khi cùng chồng trong hộp đêm, chị ngỡ ngàng khi biết anh ta đùa cợt với bạn bè bằng hàng loạt những "chuyện phiếm". Anh ta ngồi trên cái ghế kiểu Mỹ, phì phào thuốc lá, dường là một người xa lạ với chị.

"Chuyện thú vị", anh ta nói, kiểu cách khoa trương như thể cố làm tăng thêm sự hấp dẫn của vũ đoàn, "đây là bảo mẫu mới cho đưa bé của chúng mình, cô ta đến từ trung tâm dịch vụ việc làm. Điều đầu tiên làm mình chú ý đến cô ta là cái dạ dày của cô ta. Nó khổng lồ, tưởng như có một cái gối mắc kẹt dưới kimono. Không sai, bởi mình thấy ngay là cô ta ăn nhiều còn hơn hai đứa chúng mình cộng lại. Cô ta vét sạch hũ gạo của chúng mình như thế này...". Anh ta bẻ ngón tay kêu rắc rắc. "Dạ dày thì giãn nở", đó là cách cô ta giải thích cái số đo eo và sự ngon miệng của mình. Và rồi, hôm kia chúng mình nghe có tiếng rên rỉ trong phòng bảo mẫu. Chúng mình chạy tới, thấy cô ta đang ngồi chồm hổm trên sàn nhà, hai tay giữ cái dạ dày và rên rỉ như một con bò. Em bé chúng mình nằm trên võng cạnh cô ta, sợ điếng rồi khóc ré lên. Có thể nói cảnh thiệt thảm!".

"Vậy là cái kim trong bọc đã lòi ra?", một người bạn cũng là diễn viên điện ảnh như chồng Toshiko nói.

"Đúng vậy! Nó làm mình bị sốc. Thử hỏi, mình hoàn toàn tin vào chuyện "dạ dày thì giãn nở". Sau đó, mình đã không mất thêm thời giờ. Mình giải cứu cho tấm thảm trên sàn nhà và lấy một cái mền trải ra cho cô ta nằm. Cô ta la hét như một con heo bị mắc kẹt. Lúc bác sĩ từ phòng khám sản khoa tới, đứa bé đã được sinh ra. Phòng khách chúng mình trở nên hỗn độn!".

"Ôi, mình chắc vậy mà!", một người bạn khác nói và cả nhóm cười phá lên.

Chị Toshiko chết điếng khi nghe chồng mình bàn tán về chuyện hãi hùng ấy mà chẳng khác nào đang tán gẫu về một chuyện buồn cười mà họ tình cờ chứng kiến. Chị thoáng mở to mắt và bỗng thấy đứa bé sơ sinh nằm trước mặt, trên sàn gỗ, thân thể yếu ớt được gói bằng những tờ báo dính đầy máu.

Toshiko chắc rằng bác sĩ đã làm mọi thứ vì ác ý. Như để nhấn mạnh sự khinh miệt đối với người mẹ sinh con hoang trong tình trạng nhớp nhúa ấy, anh ta đã bảo người giúp việc gói đứa bé bằng vài tờ báo sơ sài, thay vì phải quấn bằng tã lót. Sự đối xử nhẫn tâm đó đối với đứa bé sơ sinh đã xúc phạm chị Toshiko. Chị đi lấy một mảnh vải flannel trong tủ quần áo cho đứa bé và cẩn thận đặt bé lên ghế bành.

Chuyện chị quấn tã cho đứa bé diễn ra chiều tối ấy khi chồng chị đã rời nhà. Chị không nói gì với chồng về chuyện ấy vì sợ anh ta sẽ nghĩ chị mềm yếu, đa cảm; nhưng tình cảnh đó đã ghi sâu vào tâm trí chị. Đêm nay, chị lặng lẽ nghĩ về chuyện ấy trong tiếng kêu be be của dàn nhạc jazz, trong lúc chồng chị đang vui vẻ tán gẫu với bạn bè. Chị biết là chị sẽ không bao giờ quên được cảnh đứa bé bị gói trong vài tờ báo sơ sài để nằm trên sàn gỗ như cảnh tượng ở một lò mổ. Chị cả đời sống trông êm ấm vỗ về, đau xót cảm nhận sự khốn khó của đứa bé đẻ hoang.

Mình là người duy nhất chứng kiến nỗi thẹn của nó, ý nghĩ ấy chợt đến với chị. Người mẹ chẳng bao giờ thấy đứa con gói trong giấy báo nằm đó và đứa trẻ tất nhiên cũng chẳng biết. Mình sẽ phải một mình giữ gìn cảnh tượng ấy trong kí ức. Khi đứa bé lớn lên và muốn tìm biết sự sinh nở ra mình, sẽ chẳng có ai nói cho nó biết nếu mình giữ im lặng. Kì lạ sao, mình nên cảm thấy có tội! Sau cùng mình là người bế nó lên, kỹ lưỡng quấn cho nó tấm vải flannel và đặt nó xuống ngủ trên ghế bành.

Họ rời hộp đêm. Chị bước ra chiếc taxi chồng đã gọi cho. "Chở cô ấy về Ushigomé", anh ta nói với tài xế và từ phía ngoài đóng cửa lại. Chị liếc qua cửa xe nhìn khuôn mặt cười của chồng và ghi dấu hàm răng trắng khoẻ của anh ta. Rồi chị ngả người ra ghế, chìm đắm nhận biết rằng cuộc đời chị và chồng dù sao cũng quá dễ dàng, không chút trắc trở. Thật khó cho chị để làm cho những ý nghĩ phát thành lời. Qua cửa sau, chị nhìn chồng lần cuối. Anh ta đang sải bước dọc theo con đường, hướng về phía chiếc Nash. Lưng chiếc áo khoác vải tuýt khá sặc sỡ của anh ta dần nhoà trong những hình ảnh những người qua đường.

Chiếc taxi vù chạy, qua một con đường lấm chấm những quán bar rồi qua một nhà hát. Trước nhà hát, đám đông người đang chen lấn nhau trên vỉa hè. Mặc dù buổi biểu diễn chỉ vừa mới kết thúc mà đèn đã được bật lên và trong nửa tối bên ngoài, rõ mồn một cách đáng buồn là hoa anh đào dùng trang điểm tiền sảnh nhà hát chỉ là những mẩu giấy trắng.

Cả khi đứa bé lớn lên vì lãng quên đi chuyện sinh nở, nó cũng chẳng bao giờ có thể trở thành một công dân đáng trọng, chị ngẫm nghĩ và đuổi theo dòng chảy những suy tư. Tã lót là những tờ báo dơ bẩn sẽ là biểu tượng cho cả cuộc đời nó. Nhưng tại sao mình phải lo lắng cho nó nhiều như thế? Có phải vì cảm thấy bất an cho tương lai của chính em bé của mình? Giả sử hai mươi năm sau, khi bé trai của mình đã lớn, thành một chàng trai đẹp đẽ, được giáo dục cẩn thận và một ngày nọ, bởi sự tình cờ của số mệnh, nó gặp bé trai kia, khi ấy tuổi cũng đã hai mươi, phạm tội và dã man đâm nó bằng một nhát dao...

Đêm tháng tư trời mù, ấm nhưng những suy nghĩ về ngày mai làm cho chị thấy lạnh lẽo, khốn đốn. Trên ghế sau, chị run lên.

Không, khi thời khắc ấy đến, mình sẽ thế chỗ cho con trai mình, chị bỗng độc thoại. Hai mươi năm nữa, mình sẽ bốn ba. Mình sẽ đến gặp chàng trai trẻ ấy và nói thẳng ra hết về mọi thứ, về tã lót là những tờ báo, về chuyện mình đã đến và quấn tã flannel cho nó như thế nào.

Chiếc taxi chạy dọc theo một con đường tôië, rộng thênh tiếp giáp với công viên và hào Hoàng Thành. Từ xa chị thấy những tia sáng đèn chiếu xuống từ những cao ốc văn phòng.

Hai mươi năm nữa, đứa bé khốn khổ ấy sẽ chìm ngập trong những bất hạnh cùng cực. Nó sẽ sống trong chán chường, tuyệt vọng và nghèo đói. Một con chuột cô độc. Điều gì nữa có thể sẽ đến với một em bé được sinh ra trong hoàn cảnh đó? Nó sẽ lang thang qua những con đường, chửi bới cha nó, nguyền rủa mẹ nó.

Rất có thể chị nhận được sự toại nguyện từ những ý nghĩ đau buồn: Với chúng, chị không thôi hành hạ chính mình. Chiếc taxi đến Hanramon và chạy qua khu sứ quán Anh. Ở nơi đó những hàng cây anh đào vang danh choàng ra trước mặt chị bằng tất cả sự thanh mảnh của chúng. Với những thôi thúc từ bên trong, chị quyết định đi ngắm hoa một mình trong công viên tối. Đó là một quyết định lạ đối với một phụ nữ trẻ hay thẹn thùng và chẳng dám mạo hiểm như chị, nhưng chị đang ở trong một tâm thế lạ kỳ, sợ phải trở về nhà. Chiều nay, tất cả những suy tưởng đã bùng vỡ trong tâm trí chị.

Chị băng qua con đường rộng; bóng dáng gầy guộc, cô độc trong đêm tối. Như một quy tắc khi bước giữa dòng xe cộ, chị thường sợ hãi bám níu vào người đi cùng nhưng đêm nay chị một mình lao đi giữa dòng xe cộ. Lát sau, chị đến được công viên dài hẹp tiếp giáp hào Hoàng Thành. Công viên được gọi là Chidorigafuchi - Vực Ngàn Chim.

Đêm nay cả công viên trở thành một rừng anh đào hoa nở. Dưới bầu trời tĩnh lặng, mây phủ, hoa dồn tụ thành một màu trắng dày. Đèn lồng giấy treo trên các sợi dây giữa các cây anh đào đã tắt; thế chỗ chúng là những bóng đèn điện xanh, vàng, đỏ, mờ đục lấp lánh dưới hoa. Đã quá mười giờ và hầu hết những người đi xem hoa đã về nhà. Thi thoảng có người bước qua công viên, ngẫu hứng dùng chân đá chai rỗng hoặc vứt rác xuống đất.

Giấy báo, chị nghĩ, tâm trí lại bỗng quay về với những gì đã diễn ra. Những tờ giấy báo dính đầy máu. Nếu ai đó nghe được sự ra đời thảm thương ấy và biết rằng người nằm đó là mình, cả cuộc đời sẽ bị tàn huỷ. Nghĩ vậy mà mình, một người xa lạ hoàn toàn, từ đây trở về sau phải giữ lấy bí ẩn ấy, bí ẩn của toàn bộ sự tồn tại của một con người...

Chìm đắm trong những suy tư ấy, chị xuyên bước qua công viên. Hầu hết những người vẫn còn ở lại là những cặp trai gái lặng lẽ; chẳng ai chú ý đến chị. Chị nhận thấy hai người đang ngồi trên ghế đá cạnh hào, không ngắm hoa nhưng lặng yên liếc nhìn làn nước. Trời tối đen. Họ quấn lấy nhau trong vùng tối dày đặc. Bên kia hào, cánh rừng u buồn trong Hoàng Thành cản tầm nhìn của chị. Anh đào vươn lên, tạo thành những mảng tối dày đặc tựa vào trời đêm. Chị chậm bước dọc theo lối nhỏ dưới những cánh hoa đang treo nặng trịch trên đầu.

Trên một ghế đá nằm tách rời những chiếc khác, chị nhận thấy một vật nhợt nhạt, không phải là những chùm hoa anh đào như chị ngỡ, cũng không phải là áo quần của một vị khách đi chơi công viên bỏ quên. Chỉ khi đến gần hơn chị mới biết đó là một người đang nằm. Có phải, chị tự hỏi, là một ai đó say mèm thường thấy nằm ngủ ở những nơi công cộng? Rõ ràng là không, bởi thân hình được phủ giấy báo kỹ lưỡng và chính màu trắng của tờ báo ấy đã thu hút sự chú ý của chị. Đứng bên cạnh ghế, chị nhìn vào thân hình đang ngủ.

Người nằm đó là một người đàn ông mặc áo len chui cổ màu nâu đang cuộn người trong những lớp giấy báo. Rất có thể nằm ngủ như thế đã trở thành bình thường vì giờ xuân đã đến chị nhìn vào đầu tóc nhếch nhác, dơ bẩn mà đúng ra là rối bời trơ trọi. Quan sát hình người cuộn ngủ trong những tờ báo và không thể tránh khỏi, chị bị nhắc nhớ đến đứa bé nằm trên sàn nhà được gói bằng những tờ báo khốn khổ. Vai chiếc áo len chui cổ của người nằm đó trồi lên trụt xuống theo những hơi thở mạnh.

Với chị, dường như mọi sợ hãi, mọi linh cảm bỗng có hình hài cụ thể. Trong bóng đêm, cái trán nhợt nhạt của người nằm đó nổi trội lên và đó là trán của một người trẻ dù có nhiều nếp nhăn bởi khốn khó và nghèo đói lâu ngày. Chiếc quần kaki trễ nải; trên hai chân không bít tất, nó mang một đôi giày thể thao mòn vẹt. Chị không thể nhìn được mặt nó và chị bỗng có một khát khao không cưỡng lại được là được đắm nhìn khuôn mặt nó.

Chị bước tới đầu ghế và nhìn xuống. Đầu nó bị che một nửa dưới cánh tay nhưng chị có thể thấy rằng nó trẻ một cách không ngờ. Chị nhận thấy đôi lông mày rậm, sống mũi thẳng. Miệng nó mở khẽ, trông trẻ quá.

Nhưng chị đã đến quá gần. Trong đêm tĩnh lặng, giấy báo kêu sột soạt và nó đột ngột mở mắt. Thấy có người phụ nữ trẻ đứng ngay bên cạnh mình, nó đột nhiên bật dậy, mắt ngời lên. Một giây sau, bàn tay mạnh bạo đưa ra vồ lấy cổ tay nhỏ nhắn của chị.

Chị chẳng thấy sợ sệt và chẳng cố giải thoát cho mình. Ý nghĩ kia bỗng chợt đến. A, hai mươi năm đã trôi qua! Rừng Hoàng Thành tối đen như mực và tĩnh lặng vô cùng.

TRẦN NGỌC BIAN dịch
(Từ The International story, Nxb St Martin'Press,
            NewYork, 1994, Tr.132-136)

(178/12-03)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • SINCLAIR LEWISLGT: SINCLAIR LEWIS (1885 - 1951, giải thưởng Nobel 1930)Ông là tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn có tiếng và nhà viết phê bình có uy tín ở Mỹ.

  • BRUNO LESSINGLGT: Bruno Lessing (1870-1940) sinh tại New York, Mỹ. Tên thật của ông là Rudolp Block nhưng ông nổi tiếng với tư cách là nhà văn chuyên viết truyện ngắn dưới bút danh Bruno Lessing. Ông là phóng viên và sau đó là biên tập viên cho nhiều tờ báo. Mô tả của Lessing về cuộc sống của người Do Thái ở New York được đánh giá cao. Truyện dưới đây được dẫn dắt một cách hấp dẫn, lý thú, làm nổi bật mối quan hệ giữa hai thế hệ: cha và con, vấn đề nhập cư, đồng hóa hay giữ bản sắc văn hóa với một giọng điệu dí dỏm.

  • JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).

  • KAWABATA YASUNARI LGT: KAWABATA YASUNARI (1899 - 1972) là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản đoạt giải thưởng Nobel văn chương (1968). Ông nổi tiếng thế giới với những tiểu thuyết như: Xứ Tuyết (1935 - 1947), Ngàn cánh hạc (1949), Tiếng rền của núi (1950), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962)...

  • MATVEEVA ANNALGT: MATVEEVA ANNA (Sinh 1975) là một nhà văn nữ trẻ của văn học Nga đương đại tài năng đầy hứa hẹn. Đã xuất bản một số tập truyện ngắn. Truyện ngắn của cô đã được đăng trong các tạp chí lớn của Nga như Thế giới mới, Tháng Mười. Văn xuôi của cô hóm hỉnh, thể hiện sự tò mò sắc sảo trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của cô được xem như thể hiện một số sắc thái và đặc điểm của văn xuôi hậu hiện đại Nga hiện nay. Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Con chó” dưới đây của nữ văn sĩ qua bản dịch của nữ dịch giả Đào Tuấn Ảnh.

  • YVELINE FÉRAYLTS: Monsieur le paresseux là cuốn tiểu thuyết lịch sử dày gần 300 trang của nữ văn sỹ Pháp Yveline Féray viết về Đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris ấn hành năm 2000. Trước đó, năm 1989 nữ văn sỹ này đã cho xuất bản ở Pháp cuốn tiểu thuyết dày 1000 trang Dix mille printemps, viết về Nguyễn Trãi - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV.

  • MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!

  • AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.

  • HERMANN HESSE Tương truyền thi nhân người Tàu tên Han Fook thuở thiếu thời chỉ thao thức với một khát khao kỳ diệu là muốn học hết mọi điều và tự rèn luyện mình đến hoàn hảo trong tất cả các môn liên quan đến nghệ thuật thi ca.

  • OLGA TOKARCZUK (Nữ nhà văn Ba Lan)LGT: Nữ văn sĩ Ba Lan Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan. Bà là nhà văn “hậu hiện đại” và “nữ quyền”. Năm 1979  những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng tải trên Tạp chí Thanh niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí “Rađa” và “Đời sống văn học”.

  • NADINE GORDIMER ( Phi), Giải Nobel 1991LGT: Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Phi cấm đoán. N.Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.

  • OLGA TOKARCZUKLGT: Trong số tháng 3 – 2007 (217), Sông Hương đã giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh” của OLGA TOKARCZUK, một nữ văn sĩ thuộc dòng văn học nữ “hậu hiện đại Ba Lan”. Số báo này, Sông Hương xin giới thiệu tiếp truyện ngắn “Vũ nữ”. Đây là một truyện ngắn độc đáo dựa trên một leimotic “cuộc đối thoại vô hình” giữa người con gái và người cha, láy đi láy lại đến 6 lần, thể hiện cuộc chiến đấu âm thầm dữ dội, tự khẳng định mình trong nghệ thuật, chống lại sức mạnh ám ảnh của mặc cảm “bất tài”.

  • BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.

  • RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

  • ZACE HAMMERTON (Anh quốc)LGT: Truyện dựng chân dung của một kẻ “Sính khiếu nại” “một cách hài hước, bố của John Peters có “Thú đam mê sưu tập tem”. Cách dẫn chuyện tài tình ở cái chi tiết sự ham mê của anh với một loại tem đặc biệt không đục lỗ chiếu ứng với cái kết bất ngờ của truyện “Có của rơi vào tay mà để vuột mất”. Mời bạn đọc thưởng thức.

  • TOIVO TOOTSEN ( )LGT: Đây là một truyện hài hước thú vị về nạn kẹt xe. Tác giả đã sử dụng một thủ pháp phóng đại đến mức vô lý, không tưởng: một vụ kẹt xe bất tận từ đám cưới đến sinh con, ly dị, tái kết hôn, con vào đại học và kết hôn mà cuộc kẹt xe vẫn chưa kết thúc!. Mượn một tình huống kẹt xe “hoang tưởng” này, nhà văn muốn gởi tới một thông điệp hài hước một cách bi đát: nếu giao thông ở các đô thị lớn không ở các đô thị lớn không được tổ chức một cách khoa học thì từ đời cha đến đời con nạn kẹt xe vẫn chưa được giải quyết.                                                                                                                 TSCH

  • JAMES JOYCELGT: James Joyce (1882 - 1941) là một trong những khuôn mặt lớn nhất của văn xuôi Anh - Ailen và châu Âu thế kỷ XX. Ông “là nhân vật trung tâm của văn xuôi hiện đại”, một trong những nhà văn có ảnh hưởng lớn nhất, gây phản ứng mạnh nhất, “một trong những thần tượng của thời đại” đối với văn nghệ sĩ trẻ và giới trí thức châu Âu đương thời.

  • A THÀNH L.T.S: "Vua cờ" (Kỳ vương) được đăng lần đầu trên tạp chí "Thượng hải văn học" năm 1984. Vừa xuất hiện, "Vua cờ" đã chấn động văn đàn, liên tiếp nhận được nhiều giải thưởng "Trung thiên tiểu thuyết ưu tú" ở cấp tỉnh và trung ương ở Trung Quốc. Tác giả A Thành tên thật là Chung A Thành sinh năm 1949 ở Tứ Xuyên. Đây là tác phẩm đầu tay của ông. Do khuôn khổ tờ báo, chúng tôi không thể in trọn tác phẩm nổi tiếng này khoảng gần 100 trang sách. Dưới đây là chương IV, chương cuối cùng của "Vua cờ".

  • ROBERT SWINDELLS (ANH)Nếu thế giới này bằng phẳng và nếu bạn có thể nhìn thẳng vào mặt trời đang mọc, bạn sẽ nhìn thấy miền đất nơi Nick và Bruin sinh sống. Nơi ban ngày ẩm nhoẹt còn ban đêm thì ngột ngạt ghê người, nơi mặt trời lên như kẻ thù và gió như muốn bốc cháy.

  • ALEXANDER VAMPILOV (NGA)Nikolai Nikolaevich Smirnov tin chắc là ông không sống được đến mùa xuân sang năm.